Tìm kinh sách
Vần A-Z:
Nghiên cứu Phật Giáo Tây Vực

Nghiên cứu Phật Giáo Tây Vực

Tác giả: Cư sĩ Tuệ Khai, Phụ chú: Thích Tâm Nhãn. Dịch giả: Cư sĩ Tuệ Khai, Phụ chú: Thích Tâm Nhãn. Năm xuất bản: 2011. Số trang: 604.

Chương 8: III. Thời Kỳ Phật Giáo Truyền Về Đông (Trang 59 - 75)

hai vị Tăng học Đại thừa xuất hiện hoạt động truyền bá Đại thừa. Hai vị Tăng đó là anh em Vô Trước (Asaṅga), Thế Thân (Vasubandhu). Cho nên từ thế kỷ thứ V trở về sau, cảnh tượng Phật giáo Đại thừa lưu hành tại lãnh thổ Bắc Ấn Độ rất thịnh hành.
Phần trên chỉ lược thuật tình hình Phật giáo từ miền Trung Ấn Độ đến vùng Tây bắc Ấn Độ, rồi truyền qua Afghanistan, Turkestan và miền Bắc Ba-tư; đồng thời bàn luận đến quang cảnh Phật giáo truyền bá ở Ca-thấp-di-la và Kiền-đà-la và phổ cập đến toàn bộ Bắc Ấn Độ. Phật giáo hai hệ Đại thừa, Tiểu thừa giao thiệp hỗ tương nhau, mở đầu cho cuộc Đông tiến, đặc biệt là việc truyền vào các nước Turkestan, Trung Hoa.
III. THỜI KỲ PHẬT GIÁO TRUYỀN VỀ ĐÔNG
Như vậy, Phật giáo các nước Đại Nguyệt Thị, An Tức, Khương Cư, Ca-thấp-di-la đầu tiên truyền vào Đông Turkestan là thời nào? Căn cứ trong Phật quốc ký36 của ngài Pháp Hiển ghi về nước Đà-lịch (Darada) như sau:
“Chúng Tăng hỏi ngài Pháp Hiển: ‘Phật giáo truyền qua phía Đông, bắt đầu lúc nào, có thể biết chăng?’ Ngài Pháp Hiển đáp rằng: ‘Hỏi người cõi đó, họ đều nói rằng: ‘Bậc tiền bối xưa truyền nhau rằng: sau khi lập tượng Bồ-tát Di-lặc, có Sa-môn Thiên Trúc mang theo kinh, luật qua sông này.’ Tượng lập sau khi đức Phật vào Nê-hoàn ba trăm năm, tính ra là vào thời Bình Vương nhà Châu. Do đó mà nói, đại giáo tuyên lưu từ khi bắt đầu có tượng này”.
 

36 Cao tăng Pháp Hiển truyện 1, T51n2085_p858a11.
 
Nước mà ngài Pháp Hiển gọi là Đà-lịch, tức ngài Huyền Trang gọi là Đạt-lệ-la (Darela) xuyên (sông). Vị trí nước này ở vùng thượng lưu tận phương Bắc sông Ấn Độ, nay là Darel (tại Dardistan vùng Pakistan), rồi từ đây vượt qua miền Bắc Ca-thấp-di-la và Kiền-đà-la, lại từ núi Đại Tuyết thông lộ vào Trung Á.37 Ngài Pháp Hiển cho rằng việc nước đó kiến lập tượng Di-lặc có liên quan đến Phật giáo truyền về Đông, và nói tương truyền tượng ấy được đúc tạo vào khoảng Phật nhập diệt sau 300 năm. Vậy tượng ấy do ai kiến tạo? Đến nay vẫn không ai biết, không có bằng chứng để khảo xét. Nhưng trong Tây Vực ký quyển 3, mục nước Udyāna (Ô-trượng-na), ngài Huyền Trang ghi, người kiến lập tượng là vị La-hán Mạt-điền-để-ca (Majjhantika), do đó trong bài có ghi câu “Tự hữu thử tượng, pháp lưu đông phái” (từ khi có tượng này, pháp phái truyền về Đông).38 Lại truyện ngài Pháp Thịnh trong Danh tăng truyện,39 do Bảo Xướng đời Lương soạn ghi rằng, ngài Pháp Thịnh khi đến Thiên Trúc tuần bái Thánh tích, đã bái kiến pho tượng Di-Lặc ở Đông bắc nước Udyāna. Nhưng ông cho là tượng này tương truyền được ngài La-hán Khả-lợi-nan-đà (Harinanda?) tạo năm 480, sau khi đức Phật diệt độ. Mạt-điền-để-ca mà ngài Huyền Trang nói, cùng với ngài Mạt-điền-đề đến truyền giáo ở Tây bắc Ấn Độ thời vua Asoka rõ ràng là một người. Còn ngài Khả-lợi-nan-đà là ai chúng ta hoàn toàn chẳng biết gì. Chúng ta không ngờ rằng thời vua Asoka đã thành lập tín ngưỡng Di-lặc, lại không ngờ thời đó ngài Mạt-điền-để-ca đã đi qua vùng Darel hiện nay để đến Trung Á truyền giáo. Có lẽ do ngài Mạt-điền-để-ca là người có danh tiếng trong số những pháp sư khai giáo đầu
 

37 Cunningham: Ancient Geography of India. pp. 82. (cht. Tg)
38 Tây Vực ký 3, T51n2087_p884b15.
39 Danh tăng truyện sao (1 quyển), X77n1523_p359a04.
 
 tiên ở vùng Tây bắc Ấn Độ, nên đến thời ngài Huyền Trang mới dệt thành truyền thuyết là ngài Mạt-điền-để-ca có nhân duyên với việc tạo tượng Di-lặc và khởi điểm cho Phật giáo truyền về phía Đông.
Nếu truyền thuyết thời Huyền Trang đáng tin thì việc ghi chép ở trong Danh tăng truyện cho rằng người kiến lập tượng này là Khả-lợi-nan-đà cũng rất đáng tin. Trong bản truyện nói rõ ràng việc tạo tượng ấy được kiến lập sau khi đức Phật diệt độ 480 năm, có thể niên đại đức Phật diệt độ cũng không minh bạch. Vì chúng ta không biết điểm xuất phát con số của người viết truyện lập niên đại, do đó thời kỳ Phật giáo truyền về Đông không thể xác định được. Nhưng những Tăng sĩ Phật giáo ở Bắc Ấn Độ, từ nơi mà ngài Pháp Hiển gọi là Đà-lịch tức là Darel hiện tại, đi qua sông Ấn Độ, ra khỏi biên giới Ấn Độ, truyền Phật giáo đến Đông Turkestan là không nghi ngờ gì. Nơi ấy chính là con đường xung yếu thông qua Đông Turkestan. Nếu chúng ta nghiên cứu lướt qua những đất nước có Phật giáo lưu thông thời cổ đại được ghi trong truyện Huyền Trang, thì thời kỳ Phật giáo truyền về Đông rất dễ xác định. Khi ngài Huyền Trang lữ hành là theo thông lộ ấy, đi qua những nơi đó đều thấy Phật giáo rất thịnh hành, đặc biệt là đô thành Hôn-đà-đa (Kundut)40 ở đế quốc Đạt-ma-tất-thiết (miền Nam Wakhan). Lúc bấy giờ, những ngôi Già-lam trong thành đó là do tiên vương mấy trăm năm trước đã xả bỏ tín ngưỡng tà thần kiến lập đầu tiên. Từ đó trở về sau, Phật giáo tại nước này cực kỳ hưng thịnh. Lại cách đô thành nước Khiết-bàn-đà (Sarikol)41 300 dặm về phía Đông nam, có
 

40 Tây Vực ký 12, p940c24. Khandut (Khandud) hiện nay là ngôi làng ở địa phương Badakhsan, thuộc quận Wakhan, phía Đông bắc Afghanistan.
41 Tây Vực ký 12, p941c03. Nước Khiết-bàn-đà 朅盤陀 (Skt. Khabandha), còn gọi là nước Hán-bàn-đà, Đại Thạch (đá lớn), một vương
 
 một tòa thạch thất lớn, tương truyền 700 năm trước tại chỗ đó có vị La-hán ngồi định tâm nhập diệt.42 Từ Darel đi ra Đông Turkestan nhất định phải qua hẻm núi của nước Wakhan, con đường đó thông suốt Đông-Tây. Khoảng giữa thế kỷ thứ I trước Tây lịch, những người truyền bá Phật giáo đều phải đi qua nơi ấy, đó là sự thật rõ ràng.
Thế là việc Phật giáo Ca-thấp-di-la và Kiền-đà-la vượt qua cảnh giới Ấn Độ, mở đầu thời kỳ Đông truyền cũng truy tìm nghiên cứu được rồi. Trong Danh tăng truyện ghi chép, niên đại đức Phật diệt độ vào khoảng 500 năm trước kỷ nguyên Tây lịch, từ đây mà suy tìm sẽ có một luận định nhất trí.
Trong Tây Vực ký quyển 12, mục nước Vu-điền, ngài Huyền Trang ghi là, người truyền Phật giáo vào nước này chính là vị La-hán tên Tỳ-lô-chiết-na (Vairocana) ở nước Ca-thấp-di-la. Nhưng lịch sử nước Vu-điền trong truyện Tây Tạng lại ghi niên đại vị La-hán đó đến truyền bá Phật giáo là năm 165, sau khi nước này kiến lập quốc, chính là lúc vua Vijayasambhava lên ngôi trị vì đến năm thứ năm. Lại nói vua Asoka trị vì đến năm thứ 30, sinh hạ người con trai tên Kustana, năm Kustana 19 tuổi thì nhà vua đem đất nước truyền trao cho thái tử kiến thiết.43 Xem lại sử liệu thì việc kiến lập nước Vu-điền vào khoảng năm thứ 48, sau khi vua Asoka lên ngôi. Vua Asoka lên ngôi vào năm 271, hoặc năm 272 trước Tây lịch là định thuyết của giới học giả, thế thì Vu-điền kiến quốc phải vào năm 224, hoặc năm 225 trước Tây lịch. Sau khi kiến lập đất nước năm 165, vua Vijayasambhava
 

quốc thời xưa ở Tây Vực. Về vị trí nước này ước chừng tại Tush-kurghan (Sarikol - Thạch Thành) tỉnh Tân Cương.
42 Tây Vực ký quyển 12. (cht. Tg)
43 Rockhill: The Life of Buddha, pp. 237, 234; Lịch sử Vu-điền do ông Tự Bản Uyển Nhã trước tác, trang 21 và 22. (cht. Tg)
 
lên ngôi trị vì được 5 năm (đến năm thứ 5), là năm 56, hoặc năm 57 trước Tây lịch, năm đó chính là năm thứ nhất Phật giáo truyền vào Vu-điền.
Tiên sinh Tự Bản44 căn cứ vào thuyết niên đại Phật diệt độ của ông V. Smith (là năm 487 trước Tây lịch), so sánh với bản sử niên đại kiến lập nước Vu-điền của vương tử Kustana, hoán đổi tính toán lại rồi cho rằng sau khi Phật diệt độ là 234 năm; và nhân đó xác định thời kỳ Phật giáo truyền vào Vu-điền phải là năm 83 trước Tây lịch (có sai số chút ít).45 Về cách tính, nếu lấy niên đại lên ngôi của vua Asoka được giới học giả công nhận làm căn cứ để xác định, thì thuyết Phật giáo truyền vào Vu-điền khoảng năm 56, hoặc năm 57 trước Tây lịch là chắc chắn. Có điều, cách tính ấy là dựa vào truyện Tây Tạng, nếu sự ghi chép trong truyện Tây Tạng mà lầm lẫn thì cách tính ấy cũng không có giá trị gì trên phương diện học thuật.
Phần trước đã trình bày thời kỳ Phật giáo vượt qua biên giới Ấn Độ, mở đầu cuộc truyền bá về Đông. Và nếu căn cứ vào những sự thật về tình hình Phật giáo Ca-thấp-di-la, việc lưu thông, giao thiệp văn hóa giữa Ca-thấp-di-la và Vu-điền, thì chúng ta có thể xác định là giữa thế kỷ thứ I trước Tây lịch, những Cao tăng Ca-thấp-di-la đã đến Vu-điền truyền giáo. Một sử liệu đáng tin cậy.
Vu-điền thời Tiền Hán46 chính là con đường xung yếu của vùng đất phía Nam sông Amu darya, từ đó tiến về phía
 

44 Tự Bản Uyển Nhã (Enga Teramoto, 1872-1940), Tăng nhân học phái Chân tông đại cốc Nhật Bản, ông chuyên nghiên cứu Phật giáo Tây Tạng.
45 Lịch sử Vu-điền, trang 107. (cht. Tg)
46 Tiền Hán: Hán Cao Tổ là Lưu Bang diệt Tần đổi quốc hiệu là Hán, kiến đô tại phía Tây Trường An. Sau truyền đến Nhu Tử Anh thì bị Vương Mãng soán ngôi đổi quốc hiệu là Tân, đó là Tây Hán hoặc gọi Tiền Hán (năm 206 trước Tl. – năm 25 Tl.).
 
 trước đến Yarkand (Sa-xa),47 lại đi về phía Tây, vượt qua Thông Lĩnh (Pamir) hướng về Nam, có thể đến được nước Ca-thấp-di-la. Từ thời Tiền Hán, Ca-thấp-di-la có giao thiệp qua lại với Trung Quốc trên phương diện chính trị. Truyện Tây Vực trong Tiền Hán thư (Hán thư) chép rằng:
“Từ Võ đế bắt đầu thông giao với Kế Tân, Kế Tân tự cho là ở nơi xa xăm tuyệt dấu, binh lính nhà Hán không thể đến, nên vua Kế Tân là Ô-đầu-lao đôi lần cướp bóc, giết Hán sứ. Khi Ô-đầu-lao chết, con lên thay, mới sai sứ phụng hiến...”
Có thể thấy từ Hán Võ đế trở về sau, trên mặt ngoại giao hình như rất phồn thịnh. Kế Tân mà trong sách Tiền Hán nói hẳn nhiên là chỉ cho nước Kiền-đà-la ở Tây bắc Ca-thấp-di-la hiện tại, vì đương thời đất ấy thuộc nước Ca-thấp-di-la, do đó có thể nói Kế Tân là một phần của Ca-thấp-di-la. Hai nước đã có sự qua lại, thì sứ giả hai nước nhất định chọn lấy con đường thông suốt Trung-Nam, mà con đường ấy phải đi qua Vu-điền. Cho nên từ thế kỷ thứ II trước Tây lịch trở về sau, Ca-thấp-di-la và Vu-điền đã thông giao nhau là sự thật.
Những năm gần đây, từ kết quả nghiên cứu của những đội thám hiểm Trung Á, cho ta nhận thấy Ca-thấp-di-la và Vu-điền đều có mối quan hệ rõ rệt cả phương diện mỹ thuật lẫn phong tục tập quán. Ở vùng Yotkan gần phía Đông Khotan, ông Stein đã tìm được đồ gốm cổ đại, mái đền và một phần trang sức tháp,48 trong bảng đá điêu khắc mang nhiều hình thức mỹ thuật Phật giáo Hy Lạp thuộc Kiền-đà-la. Lại ở vùng Dandān-Uiliq xưa, gần Đông bắc Khotan, ông Stein cũng
 

47 Sa-xa: Xem cht. 10, tr. 19.
48 Hán: Tốt-đổ-ba 窣堵波: Skt. stūpa, Pāli. thūpa, dịch âm “Tháp-bà”, dịch nghĩa Cao hiển xứ, Linh miếu v.v… , cũng gọi là Bảo tháp.
 
khai quật được những di vật như trang sức Phật đường, mỹ thuật Phật giáo, hoàn toàn là kiểu thức Kiền-đà-la.49 Ông còn phát hiện ngôi tiểu tháp ở nền chùa hoang phế tại Khādalik, phía Đông Khotan, và ngôi tháp Phật ở chỗ mà ngài Huyền Trang gọi là thành Ninã, tức là vùng gần Niya hiện nay, đều là kiểu thức Kiền-đà-la.50 Ngoài ra, trong bài báo cáo của nhiều nhà khảo cổ như Rudolt Hoernle, Macartney, Masson cũng chứng minh sự thật về Vu-điền chịu ảnh hưởng nền văn hóa Hy Lạp, do họ khảo cứu từ những di vật cổ đại phát hiện tại Khotan.51 Hình thức chủng loại tháp ở Khotan và Ca-thấp-di-la gần Tây bắc Afghanistan cũng có những điểm giống kiểu thức trước. Ông Masson khai quật một ngôi mộ tại Passani được xương sọ người, và những vật ở dưới lớp tro, như đá nhiều màu sắc sặc sỡ, xâu chuỗi hạt châu v.v... cất trong cái bình lớn, cái bình bằng đá núi lửa; lại có những mảnh giấy vỏ cây Hoa52 viết văn tự Kharosthi53 v.v... Hình như đó là phần mộ của tù trưởng, hoặc vua nước Vu-điền cổ đại. Đem chúng khảo xét với những thứ phát hiện tại Qura Yanta thì có nhiều điểm giống nhau bất ngờ, có thể cung cấp cho chúng ta một thứ luận chứng có sức thuyết phục. Điều
 

49 Ancient Khotan. pp. 207 - 20, 244 - 55. (cht. Tg)
50 Serindia, pp.161, 396. (cht. Tg)
51 A Collection of Antiquties from Central Asia J. A. S. B., Extra Number 1. 1899. Introduct, P. XXXII. (cht. Tg)
52 Hán: Hoa bì 樺皮, loại cây Hoa này sinh trưởng ở cao nguyên, chân núi những vùng Kế Tân Tây bắc Ấn Độ, Khotan ở Trung Á, Qui Tư v.v… Vỏ cây này có thể chế biến thành giấy.
53 Văn tự Kharosthi: Skt. Kharoṣṭha, Kharoṣṭhī v.v…, dịch âm là khư-lô-sắt, Khư-lô-sắt-tra (佉盧虱吒) v.v…, dịch nghĩa là Lư Thần, Cường Dục Hồng. Loại văn tự được lưu hành ở vùng Thông Lãnh thuộc Bắc Ấn Độ thời cổ. Theo truyền thuyết, loại văn tự này do Tiên nhân Lư Thần sáng tạo nên gọi là Khư-lô-sắt-tra thư hay Khư-lô thư, Lư Thần văn tự v.v…
 
này tại đất Khotan tuyệt nhiên không thấy. Nhưng những mẫu tạo hình theo nghệ thuật Ấn Độ như vượn, voi v.v... thì thấy ở Khotan và được nói rất nhiều trong báo cáo.
Như vậy đã xác định rõ ràng mối quan hệ mật thiết giữa văn hóa Ấn Độ và văn hóa Vu-điền, và tổng hợp lại những điểm nói trên thì mỹ thuật Phật giáo Hy Lạp lưu hành ở miền Tây bắc Ấn Độ khoảng trước sau kỷ nguyên Tây lịch, trở thành nguồn gốc mỹ thuật Phật giáo Vu-điền, đó là sự thật, không nghi ngờ gì nữa.
Ngoài mối quan hệ mỹ thuật, còn nhiều phương diện có thể làm sáng tỏ sự giao thiệp văn hóa giữa hai nước Ca-thấp-di-la và Vu-điền. Như chỗ Niya xưa, ông Stein phát hiện văn tự Kharosthi, điều này cho thấy thực tế sinh hoạt, tổ chức xã hội và tình hình về các phương diện đều có quan hệ với Vu-điền. Hình thể chữ Kharosthi là gần vùng Kiền-đà-la và có đặc hữu với Taxila hiện nay (phía Bắc tỉnh Punjab, Pakistan), mà những địa phương đó chính là trung tâm chính trị, văn hóa của Ấn Độ cổ đại, khoảng vài thế kỷ trước sau kỷ nguyên Tây lịch.54 Ở chỗ cửa vào nền chùa hoang phế tại Khādalik, ông Stein lại phát hiện thấy văn chữ Phạn55 viết trên vỏ cây Hoa, chính là thể chữ thời kỳ sớm nhất của vương triều Cấp-đa (Gupta), mà vỏ cây Hoa lại là sản phẩm của Ca-thấp-di-la.56 Lại có truyền thuyết nói về hồ ao Vu-điền khô cạn, thì trong hai tập sách “Ni-la-ma-đà cố sự” (Nilamata Purāna)57 và
 

54 Ancient Khotan. PP.163. (cht. Tg)
55 Văn chữ Phạn 梵文 (Sanskrit), nguyên từ chữ “Saṃskṛta” nghĩa là “hoàn hảo, trọn vẹn”. Văn tự tiêu chuẩn của Ấn Độ cổ đại, thuộc ngữ hệ Ấn-Âu, còn gọi là Thiên trúc ngữ, hay Nhã ngữ.
56 Serindia I. pp.158 . (cht. Tg)
57 Nilamata Purāna (Purāna, tiếng Phạn là thời xa xưa), là tác phẩm kể về một vùng thung lũng nguyên lai là hồ nước mênh mông, tức nói đến vùng
 
“Vương thống lưu phái” (Rājataraṅgiṇī)58 cũng thấy ghi như vậy, từ điểm này chúng ta nhìn lại mặt trái của truyền thuyết thì giữa Vu-điền và Ca-thấp-di-la có sự quan hệ rất mật thiết.59
Vậy có thể biết sơ khởi thời kỳ văn hóa của Vu-điền là bắt nguồn từ Ca-thấp-di-la, Kiền-đà-la, khoảng năm 56 trước kỷ nguyên Tây lịch. Và truyền thuyết Phật giáo đầu tiên từ Ca-thấp-di-la truyền vào Vu-điền là sự thật lịch sử đáng tin cậy. Giống với ý của ông Charles Eliot, là lấy Ca-thấp-di-la làm đất trung tâm của Đại thừa giáo, ông lại nói Đại thừa giáo từ Ấn Độ, hoặc đi qua một phần Ca-thấp-di-la mới truyền vào Vu-điền. Nhưng khi Phật giáo truyền đến Vu-điền không phải là Đại thừa, lại là một vấn đề. Chúng ta hãy suy ngẫm và theo dấu chân của những người truyền giáo sẽ thấy rõ mọi chuyện.60
Căn cứ vào tình hình Phật giáo ở Ca-thấp-di-la thời bấy giờ mà phân tích phán đoán, thì bất luận phương diện nào cũng thấy là Phật giáo Tiểu thừa. Song lịch sử nước Vu-điền trong truyện Tây Tạng và Tây Vực ký của Ngài Huyền Trang ghi chép, vị đại sư đầu tiên đến nước này truyền bá Phật giáo
 

đất Kashmir (Ca-thấp-di-la) thuở xưa. Theo lời một nhà hiền triết, trước khi ông đến khai khẩn, nó là một hồ nước rộng lớn. Nhưng vì lý do gì đó lại trở thành vùng đất khô cạn, nên về sau người ta mới gọi là Kashmir. Ka là nước, shmir là khô cạn.
58 Vương thống lưu phái 王統流派, Skt. Rājataraṅgiṇī, nghĩa là Những vị vua thống trị dòng sông, hay Dòng sông của những vị vua (The River of kings). Rājataraṅgiṇī là một tác phẩm tiếng Phạn, do sử gia Kalhaṇa biên soạn vào khoảng năm 1147-1149 Tây lịch. Ông viết về những vị vua của triều đại Kashmir trị vì thuở đất nước còn là một vùng biển hồ.
59 Rockhill: The Life of the Buddha. pp. 232; Ancient Khotan, pp.160. (cht. Tg)
60 Hinduism and Buddhism. Vol III. pp. 214. (cht. Tg)
 
lại có tên hàm nghĩa Đại thừa. Tên vị đại sư đó là Tỳ-lô-chiết-na (Vairocana, đời Đường dịch là Biến Chiếu). Lịch sử nước Vu-điền nói ngài là hóa thân của đức Văn-thù, còn quốc vương Tỳ-xà-da-tán-bạt-bà lúc bấy giờ là hóa thân của đức Di-lặc. Tây Vực ký61 chép rằng:
Quốc vương hỏi ngài Tỳ-lô-chiết-na: “Thần đức của Như Lai như thế nào?” Ngài đáp: “Như Lai thương xót bốn loài chúng sinh, dỗ dành dẫn lối cho ba cõi, hoặc hiển hoặc ẩn, thị hiện giáng sinh, thị hiện diệt độ”.
Lời ghi ấy cùng với truyền thuyết Tây Tạng đều hàm chứa sắc thái Đại thừa giáo sâu đậm. Từ điểm này cho thấy Phật giáo đầu tiên truyền đến đây nhất định thuộc giáo phái Đại thừa. Như trước đã nói, Ca-thấp-di-la lâu nay là quốc gia Tiểu thừa bảo thủ, nhưng không ngờ Cao tăng đến đây lại truyền bá Đại thừa.
Hiện nay chúng ta đều biết, nước Vu-điền từ thời ngài Pháp Hiển đi đến đó (năm 401 Tây lịch) trở về sau là nước Đại thừa giáo thuần túy. Những bộ kinh điển Đại thừa hoàn bị ở đây đã trở thành nơi bắt nguồn chủ yếu cho Đại thừa giáo Trung Quốc. Năm 1183 Tây lịch, người soạn thuật lịch sử nước Vu-điền chính là một giáo đồ Đại thừa. Trong Tây Vực ký của ngài Huyền Trang có nói rõ, sự việc truyền bá Phật giáo đầu tiên ở nước này cũng lấy Đại thừa giáo truyền bá. Ở thời điểm đầu tiên nhất, Vu-điền vốn chẳng phải là quốc gia thuần túy Đại thừa, vào giữa thế kỷ thứ III Tây lịch, tại nước này hai giáo phái Đại thừa và Tiểu thừa đối kháng nhau và đại để tình thế trên dưới cũng bất hòa. Năm thứ 5 niên hiệu Cam Lộ nhà Ngụy (năm 260 Tl.), vì tìm nguyên
 

61 Tây Vực ký 12, T51n2087_p943c04.
 
bản kinh Đạo hành bát-nhã mà Chu Sĩ Hành đến Vu-điền, tại đây ngài được bản Phạn kinh Phóng quang bát-nhã, dự bị phải đưa về Lạc Dương thì bị giáo đồ Tiểu thừa trong nước đó phản đối, họ dị nghị sự cho phép của quốc vương (xem Lương cao tăng truyện quyển 4).62 Từ sự thật ấy thì biết đương thời Tiểu thừa giáo chiếm ưu thế hơn.
Lại vào năm thứ 7 niên hiệu Thái Khang nhà Tấn (năm 286 Tl.), Sa-môn Kỳ-đa-mật-la (Gitamitra)63 từ nước này đến Trung Quốc, mang theo kinh điển Đại thừa như bộ Hoa nghiêm, Phương đẳng, Bát-nhã... và kinh điển Tiểu thừa như bộ A-hàm... để phiên dịch truyền bá. Nhân đây có thể thấy, cuối thế kỷ thứ III Tây lịch, Phật giáo Đại thừa và Tiểu thừa ở Vu-điền phát triển song song.64 Tây Vực ký của ngài Huyền Trang chép, ngài Tỳ-lô-chiết-na dùng lập trường Đại thừa giáo tán thán thần đức của Như Lai, còn đối với những Thánh giả của Tiểu thừa giáo, ngài thường dùng từ “La-hán” để tôn xưng họ. Không chỉ như vậy mà trong Từ Ân truyện65 còn ghi chép việc La-hán Tỳ-lô-chiết-na giải đáp ý nghĩa “Như Lai” cho quốc vương nghe:
 

