nhiên của núi đồi mà xây dựng thành lũy để tự vệ, mới có thể độc lập bảo vệ nước mình. Nhưng đến năm 1339 Tây lịch, Shāh Mir bắt đầu mở vương triều Hồi giáo ở nước này. Sự phồn vinh của Phật giáo 1.500 năm ở nước này đến đây tàn diệt hoàn toàn.
V. PHẬT GIÁO NƯỚC KIỀN-ĐÀ-LA
Trong thư tịch cổ đại Trung Quốc ghi chép, nước Càn-đà-la, Kiền-đà-la, Kiện-đà-la, Càn-đà v.v… là dịch âm của từ Gandhāra hoặc Gāndhāra, còn nước gọi là Càn-đà-vệ, Kiền-đà-việt v.v… là dịch âm từ Gandhavat. Ngoài ra, trong Ngụy thư và Tống Vân hành ký, đều lấy Kiền-đà-la viết thành Nghiệp-ba hoặc Nghiệp-ba-la (Gōpāla), nhưng đây chẳng qua là âm dịch của một địa điểm nhất thời. Từ thế kỷ thứ V Tây lịch trở về sau, nước Kiền-đà-la mất về tay Áp-đạt, từ đó trong sách vở chẳng thấy ghi chép tên nước ấy (T. Watters: On Yuan Chwang, I. trang 199-200).
Khu vực của nước này, sách vở xưa ghi chép phần nhiều không nhất định, từ thời đại Alexander trở về trước, trong Tô-tây-mã truyện (Susima Jataka) cho là vùng Đát-xoa-thỉ-la, tức là Taxila ngày nay, là bên trong nước Kiền-đà-la. Thời đại vua Asoka, ngài Mạt-điền-đề (Madhyāntika) từng đi đến Kế Tân và Kiền-đà-la truyền giáo, lúc bấy giờ nước Kiền-đà-la tiếp giáp gần nước Ca-thấp-di-la, bao quát vùng đất Taxila ngày nay. Ông Strabo và Ptolemy đều ghi vùng đất của hai bờ sông Kophes là sông Kabul ngày nay, cũng là đất sở tại của nước này. Từ thế kỷ thứ I trước Tây lịch trở về sau, cương vực của nước Kiền-đà-la hình như chỉ giới hạn ở mặt Tây sông Ấn Độ, nhất trí với sách vở Trung Quốc đã ghi, vị trí Kiền-đà-la ở về phía Tây sông Ấn Độ. Nhưng truyện của ngài Pháp Hiển thì ghi nước này từ Purushapura đi về phía
Bắc bốn ngày đường. Thời kỳ đầu thế kỷ thứ V Tây lịch, hình như nước này ở tại miền Bắc Kabul. Ngụy thư lại ghi thành Phú-lâu-sa (Purushapura) là thủ đô của nước Tiểu Nguyệt Thị và cho rằng nước Càn-đà ở phía Tây nước Ô-trường (Udyāna). Đến thời ngài Huyền Trang thì thủ đô nước này là thành Bố-lộ-sa, tức là trung tâm Peshawar ngày nay, đất gần thành ấy đều thuộc về nước đó. Tên thành ấy (tiếng Phạn) là “Puruṣapura” (Phú-lâu-sa-phú-la), vì thần Viṣṇu từng chinh phục A-tu-la (Asura)49 đáng sợ; A-tu-la ý nói là Trượng Phu nên Đường cao tăng truyện quyển 2,50 dịch ý thành này là Trượng Phu Cung.
Đến với Phật giáo Kiền-đà-la, vào thời vua Asoka từng sai phái ngài Mạt-điền-đề đến đây truyền giáo mà văn trước đã thuật rồi. Nhưng về sau tình hình Phật giáo của nước này so với Ca-thấp-di-la còn khó tra khảo hơn, một việc thật đáng tiếc. Như đã thuật ở trước, từ năm 58 trước Tây lịch trở về sau, vua Quí-sương Kaniṣka đời thứ nhất đóng đô ở thành Bố-lộ-sa, thống trị vùng lãnh thổ rộng lớn, mà lúc bấy giờ Kiền-đà-la là trung tâm chính trị của vương triều ấy, đồng thời cũng là vùng đất trọng yếu của văn hóa Đông-Tây. Vào những năm cuối đời, nhà vua lại qui y Phật giáo, ông đã xây dựng một ngôi tháp lớn tại đô thành, rất trang nghiêm hoa lệ. Cơ sở của nghệ thuật Phật giáo Kiền-đà-la hình như được thành lập vào thời của nhà vua. Mỹ thuật Phật giáo hình thức Kiền-đà-la ở trên lịch sử mỹ thuật thế giới là một chi nhánh của mỹ thuật Hy Lạp, La-mã cổ đại. Hình thức điêu khắc và kiến trúc của nghệ thuật ấy ảnh hưởng rất lớn đến nghệ thuật Phật giáo. Những năm gần đây, khai quật vùng gần
49 A-tu-la 阿修羅: Skt. Asura, dịch Phi thiên (hình thể không giống chư thiên); loại quỉ thần hiếu chiến, thường đánh nhau với trời Đế-thích.
