nhuộm, thêu đan, tiền cổ, bản in, bản rập lại, thẻ gỗ v.v... Số vật phẩm có được trong lần thám hiểm thứ nhất, phần nhiều khai quật ở các di tích chùa Phật xung quanh Kucha; còn lần thám hiểm thứ hai, thứ ba thì lấy Turfan làm trung tâm, những văn hiến, sử vật và những vật quí khác do người dân đào ở Đôn Hoàng, Lop Nor, Vu-điền và Kucha. Sách “Tây Vực khảo cổ đồ phổ” xuất bản năm 1915, sách “Tân Tây Vực ký” xuất bản năm 1935, trong đó là tổng báo cáo thành tích thám hiểm Tây Vực. Do những sử liệu phong phú thu hoạch được ở các cuộc thám hiểm Tây Vực, khiến cho học giả Nhật Bản thay đổi xu hướng nghiên cứu lịch sử. Cho nên 70 năm gần đây, các nhà sử học Phật giáo Nhật Bản viết rất nhiều luận văn nghiên cứu chuyên đề về lịch sử Trung Á và mối quan hệ với lịch sử Tây Vực, không thể kể hết được! Những bài viết ấy không riêng vấn đề nghiên cứu lịch sử Phật giáo Trung Á, mà còn phóng ra một luồng ánh sáng cho lịch sử Phật giáo thế giới tăng thêm những trang sử huy hoàng.
V. VĂN HIẾN NGÔN NGỮ TÂY VỰC CỔ ĐẠI THU HOẠCH TẠI TRUNG Á
Những văn hiến mà đội thám hiểm Đại cốc thu hoạch được ở Trung Á đều có liên quan đến ngôn ngữ cổ đại Tây Vực, đó là những mảnh kinh Phật chủ yếu bằng ngôn ngữ Phạn, Tukhara (Đổ-hoá-la, Tocharian),17 Vu-điền, Qui-tư, Thổ-nhĩ-kỳ cổ ngữ, Sogdian (Túc-đặc), và Tây Hạ ngữ.18 Căn cứ vào chúng mà chỉnh lý báo cáo lại:
17 Tukhara ngữ: Xem cht. 75, tr. 74.
18 Tây Hạ ngữ 西夏語: Ngôn ngữ của dân tộc ít người kiến lập ở vùng Tây bắc Trung Quốc, cùng tồn tại với Bắc Tống. Năm 1032, Lý Nguyên Hạo thuộc tộc Đảng Hạng xưng đế, quốc hiệu Đại Hạ, đóng đô ở phủ Hưng Khánh (nay thuộc tỉnh Ninh Hạ), sử gọi là Tây Hạ.
1. Phương diện Phật điển Phạn văn:
a) Tây Vực khảo cổ đồ phổ (sách hình ảnh khảo cổ Tây Vực) hai bộ, xuất bản năm Đại Chính thứ 4 (năm 1915).
b) Nhị lạc tòng thư 4 quyển, Quất Thụy Siêu biên soạn, xuất bản năm đầu đến năm thứ 2 niên hiệu Đại Chính (năm 1912-1913).
c) Tây Vực di vật tả chân tập (tập chân dung di vật Tây Vực) do nhà bảo tàng Tổng đốc phủ Triều Tiên biên soạn, xuất bản năm Chiêu Hòa thứ 9 (năm 1934).
d) Lữ Thuận bác vật quán đồ lục (ghi chép hình ảnh ở nhà bảo tàng Lữ Thuận) 1 quyển, do Quan đông cục biên soạn, xuất bản năm Chiêu Hoà thứ 8 (năm 1933).
e) Lữ Thuận bác vật quán khảo cổ đồ lục (ghi chép hình ảnh khảo cổ ở nhà bảo tàng Lữ Thuận) 1 quyển, Chiêu Hòa năm thứ 10 (năm 1935).
f) Tân Tây Vực ký 2 quyển, do Thượng Nguyên Phương Thái Lang biên soạn, xuất bản năm Chiêu Hòa thứ 12 (năm 1937).
Tác phẩm Tân Tây Vực ký là y theo những ghi chép trong nhật ký của các đội viên thám hiểm mà biên tập thành. Nhờ đó mới có thể biết hoàn cảnh gian khổ của những người vào các vùng đất Tây Vực khai quật, điều tra. Những tư liệu đã thu hoạch được, không luận phương diện lượng hay chất đều quí giá và khiến mọi người kinh ngạc. Những văn hiến có liên quan đến kinh điển Phật giáo trong ba lần thu hoạch đều khác nhau. Những văn hiến thu hoạch lần thám hiểm thứ nhất (năm 1902-1904), phần lớn đều liệt kê trong “Tây Vực khảo cổ đồ phổ”, mà trong 33 điểm những mảnh rời loại ngôn ngữ cổ đại quan hệ Tây Vực, liên quan đến tư liệu Phạn văn, tính ra có: