Tìm kinh sách
Vần A-Z:
Nghiên cứu Phật Giáo Tây Vực

Nghiên cứu Phật Giáo Tây Vực

Tác giả: Cư sĩ Tuệ Khai, Phụ chú: Thích Tâm Nhãn. Dịch giả: Cư sĩ Tuệ Khai, Phụ chú: Thích Tâm Nhãn. Năm xuất bản: 2011. Số trang: 604.

Chương 19: V. Văn Hiến Ngôn Ngữ Tây Vực Cổ Đại (Trang 150 - 155)

nhuộm, thêu đan, tiền cổ, bản in, bản rập lại, thẻ gỗ v.v... Số vật phẩm có được trong lần thám hiểm thứ nhất, phần nhiều khai quật ở các di tích chùa Phật xung quanh Kucha; còn lần thám hiểm thứ hai, thứ ba thì lấy Turfan làm trung tâm, những văn hiến, sử vật và những vật quí khác do người dân đào ở Đôn Hoàng, Lop Nor, Vu-điền và Kucha. Sách “Tây Vực khảo cổ đồ phổ” xuất bản năm 1915, sách “Tân Tây Vực ký” xuất bản năm 1935, trong đó là tổng báo cáo thành tích thám hiểm Tây Vực. Do những sử liệu phong phú thu hoạch được ở các cuộc thám hiểm Tây Vực, khiến cho học giả Nhật Bản thay đổi xu hướng nghiên cứu lịch sử. Cho nên 70 năm gần đây, các nhà sử học Phật giáo Nhật Bản viết rất nhiều luận văn nghiên cứu chuyên đề về lịch sử Trung Á và mối quan hệ với lịch sử Tây Vực, không thể kể hết được! Những bài viết ấy không riêng vấn đề nghiên cứu lịch sử Phật giáo Trung Á, mà còn phóng ra một luồng ánh sáng cho lịch sử Phật giáo thế giới tăng thêm những trang sử huy hoàng.
V. VĂN HIẾN NGÔN NGỮ TÂY VỰC CỔ ĐẠI THU HOẠCH TẠI TRUNG Á
Những văn hiến mà đội thám hiểm Đại cốc thu hoạch được ở Trung Á đều có liên quan đến ngôn ngữ cổ đại Tây Vực, đó là những mảnh kinh Phật chủ yếu bằng ngôn ngữ Phạn, Tukhara (Đổ-hoá-la, Tocharian),17 Vu-điền, Qui-tư, Thổ-nhĩ-kỳ cổ ngữ, Sogdian (Túc-đặc), và Tây Hạ ngữ.18 Căn cứ vào chúng mà chỉnh lý báo cáo lại:
 

17 Tukhara ngữ: Xem cht. 75, tr. 74.
18 Tây Hạ ngữ 西夏語: Ngôn ngữ của dân tộc ít người kiến lập ở vùng Tây bắc Trung Quốc, cùng tồn tại với Bắc Tống. Năm 1032, Lý Nguyên Hạo thuộc tộc Đảng Hạng xưng đế, quốc hiệu Đại Hạ, đóng đô ở phủ Hưng Khánh (nay thuộc tỉnh Ninh Hạ), sử gọi là Tây Hạ.
 