62 Cao tăng truyện 4, T50n2059_p346b12.
63 Có thể tên Kỳ-đa-mật-la là do Tác giả (Vũ Khê Liễu Đế) dịch âm theo tên Phạn Gitamitra. Xuất tam tạng ký tập 7, 9, T55n2145_p48a02, p62c01, lại viết là Sa-môn Vu-điền Kỳ-đa-la 祇多羅. Khai Nguyên thích giáo lục 3, T55n2154_p508c24 v.v… ghi: Sa-môn Kỳ-đa-mật (Gitamitra), hoặc Kỳ-mật-đa, thời Tấn gọi là Ca-hữu, người Tây Vực.
Hiện nay vị Sa-môn ấy là một người hay hai người vẫn chưa xác định được, nhưng có thuyết cho rằng là một người mà dịch âm khác nhau.
64 Tham khảo bài tựa “Hợp phóng quang quang tán lược giải”, trong Xuất tam tạng ký tập quyển 7 và Khai Nguyên lục quyển 3. (cht. Tg)
65 Từ Ân truyện 5 (Đại Đường Đại Từ Ân tự Tam tạng pháp sư truyện, 10 quyển, ngài Tuệ Lập soạn thời Đường, ngài Ngạn Tông bổ sung), T50n2053_p251b18.
 
“Như Lai tức là đức hiệu của Phật-đà. Thuở xưa thái tử của vua Tịnh Phạn là Nhất Thiết Nghĩa Thành thương xót chúng sinh chìm đắm trong biển khổ, không ai cứu, không chỗ về, mới bỏ của cải thất bảo thiên tử, địa vị Chuyển luân vương bốn châu; vào rừng vắng cầu đạo, sáu năm thành chánh quả; được thân kim sắc, chứng pháp Vô sư (Vô sư trí), tưới cam lộ (giảng pháp) ở vườn Nai, ngọc Ma-ni rực sáng ở núi Linh Thứu; trong tám mươi năm thị hiện giáo hóa lợi ích an vui, duyên hóa độ đã hết, dừng nghỉ về với Chân như, di tượng, di điển (hình ảnh, kinh điển) truyền lưu còn mãi.”
Lời văn ấy không một chút pha trộn giọng của Đại thừa giáo. Theo lời phê bình của ông Watters, sự chất vấn nghĩa Như Lai trong Từ Ân truyện được giải thích không rõ ràng; đối với Phật giáo việc ấy như thế nào thì hoàn toàn chẳng biết, chỉ theo sự thật phát triển tự nhiên của Phật giáo để giải đáp.66 Nhưng trong Tây Vực ký cho vị La-hán đó giảng giải Như Lai theo quan niệm của Đại thừa giáo, nhận định Như Lai có thần tích sinh diệt, hiển ẩn tự do. So sánh hai truyền thuyết ấy với những điều ghi chép trong Từ Ân truyện là khế hợp với nguồn gốc. Còn thuyết hóa thân trong lịch sử nước Vu-điền có giá trị gì trên phương diện học thuật trong thời hiện nay thì không đợi luận bàn. Vị La-hán của nước Ca-thấp-di-la đầu tiên đến nước Vu-điền khai giáo là ngài Biến Chiếu, hoặc ngài Tỳ-lô-chiết-na, từ tên ấy xem lại và xác định là danh xưng của Đại thừa giáo. Điều này có thể thấy được giáo nghĩa kinh Hoa nghiêm và các kinh Đại thừa khác tại nước Vu-điền đều thịnh hành. Do tín đồ Phật giáo ở Vu-điền có tư tưởng về Phật Lô-xá-na, nên kết quả
 

66 On Yuan Chwang III. PP. 301. (cht. Tg)
 
lấy cái tên Phật ghi trước tên của vị đại sư khai giáo đầu tiên ở nước ấy.
Tóm lại, khoảng thế kỷ thứ I trước Tây lịch, Phật giáo Ấn Độ đã khởi đầu vượt qua cảnh giới mẫu quốc, hướng về phía Đông mà truyền bá. Nước Vu-điền vào thời đó, do Cao tăng của Ca-thấp-di-la truyền Phật giáo Tiểu thừa vào là điều không phải hoài nghi nữa.
Chúng ta lại đặt vấn đề, nước Qui-tư là điểm trung tâm của giới Phật giáo, nằm trên con đường phía Bắc,67 vùng lòng chảo Tarim, Phật giáo truyền đến đó từ thời nào? Muốn trả lời vấn đề này, ngoài tư liệu về truyền thuyết Phật giáo truyền đến Vu-điền, vẫn còn khuyết thiếu nhiều, bắt buộc chúng ta phải dựa vào sự giao thiệp Phật giáo giữa Qui-tư và Trung Quốc để làm điểm tựa nghiên cứu thêm.
Qui-tư ở con đường phía Bắc như Vu-điền ở con đường phía Nam (Nam đạo), đều là nơi trọng yếu, các nước Đại Nguyệt Thị, An Tức, Khương Cư và Ấn Độ giao thông với Trung Quốc đều chọn con đường phía Bắc, do đó phải thông qua nước này. Truyện Tây Nhung trong Ngụy lược68 từng ghi chép, năm đầu niên hiệu Nguyên Thọ đời Hán Ai Đế (năm thứ 2 trước Tây lịch), sứ giả của vua nước Đại Nguyệt Thị là Y Tồn đến Trung Quốc trao kinh Phật bằng khẩu truyền.69 Lúc bấy giờ, Đại Nguyệt Thị bị Đại Hạ chiếm cứ, từ Đại Hạ truyền giáo đến Trung Quốc nhất định phải đi qua nước này
 

67 Hán: Bắc đạo 北道. Thời xưa, từ Trung Quốc đến Tây Vực có hai con đường giao thông chính yếu là hướng Nam (Nam đạo) và hướng Bắc (bắc đạo).
68 Ngụy lược 魏略, do Ngư Hoạn soạn đời nhà Ngụy thời Tam Quốc, tất cả 54 quyển (có thuyết là 38 quyển).
69 Xem cht. 16, tr. 20, và bài “Phật giáo và Tây Vực” tr. 22.
 
