Tìm kinh sách
Vần A-Z:
Nghiên cứu Phật Giáo Tây Vực

Nghiên cứu Phật Giáo Tây Vực

Tác giả: Cư sĩ Tuệ Khai, Phụ chú: Thích Tâm Nhãn. Dịch giả: Cư sĩ Tuệ Khai, Phụ chú: Thích Tâm Nhãn. Năm xuất bản: 2011. Số trang: 604.

Chương 30: IV. Phật Giaó Trung Á Từ Thời Ngụy Đến Thời Tùy (Trang 230 - 236)

IV. PHẬT GIÁO TRUNG Á TỪ THỜI NGỤY ĐẾN THỜI TÙY
Sự hưng thịnh của Phật giáo vốn từ cuối thời Hán đến thời Tam Quốc, rồi loạn Ngũ Hồ, phân tranh Nam Bắc, sinh linh đồ thán, nhân dân chán đời, khao khát sự an ủi tinh thần. Riêng dân tộc các nước Tây Vực, ngoại trừ việc công phạt thôn tính lẫn nhau, còn phải chịu sự áp bức, bóc lột của các tộc mạnh như Nhu Nhiên, Đột-quyết v.v... Trong đó điều quan trọng là việc giải thể văn hóa phong tục của đại Hán để hình thành chủ nghĩa vô chính phủ ở trong tâm linh nhân dân các nước Tây Vực, nhân đó mà tư tưởng từ bi, giới sát, khổ vui đều được nhân dân thời loạn tiếp thu.
Việc truyền bá Phật giáo vào Trung Quốc, ngoại trừ con đường biển ở phương Nam thì như trước đã thuật, được truyền vào từ Tây Vực. Từ thời Ngụy-Tấn đến thời Nam Bắc triều có thể nói Tây Vực là đất hội tụ hoằng truyền Phật giáo. Qui-tư, Yên Kỳ là trung tâm của Bắc đạo (con đường phía Bắc), Vu-điền là trung tâm của Nam đạo (con đường phía Nam) mà Đôn Hoàng là trạm truyền bá thông đến Trung Quốc, nên cũng có thể gọi là vùng đất hội tụ. Căn cứ vào sự khai quật của ông Stein tại Tây Vực106 thì có kinh điển Phật giáo tiếng Phạn, và kinh điển phiên dịch bằng ngôn ngữ địa phương ở những nơi Vu-điền, Qui-tư, Yên Kỳ v.v..., riêng kinh điển dịch bằng tiếng “Sogdian (Sách-cách-để, Túc-đặc)” và “Đột-quyết” là nhiều nhất. Quan sát số kinh điển thu hoạch được, đại để số lưu hành suốt một dải Yên Kỳ, Qui-tư
 

106 Xem Tây Vực khảo cổ ký của ông Stein, do Hướng Đạt dịch, Trung Hoa thư cục xuất bản năm Dân Quốc thứ 25 và Tây Vực văn minh sử khái luận (Nhật văn) của Vũ Điền Hanh trước tác, do Hoằng Văn Đường thư cục xuất bản năm Chiêu Hòa thứ 6. (cht. Tg)
 
là giáo lý Tiểu thừa, còn số lưu hành suốt một dải Vu-điền là giáo lý Đại thừa. Ngoài ra còn thu hoạch được một số kinh trong động Thiên Phật ở Đôn Hoàng và những ngôi chùa phế tích tại Cao Xương; ngoại trừ kinh điển Phật giáo, còn có kinh điển của Cảnh giáo107 và Ma-ni giáo108 viết bằng tiếng Đột-quyết, Sogdian, Ba-tư, nhưng không phát hiện thấy kinh điển của Yêu giáo (Bái hỏa giáo của Ba-tư).
Theo sách Ngụy thư, Bắc sử, Tùy thư, Nam sử ghi chép, Phật pháp tại Tây Vực rất thịnh hành, phạm vi truyền bá vô cùng rộng lớn. Ngụy thư quyển 102 ghi: Nước Ô-trường, “giàu có về lúa gạo, lúa mì, chuyên theo Phật, phần nhiều những chùa tháp rất hoa lệ”; nước Càn-đà “cách đô thành bảy dặm về phía Đông nam có tháp Phật cao bảy mươi trượng, chu vi ba trăm bộ, gọi là tháp Tước Ly109 vậy.” Cũng trong quyển 97 của bộ sử này ghi: Nước Vu-điền “tôn trọng Phật pháp, chùa tháp, Tăng ni rất đông, vua rất kính tín, mỗi khi thiết lập ngày trai giới thì vua nhất định đích thân tự quét dọn, dâng đồ ăn”; nước Yên Kỳ thì “tục thờ Thiên thần, đồng thời sùng tín Phật pháp”; nước Sơ-lặc thì “cuối đời Văn Thành, vua nước Sơ-lặc sai sứ mang tặng một chiếc áo cà-sa
 