1. Phương diện Phật điển Phạn văn:
a) Tây Vực khảo cổ đồ phổ (sách hình ảnh khảo cổ Tây Vực) hai bộ, xuất bản năm Đại Chính thứ 4 (năm 1915).
b) Nhị lạc tòng thư 4 quyển, Quất Thụy Siêu biên soạn, xuất bản năm đầu đến năm thứ 2 niên hiệu Đại Chính (năm 1912-1913).    
c) Tây Vực di vật tả chân tập (tập chân dung di vật Tây Vực) do nhà bảo tàng Tổng đốc phủ Triều Tiên biên soạn, xuất bản năm Chiêu Hòa thứ 9 (năm 1934).
d) Lữ Thuận bác vật quán đồ lục (ghi chép hình ảnh ở nhà bảo tàng Lữ Thuận) 1 quyển, do Quan đông cục biên soạn, xuất bản năm Chiêu Hoà thứ 8 (năm 1933).
e) Lữ Thuận bác vật quán khảo cổ đồ lục (ghi chép hình ảnh khảo cổ ở nhà bảo tàng Lữ Thuận) 1 quyển, Chiêu Hòa năm thứ 10 (năm 1935).
f) Tân Tây Vực ký 2 quyển, do Thượng Nguyên Phương Thái Lang biên soạn, xuất bản năm Chiêu Hòa thứ 12 (năm 1937).
Tác phẩm Tân Tây Vực ký là y theo những ghi chép trong nhật ký của các đội viên thám hiểm mà biên tập thành. Nhờ đó mới có thể biết hoàn cảnh gian khổ của những người vào các vùng đất Tây Vực khai quật, điều tra. Những tư liệu đã thu hoạch được, không luận phương diện lượng hay chất đều quí giá và khiến mọi người kinh ngạc. Những văn hiến có liên quan đến kinh điển Phật giáo trong ba lần thu hoạch đều khác nhau. Những văn hiến thu hoạch lần thám hiểm thứ nhất (năm 1902-1904), phần lớn đều liệt kê trong “Tây Vực khảo cổ đồ phổ”, mà trong 33 điểm những mảnh rời loại ngôn ngữ cổ đại quan hệ Tây Vực, liên quan đến tư liệu Phạn văn, tính ra có:
a) Mảnh kinh Phật Phạn văn (Khotan) 1 điểm.
b) Mảnh kinh Phật Phạn văn (Kucha) 3 điểm.
c) Mảnh kinh Phật Phạn văn (Khotan) 1 điểm.    
d) Mảnh kinh Phật Phạn văn (Thổ-cốc-hồn)19 2 điểm.
e) Mảnh kinh Phật Phạn văn (Khotan) 1 điểm.    
f) Mảnh kinh Phật Phạn văn (Khotan) 1 điểm.
g) Mảnh kinh Phật Phạn văn (Khố-xa-thổ-lạt) 1 điểm.
h) Đối chiếu Phạn ngữ, Tukhara ngữ (Kucha) 1 điểm.
Tổng kết những điểm nêu trên, tức là bốn điểm khai quật ở Khotan, bốn điểm khai quật ở Kucha, hai điểm khai quật ở Thổ-cốc-hồn (Tuyuhun), một điểm khai quật ở Khố-xa-thổ-lạt (Kumtora), tổng cộng là 11 điểm.
Cuộc thám hiểm lần thứ 2 (năm 1908-1909), trong nhật ký lữ hành qua Mông Cổ, Tân Cương, ông Dã Thôn Vinh Tam Lang đã ghi, trong những vật phẩm khai quật phát hiện ở vùng Thổ-cốc-hồn, gần Kucha, ngoài tượng điêu khắc, tranh tường, những khí cụ v.v..., còn có mục lục văn thư cổ khai quật ở Turfan, gần Kucha, tổng cộng có 84 điểm theo chủng loại văn thư, số trang, số hàng, số chữ, hoàn chỉnh và không hoàn chỉnh, phân loại hạng mục trong ấy là:
a) Kinh văn chữ Hán là 29 điểm, trong ấy có hai điểm ghi chép bằng văn tự Tây Vực.
b) Văn tự Tây Vực là 55 điểm, trong ấy văn Tây Vực viết trên mảnh gỗ là 22 điểm.
 

19 Thổ-cốc-hồn 吐谷渾: Bộ tộc ở Tây bắc thời cổ đại, chi nhánh họ Mộ Dung của tộc Tiên Ti ở Liêu Đông. Tổ tiên họ cư trú ở Thanh Sơn nay thuộc tỉnh Liêu Ninh.
 