là không nghi ngờ gì. Trước kỷ nguyên Tây lịch, Phật giáo từ Ca-thấp-di-la du nhập Vu-điền, tuy sử liệu khuyết thiếu, tất nhiên không dám nói, nhưng những nước từ núi Thông Lĩnh về phía Tây, thông qua phương Đông bằng con đường thông suốt duy nhất phải là nước Qui-tư; cho nên nước này đã thấm nhuần văn hóa Phật giáo vào thời đại rất sớm, mà lúc bấy giờ Kāshgar (Sơ-lặc) thời Hán có quan hệ chính trị với Trung Quốc và sứ thần qua lại rất nhiều. Như vậy xét từ nhiều phương diện thì Phật giáo truyền vào Qui-tư đương nhiên rất sớm.
Lại khảo sát theo phương diện địa lý, Phật giáo truyền vào nước này so với truyền đến Trung Quốc, tất nhiên sớm hơn một chút. Từ giữa thế kỷ thứ III Tây lịch trở về sau, ở Qui-tư, Sa-môn, cư sĩ, quan lại đều xuất thân từ vương tộc, và đời sống, sự nghiệp của họ mười phần là truyền bá Phật giáo. Sử liệu Trung Quốc ghi chép, người Tây Vực mang họ Bạch là “trắng 白”, hoặc Bạch là “lụa 帛” đều thuộc vương tộc Qui-tư. Nếu khảo cứu Chính sử, Kinh lục và Tăng truyện trong sách Đường thư trở về trước thì có thể sáng tỏ điểm ấy.
Năm thứ 258 kỷ nguyên Tây lịch, tại Lạc Dương, Sa-môn Bạch Diên truyền dịch kinh Vô lượng thanh tịnh bình đẳng giác 2 quyển, kinh Trừ tai hoạn 1 quyển.70 Năm thứ 258 Tây lịch, lúc ngài Pháp Hộ dịch kinh Pháp hoa, Sa-môn Thiên Trúc là Trúc Lực và cư sĩ Bạch Nguyên Tín đảm nhiệm việc tham khảo hiệu đính.71 Khoảng năm Vĩnh Gia nhà Tây Tấn (Từ năm 307 đến năm 312 Tl.), Bạch Thi-lê-mật-đa-la (Srimitra) đến Trung Quốc (thời Nguyên Đế nhà Đông Tấn, từ năm 317 đến năm 322 Tl.), dịch được ba bộ
 

70 Khai Nguyên lục 1. (cht. Tg)
71 Xem Chánh pháp hoa hậu ký trong Xuất tam tạng ký tập 8. (cht. Tg)
 
kinh Mật giáo như kinh Quán đảnh v.v...72 Năm thứ 373 Tây lịch, cư sĩ nước Nguyệt Chi là Chi Thi-luân tụng (khẩu dịch) kinh Thủ lăng-nghiêm và những kinh điển khác, người chịu trách nhiệm phiên dịch là Bạch Diên.73 Những người ấy đều là vương tộc của nước Qui-tư. Đặc biệt là Bạch Diên, người được nói sau cùng, tương truyền ngài là thế tử của vua Qui Từ 歸慈 (Qui-tư 龜玆). Năm thứ 284 Tây lịch, lại có ngài Pháp Hộ dịch kinh A-duy-việt-trí-già74 (kinh Bất thối chuyển pháp luân) bản chữ Phạn tại Đôn Hoàng, do chính tay Phó sứ nước Qui-tư là Khương Tử Hầu mang đến. Như vậy rõ ràng là không những Sa-môn và cư sĩ trong vương tộc nước Qui-tư đến Trung Quốc truyền dịch, hoặc giúp đỡ dịch kinh mà còn có quan lại nước Qui-tư mang theo kinh điển Phật đến Đôn Hoàng, được người Trung Quốc tiếp đãi, cung kính như bậc Sa-môn. Kỳ thật Phật giáo trong xã hội thượng lưu ở Qui-tư chiếm thế lực lớn, và trong lòng tín đồ Phật giáo cũng có nhiệt tình sâu đậm với việc truyền giáo. Căn cứ vào điều này chúng ta có thể kết luận, khi Phật giáo truyền đến nước này trở về sau, điều quan trọng là phải trải qua thời gian rất lâu mới gặt hái được thành quả như vậy. Phật tử nước Qui-tư hoạt động tích cực tự phát, đã thử đến Trung Quốc truyền giáo, khi bắt đầu đến Trung Quốc truyền bá Phật giáo trở về sau, họ đã tốn công sức hơn hai trăm năm, chúng ta kiểm nghiệm chứng cớ sự thật ghi chép trong điển tịch thì sáng tỏ ngay. Do đó, thời đại Phật giáo đầu tiên truyền vào nước Qui-tư xem ra phải ở trước hoặc sau kỷ nguyên Tây lịch.
 