107 Cảnh giáo 景教: E. Nestorianism, hoặc gọi giáo phái Nhiếp-tư-thát-lý, là chi phái Cơ-đốc giáo từ Tây phương truyền vào.
108 Ma-ni giáo: Xem cht. 6, tr. 46.
109 Hán: Tước Ly Phật-đồ 雀離佛圖, còn gọi là Tước Ly Phù-đồ (tháp), Tước Lê Phù-đồ v.v... Nguồn gốc của ngôi tháp Tước Ly này, là một hôm, khi vua Ca-nị-sắc-ca ra ngoài du ngoạn, trời Đế-thích muốn khai ngộ ý nhà vua liền biến thành đứa bé chăn trâu đang làm tháp. Vua Ca-nị-sắc-ca hỏi: “ngươi làm gì vậy?” Thằng bé trả lời: “Cháu làm tháp Phật”. Vua Ca-nị-sắc-ca nói, “Lành thay!” (khởi tâm kính tín Phật pháp). Nhà vua liền cho xây dựng một bảo tháp lộng lẫy bên cạnh ngôi tháp nhỏ đó, cao hơn 40 trượng… (Cao tăng Pháp Hiển truyện 1, T51n2085, p858b13; Tây Vực ký 2, T51n2087, p879c15 v.v…)
 