50 Tục cao tăng truyện 2, T50n2060_p433b13.
Peshāwar, tìm được nhiều di vật thời bấy giờ, đều quan hệ đến tượng đá điêu khắc việc Phật truyền giáo. Bởi vì khoảng thời gian ấy, nghệ thuật Phật giáo Kiền-đà-la rất hưng thịnh, biểu hiện tất cả lý tưởng trong truyện Phật đều lấy các hình thức nghệ thuật Hy Lạp. Song cách điêu khắc theo hình thức này, từ thời vua Kaniṣka đời thứ nhất trở về sau, đến thế kỷ thứ II Tây lịch, tức là thời vua Kaniṣka đời thứ hai đã phát triển đến đỉnh cao (Smith: Early History of India, 2nd. Ed. trang 248). Ông Grunwedel và Foucher đã nghiên cứu nghệ thuật Phật giáo, liên quan đến hình thức Kiền-đà-la rất sâu sắc tỉ mẩn, đạt đến trình độ cao; ở đây chúng tôi cũng muốn giới thiệu nhưng do ngôn từ quá dài nên xin lược qua không thuật.
Những vị vua ở khoảng thời gian vua Kaniṣka đời thứ nhất, đến vua Kaniṣka đời thứ hai như Huviṣka, Kujula đều là tín đồ Phật giáo, nhưng các vị vua như Vāsudeva, Wema lại là tín đồ Bà-la-môn giáo, nên Phật giáo Kiền-đà-la vào thời các vị vua ấy đại khái cũng theo tăng giảm, ngày nay không biết hết được.
Phật giáo Kiền-đà-la cũng giống với Ca-thấp-di-la, từ xưa đến nay đều ở trong phạm vi thế lực Tiểu thừa Hữu bộ. Như ngài Thế Hữu, ngài Pháp Cứu (Dharmatrāta - Đạt-ma-đát-la-đa), Hiếp Tỳ-kheo v.v… đều là những đại sư của Hữu bộ nước Kiền-đà-la. Ngài Thế Hữu là người chủ trương giáo nghĩa Hữu bộ chính thống, nghĩa lý chính trong Đại Tỳ-bà-sa luận hầu như đều căn cứ vào thuyết của ngài, học giả Hữu bộ rất tôn kính ngài. Trước tác chủ yếu của ngài, đương nhiên là khó nói, ngài từng ở trong một ngôi tháp do vua Asoka kiến tạo ngay trong nước, nằm ở phía Đông thành Puskaravatī, nay là Hashtnagar, trước tác A-tỳ-đạt-ma phẩm loại túc luận 18 quyển (Chúng sự phân A-tỳ-đàm luận 12 quyển, tức là bản
dịch khác bộ luận ấy). Sách này đối với việc biên tập diễn giải Đại Tỳ-bà-sa luận trở về trước là tác phẩm vượt trội hơn các sách luận chỉnh lý lời dạy của Phật. Trong kinh tạng Hán dịch có 3 quyển A-tỳ-đạt-ma giới thân túc luận do ngài trước tác, tuy còn nhưng theo thuyết của ông Tùng Bản Văn thì sách này không phải do ngài trước tác, mà Phật giáo đồ đời sau có người không thích sự rắc rối trong Phẩm loại túc luận của ngài Thế Hữu nên san định lại thành sách đó, tức là Giới thân luận. Ngài Khuy Cơ làm bài tựa hậu Giới thân túc luận51 nói rằng:
“Giới thân túc luận là nói ‘nhất túc’ của Nhất thiết hữu bộ phát trí lục túc vậy… Nguyên Đại bản tụng ấy có 6.000, nên hoặc san định lược đi thành 900 tụng, hoặc 500 tụng, nay phiên dịch sách này có 830 tụng. Khiến cho văn trong sáng, nghĩa khỏi tăng giảm…. là việc làm của tôn giả Thế Hữu.”
