của đức Phật Thích-ca Mâu-ni, dài hơn hai trượng. Vua Văn Thành thẩm xét chiếc áo Phật đó có đúng là linh dị không liền đem đốt để kiểm chứng hư thực, đặt áo ở trên lửa mạnh suốt cả ngày mà chẳng cháy, người xem ai cũng kinh ngạc, thân tâm đều kính phục.” Nước Tiểu Nguyệt Thị “có tháp Phật chu vi 350 bộ, cao 80 trượng”; nước Chu Cư “đều thờ Phật, ngôn ngữ giống với Vu-điền” v.v... Từ đây chúng ta có thể thấy được sự thịnh hành và sùng tín Phật giáo ở các nước Tây Vực. Nhưng điều quan trọng lúc ấy là việc các vị sư phiên dịch kinh điển đi về Đông (Trung Quốc) và các vị Tăng Trung Quốc đến Tây Vực cầu pháp đã ảnh hưởng rất lớn đến mối quan hệ giao lưu văn hóa giữa Trung Quốc và Tây Vực.
Trong các sách sử ghi chép những vị Cao tăng đi về Đông rất nhiều, ở đây chỉ nêu lên những vị có công lớn phiên dịch, truyền bá kinh điển, cùng sự giao lưu văn hóa Trung-Tây sâu đậm.
Thời Tam Quốc, hai nước Ngụy, Ngô tính chung có mười vị sư dịch kinh ngoại quốc, 3 vị người Ấn Độ là Đàm-ma-ca-la, Duy-kỳ-nan, Trúc Luật Diên; 2 vị người An Tức là Đàm-đế, An Pháp Hiền; 2 vị người Nguyệt Thị là Chi Khiêm, Chi Cương Lương; 1 vị người Qui-tư là Bạch Diên; 1 vị người Khương Cư là Khương Tăng Khải; 1 vị người Khương Cư sống ở Ấn Độ rồi lại dời về Giao Chỉ (Việt Nam) là Khương Tăng Hội.
Thời Tây Tấn, có năm vị dịch kinh người ngoại quốc; 1 vị người Ấn Độ là Cương-lương-lâu-chí; 1 vị người An Tức là An Pháp Khâm; 1 vị người Nguyệt Thị là Chi Pháp Độ; 1 vị người Tây Vực là Vô-la-xoa. Lại có một người ngoại quốc hình như chẳng phải người Ấn Độ mà là người Tây Vực bị Ấn Độ hóa là La-nghiêm.