72 Khai Nguyên lục 3. (cht. Tg)
73 Xem Thủ lăng-nghiêm hậu ký trong Xuất tam tạng ký tập 7. (cht. Tg)
74 Xem A-duy-việt-trí-già kinh ký trong Xuất tam tạng ký tập 7. (cht. Tg)
 
Theo việc thuật lại sau đây, nước Qui-tư từ ngài La-thập trở về sau, do người Đổ-hóa-la (Tochari)75 sinh hoạt tin và hành theo Tiểu thừa Hữu bộ, dần dần trở thành nước Tiểu thừa giáo thuần túy. Trong các phái Tiểu thừa ở nước ấy thì Nhất thiết hữu bộ là chiếm ưu thế nhất. Sự thật này có thể dựa vào tư liệu ghi chép của ngài Huyền Trang (Tây Vực ký quyển 1) và bức bích họa tự viện phát hiện nơi ấy thì không hoài nghi gì.76 Nhưng trước hoặc sau thời đại ngài La-thập, Phật giáo Đại thừa và Tiểu thừa đều lưu hành song song, chúng ta căn cứ theo kinh điển do nước này truyền vào Trung Quốc thì có thể biết được.
Cuối cùng, thời kỳ Phật giáo truyền đến nước Cao Xương, hoàn toàn không đủ tư liệu cho chúng ta khảo cứu, thật là một việc đáng buồn. Thời Hán gọi nước Cao Xương là Xa Sư Tiền Bộ,77 lấy thành Giao Hà (nay là Yarkhoto) làm trung tâm, thế lực của họ phát triển đến tận đất Turfan hiện nay, biên giới Xa Sư Tiền Bộ rất nhỏ, lãnh thổ phía Đông là Pidjan78 hiện nay. Thời Bắc Ngụy, hình như nước này đổi tên
 

75 Đổ-hóa-la 覩貨羅: Skt. Tukhāra, Tuḥkhāra…, E. Tokharian (từ gốc), Tocharian (biến thể), hoặc gọi Thổ-hoả-la, Thổ-hô-la. Một nước xưa phía Tây nam cao nguyên Pamir và thượng du sông Oxus. Nước này nằm ở vùng trọng yếu từ phía Đông Thổ-nhĩ-kỳ đến Ba-tư, Ấn Độ; vốn là một vùng đất của đế quốc Ba-tư. Tiếng Đổ-hóa-la thuộc ngữ hệ Ấn-Âu, khác với ngữ hệ các nước Ấn Độ, Iran láng giềng. Ngoài ra, còn gọi Đổ-hóa-la ngữ A (Tocharian A) là chỉ Phương ngôn tiếng Đổ-hóa-la Nam bộ; Đổ-hóa-la ngữ B (Tocharian B) là chỉ Phương ngôn tiếng Đổ-hóa-la Bắc bộ.
76 E. Waldschmidt: Gandbara Kutscha Turfan 1925, 5. 76. (cht. Tg)
77 Xa Sư Tiền Bộ: Xa Sư (車師) là một trong những nước ở Tây Vực thời Hán. Thời Hán Tuyên Đế phân chia trước sau hai nước, Xa Sư Tiền Bộ (Xa Sư Tiền Quốc) và Xa Sư Hậu Bộ (Xa Sư Hậu Quốc). Vị trí của hai nước hiện đều thuộc tỉnh Tân Cương.
78 O. Franke: Eine Chinesischen Tempelinschrift aus Idikutsahri, S. 30. (cht. Tg)
 
 là Cao Xương, thủ phủ là ngôi thành hoang phế Idikutsahri, gần Karakhodja hiện nay, và chiếm cứ cả lãnh thổ của Xa Sư Tiền Bộ xưa.79 Phật giáo truyền đến Cao Xương, về quan hệ trên mặt địa lý so với những nước Khotan và Qui-tư thì chậm hơn, đó là sự thật. Nhưng Phật giáo thời đất nước còn gọi là Xa Sư Tiền Bộ thì rất thịnh hành. Đến hậu bán thế kỷ thứ IV Tây lịch, Cao Xương đã dùng Phật giáo làm quốc giáo. Năm thứ 382 Tây lịch, vua Xa Sư Tiền Bộ là Di-đệ triều cống Phù Tần, quốc sư nước Xa Sư Tiền Bộ là Cưu-ma-la-bạt-đề (Kumarabhadra) hiến tặng một bộ kinh Đại bát-nhã80 bản chữ Phạn. Theo cách gọi “Quốc sư” có thể  biết nước đó có quốc giáo. Truyện Phù Kiên trong Tấn thư quyển 114 có ghi, năm Thái Nguyên thứ 7 Hiếu Võ đế (năm 382 Tl.), vua Xa Sư Tiền Bộ là Di-trí đến triều cống nhà Tần. Chữ “Đệ 第” có âm “Ti”, chữ “Trí 寘” có âm “Tien”, “Di-đệ 彌第” cùng “Di-trí 彌寘” là dịch âm, chỉ là một tên; vả lại niên đại đến triều cống ở hai chỗ ghi chép đều nhất trí. Thế thì hai tên ấy là một người, không gì hoài nghi. Vậy thời hậu bán thế kỷ thứ IV Tây lịch, vua Xa Sư Tiền Bộ Di-trí chính là một tín đồ Phật giáo, ông lại tôn Cưu-ma-la-bạt-đề làm quốc sư càng thấy sự sùng kính Phật giáo của ông. Vậy lúc bấy giờ, Cao Xương lấy Phật giáo làm quốc giáo là chắc chắn, không cần giải thích nữa. Đương thời cơ sở Phật giáo nước ấy vững mạnh như vậy thì có thể đoán biết thời kỳ Phật giáo đầu tiên truyền vào Cao Xương tối thiểu là khoảng thế kỷ thứ I, hay thứ II trở về trước, và nước Cao Xương là quốc thổ tương ứng với Đại thừa. Từ lúc vua Di-trí tặng kinh điển cho Phù Kiên trở về sau, Tăng lữ và kinh điển Phật giáo nước này cùng Trung
 

79 Đồng với sách trước (cht. 78) trang thứ 20. (cht. Tg)
80 Xem “Ma-ha-bát-la-mật kinh sao tự” trong Xuất tam tạng ký tập 8 (T55n2145, p52b10). (cht. Tg)
 
/75
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
🙏 Trợ Lý Phật Pháp AI »