của đức Phật Thích-ca Mâu-ni, dài hơn hai trượng. Vua Văn Thành thẩm xét chiếc áo Phật đó có đúng là linh dị không liền đem đốt để kiểm chứng hư thực, đặt áo ở trên lửa mạnh suốt cả ngày mà chẳng cháy, người xem ai cũng kinh ngạc, thân tâm đều kính phục.” Nước Tiểu Nguyệt Thị “có tháp Phật chu vi 350 bộ, cao 80 trượng”; nước Chu Cư “đều thờ Phật, ngôn ngữ giống với Vu-điền” v.v... Từ đây chúng ta có thể thấy được sự thịnh hành và sùng tín Phật giáo ở các nước Tây Vực. Nhưng điều quan trọng lúc ấy là việc các vị sư phiên dịch kinh điển đi về Đông (Trung Quốc) và các vị Tăng Trung Quốc đến Tây Vực cầu pháp đã ảnh hưởng rất lớn đến mối quan hệ giao lưu văn hóa giữa Trung Quốc và Tây Vực.
Trong các sách sử ghi chép những vị Cao tăng đi về Đông rất nhiều, ở đây chỉ nêu lên những vị có công lớn phiên dịch, truyền bá kinh điển, cùng sự giao lưu văn hóa Trung-Tây sâu đậm.
Thời Tam Quốc, hai nước Ngụy, Ngô tính chung có mười vị sư dịch kinh ngoại quốc, 3 vị người Ấn Độ là Đàm-ma-ca-la, Duy-kỳ-nan, Trúc Luật Diên; 2 vị người An Tức là Đàm-đế, An Pháp Hiền; 2 vị người Nguyệt Thị là Chi Khiêm, Chi Cương Lương; 1 vị người Qui-tư là Bạch Diên; 1 vị người Khương Cư là Khương Tăng Khải; 1 vị người Khương Cư sống ở Ấn Độ rồi lại dời về Giao Chỉ (Việt Nam) là Khương Tăng Hội.
Thời Tây Tấn, có năm vị dịch kinh người ngoại quốc; 1 vị người Ấn Độ là Cương-lương-lâu-chí; 1 vị người An Tức là An Pháp Khâm; 1 vị người Nguyệt Thị là Chi Pháp Độ; 1 vị người Tây Vực là Vô-la-xoa. Lại có một người ngoại quốc hình như chẳng phải người Ấn Độ mà là người Tây Vực bị Ấn Độ hóa là La-nghiêm.
Thời Đông Tấn, người ngoại quốc đến Trung Quốc dịch kinh, có thể khảo xét được 27 người. Người Ấn Độ có 17 vị là Trúc-đàm-vô-lan, Đàm-ma-trì, Cưu-ma-la-phật-đề, Tăng-già-bạt-trừng, Đàm-ma-tì, Đàm-vô-sấm, Trúc-nan-đề, Đàm-ma-quật-đa, Đàm-ma-da-xá, Ty-ma-la-xoa, Phật-đà-da-xá, Phất-nhã-đa-la, Đàm-ma-ti, Phật-đà-bạt-đà-la, Ca-lưu-đà-già, Tăng-già-la-xoa, Tăng-già-đề-bà; 3 vị người Tây Vực là Đàm-ma-lưu-chi, Tăng-già-đà, Kỳ-đa-mật; 2 vị người Nguyệt Thị là Chi Đạo Căn, Chi Thí Luân; 1 vị người Qui-tư là Bạch Thi-lê-mật-đa-la; 1 vị người Ấn Độ sống ở Qui-tư là Cưu-ma-la-thập; 1 vị người Khương Cư là Khương Đạo Hòa; 1 vị người Thổ-hỏa-la là Đàm-ma-nan-đề; 1 vị chẳng rõ người nước nào là Phật-đồ-la-sát.110
Thời Lưu Tống, các vị đại sư ngoại quốc đến dịch kinh, tính chung có 10 người:111 6 vị người Ấn Độ là Phật-đà-thập, Tăng-già-bạt-di, Cầu-na-bạt-ma, Đàm-ma-mật-đa, Tăng-già-bạt-ma, Cầu-na-bạt-đà-la; 3 vị người Tây Vực là Công Đức Trực, Phù-đà-bạt-ma, Cương-lương-da-xá; 1 vị chỉ biết là người ngoại quốc là Y-diếp-ba-la.112
Thời đại Nguyên Ngụy, Bắc Tề, Bắc Châu, có 12 vị đại sư đến Trung Quốc dịch kinh đều là người quốc tịch Ấn Độ, đó là Cát-ca-dạ, Đàm-ma-lưu-chi, Lặc-na-ma-đề, Bồ-đề-lưu-chi, Phật-đà-phiến-đa, Bát-nhã-lưu-chi, Tỳ-mục-trí-tiên, Đạt-
 

110 Phật-đồ-la-sát 佛圖羅剎: Theo Khai Nguyên thích giáo lục 3, T55n2154_p511a11, Trinh Nguyên tân định thích giáo mục lục 5, T55n2157_p807c18, chỉ nói ngài là người ngoại quốc.
111 Trong “Phật giáo kinh điển tổng luận” (Tiểu Dã Huyền Diệu biên soạn), ghi là 22 vị.
112 Y-diếp-ba-la 伊葉波羅, Skt. Īśvara, dịch nghĩa “Tự Tại”. Theo Khai Nguyên thích giáo lục 5, T55n2154_p526a03, Trinh nguyên tân định thích giáo mục lục 7, T55n2157_p822c, nói ngài là người Tây Vực.
 