Cuộc thám hiểm lần thứ 3 (1911-1914), người tham gia là ông Cát Xuyên Tiểu Nhất Lang, nhật ký “Chi-na ký hành” của ông đã ghi, từ trong ngôi chùa sập cách 40 dặm về phía Bắc Kucha, khai quật được những mảnh trang trí, có miếng kinh chữ Phạn bị cả khối đất đè ép làm hư hoại. Ông mang luôn cả khối đất về, đây là một mảnh rời vỏ cây Hoa. Thám hiểm xong, đem những tư liệu thu hoạch gom lại ở Lục giáp nhị lạc trang, nghiên cứu chỉnh lý thêm, rồi phân ra cất giữ ở nhà bảo tàng Triều Tiên Tổng đốc phủ và nhà bảo tàng Quang Đông, Lữ Thuận.
Từ đây có thể biết, nội dung ấy rất phong phú: Trước là lấy tượng Phật, hội họa, bích họa làm chủ, có 705 điểm liên quan từ mỹ thuật văn vật, phong tục tập quán dân tộc, đào được ở các di tích Phật giáo, tháp cổ, mộ phần cổ v.v... Tiếp theo là lấy Phật điển Hán dịch làm chủ, như kinh Pháp hoa, Bát-nhã, Niết-bàn v.v.... thuộc về loại Phật điển kinh, luật, luận gồm 408 quyển; kinh Tây Vực gồm 209 quyển, kinh, hội họa v.v.... những mảnh rời v.v.... 4 điểm; những thứ khác như văn thư cổ, tượng Phật, tháp cổ, tiền cổ, những mảnh loại khí cụ v.v.... 72 điểm.
2. Phật điển ngôn ngữ cổ đại Tây Vực:
a) Tukhara ngữ, tức là ngôn ngữ Đại Nguyệt Thị, Phật điển được viết bằng ngôn ngữ này phần nhiều phát hiện ở Turfan và Kucha, phía Bắc lòng chảo Tarim. Các học giả khảo đính xác nhận ngôn ngữ Tukhara thuộc ngữ hệ châu Âu. Họ lại phân Tukhara ngữ ra làm hai thứ A và B. Ngữ văn loại A lưu hành xưa hơn, lưu hành ở con đường phía Bắc núi Thiên Sơn, là ngôn ngữ sử dụng thích hợp những vùng đất Yên Kỳ,20 Qui-tư
 

20 Yên Kỳ 焉耆: Một trong những nước ở Tây Vực thời Hán. Hiện nay là huyện Yên Kỳ tỉnh Tân Cương.
 
v.v.... Ngữ văn loại B lưu hành ở miền trung và miền nam Tân Cương. Giáo thọ S. Lévi lại cải đổi ngôn ngữ Tukhara loại A là Yên Kỳ ngữ, Tukhara loại B là Qui-tư ngữ.
b) Sogdinia ngữ, là ngôn ngữ sử dụng của dân tộc Khương Cư. Sogdinia ngữ là thứ ngôn ngữ sử dụng thời cổ đại ở lưu vực sông Phược-sô21 và Bactria.22 Phật điển bằng ngữ văn Sogdinia phần nhiều tìm thấy từ Lop Nor đến đường xưa Đôn Hoàng, qua sự khảo đính của học giả là văn tự đầu thế kỷ thứ IV.
c) Ba-tư ngữ (Pehlevi), tức ngôn ngữ Đột-quyết xưa, hoặc là Tây-nhĩ cổ ngữ, Hồi Cốt ngữ, An Tức ngữ, đều thuộc ngữ hệ Iran. Kinh Phật viết loại ngữ văn này đều tìm thấy ở miền Nam lòng chảo Tarim.
d) Phật điển văn Tây Hạ phần nhiều khai quật ở Đôn Hoàng và Thổ-cốc-hồn. Nói về văn tự Tây Hạ: Nước Tây Hạ kiến lập vào đời Tống, do người Đảng Hạng dân tộc Tây Tạng kiến lập. Cuối đời Đường, thủ lĩnh Đảng Hạng là Thác-bạt-tư-cung tham gia thảo phạt Hoàng Vinh, có công được nhà Đường phong là Hạ quốc công, ban cho họ Lý. Con cháu ông tiếp nhau thế tập (con được tiếp nhận chức tước của cha), trụ ở Hạ Châu (Ordos ngày nay). Thời Tống Thái Tông, Lý Kế của nước Hạ còn vào triều cống. Năm Ung Hi thứ 3, em ông ấy là Kế Thiên (Võ Tông) theo kế sách nước Liêu là Hạ Vương, phản Tống tự lập. Đến con của Kế Thiên là Triệu Đức Minh (Thái Tông) lại cùng Tống giao hảo. Con Triệu Đức Minh là Triệu Nguyên Hạo (Cảnh Tông), ông có hùng
 