ma-bồ-đề, Nhương-na-bạt-đà-la, Đạt-ma-lưu-chi, Xà-na-da-xá, Da-xá-quật-đa.
Thời đại Nam Tề, Lương-Trần, có 10 vị đại sư nước ngoài đến dịch kinh, gồm 4 vị người Ấn Độ là Đàm-ma-già-đà-da-xá, Cầu-na-tỳ-địa, Ba-la-mạt-đà, Nguyệt-bà-thủ-na; 3 vị người Tây Vực là Ma-ha-thừa, Tăng-già-bạt-đà-la, Đạt-ma-ma-đề; 3 vị người Phù Nam là Mạn-đà-la,113 Tăng-già-bà-la, Tu-bồ-đề.
Đời Tùy, các vị sư dịch kinh đi về Đông có 5 vị người Ấn Độ, là Xà-na-quật-đa, Đạt-ma-bát-nhã, Na-liên-đề-lê-da-xá, Đạt-ma-cấp-đa, Tỳ-ni-đa-lưu-chi; 1 vị người Tây Vực là Nhã-na-kiệt-đa; 1 vị người nước nào chưa rõ là Bồ-đề-đăng.114
Những vị sư dịch kinh đi về Đông nêu trên, có người đến từ đường biển, có người đến bằng đường bộ, họ đều từ Tây Vực đến. Trong số đó, người nổi danh nhất là ngài Cưu-ma-la-thập. Nhưng ngài La-thập cũng sùng kính ngài Phất-nhã-đa-la, còn ngài Ty-ma-la-xoa thì ngài La-thập coi như thầy, lễ kính đối đãi nhau; còn ngài Xà-na-quật-na v.v… cũng có công đức lớn trong việc xiển dương Phật giáo lúc bấy giờ.
Tiếp đến là những người đi Tây cầu kinh, số lượng chẳng thể nhiều hơn, có người tên đã lu mờ, có người không kết quả, hoặc không dịch kinh nên chẳng nổi tiếng. Thời Tây Tấn có 3 người đi Tây cầu pháp là Chu Sĩ Hành, Trúc Thúc Lan
 

113 Mạn-đà-la 曼陀羅: Hoặc gọi Mạn-đà-la-tiên 曼陀羅仙, Mạn-đồ-la-tiên 曼荼羅仙, Skt. Mandra, dịch nghĩa “Hoằng Thanh”, người Phù Nam (Lịch đại tam bảo kỷ 11, T49n2034_p95a v.v…)
114 Căn cứ “Lịch đại cầu pháp phiên kinh lục” của Phùng Thừa Quân biên tập và tham chiếu “Trung-Tây giao thông sử” của Phương Hào trước tác. (cht. Tg)
 
Pháp Hộ. Thời Đông Tấn thì tăng thêm đến 57 người, trong số ấy có những người như Pháp Hiển, Tuệ Cảnh, Đạo Chỉnh, Tuệ Ứng, Bảo Vân v.v... là nổi nhất. Thời Lưu Tống thì tăng thêm đến hơn 70 người mà số người mất tên lên đến hơn 60 người, số người biết được chừng hơn 10 người, như ngài Tự-cừ-kinh-thanh, Đạo Thái v.v... Người đi Tây cầu pháp thời Nguyên Ngụy, Bắc Tề, Bắc Châu là 19 người, trong số ấy nổi nhất là hơn 10 người như ngài Tống Vân, Huệ Sinh v.v... Thời Nam Tề, Lương, Trần và Tùy không có người đi Tây cầu pháp. Ngài Pháp Hiển trở về nước viết “Phật quốc ký”, Tống Vân soạn ra Gia ký, Huệ Sinh soạn Hành kỷ nhưng đều không truyền lại.115
Nhìn chung, tuy thấy văn minh Phật giáo được truyền vào như vậy, nhưng phát sinh ảnh hưởng không đâu bằng hàng thứ dân, bởi vì dân chúng ở thời Ngụy, Tấn, Nam Bắc Triều chịu thống khổ sâu nặng nhất, thậm chí họ giả bắt chước làm Sa-môn mà thật ra là để tránh việc đi lính, nô dịch (xem Thích Lão chí trong Ngụy thư), đến nỗi thiên hạ đem lòng theo về.
Tóm lại, Tây Vực từ thời Ngụy đến thời Tùy, vì trong nước chiến loạn nên dị tộc tung vó ngựa vào Trung Nguyên, tuy là sự hỗn hợp lớn của dân tộc Trung Hoa, nhưng so với thời Hán thì đã cách nhau rất xa, chẳng qua thời kỳ này nhờ ở lực lượng Phật giáo dung hợp cảnh giới Nam-Bắc, Hồ-Hán, nên nhà Tùy trở thành triều đại mở mang cương thổ, rồi đến đời Đường có công hoàn tất nghiệp lớn thống nhất châu Á.
 

115 Cùng sách dẫn trước (cht. 114). (cht. Tg)
 
/75
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
🙏 Trợ Lý Phật Pháp AI »