21 Sông Phược-sô: Xem cht. 19, tr. 20.
22 Bactria, một nước thời xưa, cũng gọi “Vương quốc Hy Lạp-Bactria” (Graeco-Bactria Kingdom), vị trí giữa sông Amu Darya và núi Hindu Kush. Hiện nay ở phía Bắc Afghanistan.
 
chí đại lược, trước phá tan Hồi Cốt, đoạt lấy Cam Châu. Năm đầu niên hiệu Minh Đạo nhà Tống, ông nối nghiệp cha làm quốc chủ, lại đoạt luôn ba châu: Qua, Sa, Túc. Năm đầu niên hiệu Bảo Nguyên, ông tự xưng là Đại Hạ hoàng đế, lấy Hưng Khánh (phủ Ninh Hạ, Ninh Tráng ngày nay) làm quốc đô, đó là thời cực thịnh của lịch sử văn hiến.
Đến năm Bảo Khánh thứ 3 thời Nam Tống, nước ấy bị Thành-cát-tư-hãn diệt, từ Nguyên Hạo xưng đế trải qua mười đời quốc chủ, gồm 190 năm thì mất. Nước Tây Hạ phụng hành Phật giáo và có Đại tạng kinh văn Tây Hạ. Hiện nay nước Tây Hạ tuy đã mất nhưng những tác phẩm văn Tây Hạ còn lại rất nhiều. Trong số đó, cái làm cho người ta chú ý đầu tiên chính là vách tường bên trong ngôi tháp trên đường đi qua Cư Dung Quan23 tỉnh Hà Bắc, có khắc kinh “Phật đỉnh tôn thắng đà-la-ni”, “Phật đỉnh phóng vô cấu quang minh nhập phổ môn quan sát nhất thiết Như Lai tâm đà-la-ni” bằng văn tự Tây Hạ và văn tự các nước Phạn, Hán, Mông Cổ, Hồi Cốt, Tây Tạng v.v... Những kinh ấy được khắc vào năm Chí Chánh thứ 5. Từ năm 1908 đến năm tiếp theo, ông P. E. Eozlov người Nga đã phát hiện di tích Hắc thành (Bara Bhoto) của Tây Hạ ở Trương Dịch,24 rồi khai quật phát hiện vài mươi hòm kinh sách đều văn chữ nước Tây Hạ. Trong ấy có một quyển dịch đối chiếu Tây Hạ ngữ và Hán ngữ, ước chừng 50 tờ, tên là Chưởng trung châu (Ngọc trong bàn tay), đều được cất giữ ở nhà bảo tàng Nhân chủng thuộc trường
 

23 Cư Dung Quan 居庸關: Cửa (cổng) Cư Dung. Cư Dung là tên hòn núi, do hai núi dựng đứng hợp lại, tạo thành cửa đi qua nên gọi Cư Dung Quan, tại huyện Xương Bình tỉnh Hà Bắc. 
24 Trương Dịch 張掖: Hiện nay ở phía Tây bắc huyện Võ Oai tỉnh Cam Túc, cũng là nơi giao thông then chốt các tỉnh Cam Túc, Ninh Hạ, Thanh Hải.
 
/75
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
🙏 Trợ Lý Phật Pháp AI »