Chúng ta xem lời văn trên, lấy nội dung trong Phẩm loại túc luận, Giới thân túc luận để so sánh, phân tích lượng định, thì điều mà ngài Khuy Cơ gọi là “Đại bản” tức Giới thân túc luận. Cho nên Giới thân túc luận có liên hệ đến sự trước tác của ngài Thế Hữu mà thành, nhất định không phải do ngài tự trước tác. Lại tương truyền 10 quyển Tôn-bà-tu-mật Bồ-tát sở tập luận là của ngài Thế Hữu soạn thuật, nhưng xem lại cũng do đệ tử ngài Thế Hữu theo sau biên tập, chẳng phải do ngài Thế Hữu trước tác; biết được điều này là do có một đoạn
51 A-tỳ-đạt-ma giới thân túc luận 3 (Tôn giả Thế Hữu tạo, Huyền Trang dịch, 3 quyển), T26n1540_p625c9.
trong sách ghi: “Tôn-bà-tu-mật nói”.52 Còn có 1 quyển Dị bộ tông luận (hoặc Bộ chấp dị luận, Thập bát bộ luận, tức là bản dịch khác của bộ luận ấy) cũng do ngài soạn thuật. Sách này tuy không có quan hệ gì đối với học thuyết của ngài, nhưng trong ấy bàn luận về cuộc tranh luận và sự chia cắt thành các tiểu phái Phật giáo, mà trên phương diện nghiên cứu lịch sử Phật giáo quả thật là vật báu lớn, không thể khuyết thiếu được.
Thứ đến là ngài Pháp Cứu, cũng cùng với ngài Thế Hữu là một trong Tứ đại luận sư Bà-sa (Tỳ-bà-sa), 2 quyển kinh Pháp cú hình như là do ngài soạn thuật. Trong tạng kinh Hán dịch, 2 quyển Tỳ-bà-sa luận, 11 quyển Tạp A-tỳ-đàm tâm luận cũng được biên tập, nhập vào trước thuật của ngài Pháp Cứu. Nhưng xem nội dung các bản sách, thật rõ ràng là những trước thuật đó thành lập sau Đại Tỳ-bà-sa luận. Vậy học thuyết của ngài, ngoại trừ những dẫn dụ trong Đại-tỳ-bà-sa luận, thật không biết theo đâu để nghiên cứu. Tuy nhiên, học thuyết của ngài thấy trong Đại Tỳ-bà-sa luận, cùng với giáo nghĩa của Hữu bộ chính thống rất khác lạ về mục đích, ý nghĩa. Như “Các tâm tâm sở53 là tư tưởng sai biệt, nên Thế đệ nhất pháp54 lấy tư tưởng làm tự tính” (Đại Tỳ-bà-sa luận
52 Tôn-bà-tu-mật Bồ-tát sở tập luận, 10 quyển, Tôn-bà-tu-mật tạo, Tăng-già-bạt-trừng v.v… dịch thời Phù Tần. Theo thuyết các học giả cận đại thì tác giả Tôn-bà-tu-mật của luận này và ngài Thế Hữu có khả năng là một người; cũng có thuyết cho rằng luận này có thể do đệ tử hoặc người đời sau soạn tập, vì căn cứ câu “Tôn-bà-tu-mật thuyết 尊婆須蜜說” trong “Tôn-bà-tu-mật Bồ-tát sở tập luận 1” (T28n1549_p722a24).
53 Tâm tâm sở 心心所: Tâm vương và Tâm sở.
54 A-tỳ-đạt-ma đại tỳ-bà-sa luận 3, T27n1545_p11b08: “Sao gọi là Thế đệ nhất pháp? – Đáp, là tâm tâm sở pháp đối với pháp thế gian là tối, là thắng, là trưởng, là tôn, là thượng, là diệu nên gọi Thế đệ nhất pháp. Tâm tâm sở này đối với các pháp thế gian đều tối thắng nên nói đệ nhất”.
quyển 2), lại nữa “Trong sắc có hai chẳng phải thật có, nghĩa là tạo xúc và pháp xứ sắc55…… Nếu không có pháp xứ sở nhiếp sắc thì Vô biểu giới chẳng có” (Tỳ-bà-sa luận quyển 127). Lại nữa “Hỏi: Vì sao mạng căn không thật thể? Đáp: Mạng căn là chẳng tương ưng với sự nhiếp lấy của hành uẩn, (kia nói) chẳng tương ưng hành uẩn, không thật thể vậy.” v.v…, những tư tưởng ấy hoàn toàn tương phản với giáo nghĩa của Hữu bộ chính thống, mà gần với tư tưởng Đại chúng bộ.
Hai vị khác trong Tứ đại luận sư Bà-sa là Diệu Âm (Ghoṣa - Cù-sa), và Giác Thiên (Buddhadeva - Phật-đà-đề-bà). Các vị ấy thuộc giáo hệ nào tại bổn quốc, tuy không thể biết, nhưng sự biểu hiện tư tưởng của họ trong Đại-tỳ-bà-sa luận thì xa cách tông nghĩa Hữu bộ. Duy chỉ có ngài Thế Hữu, ngài Hiếp Tôn giả là chính tông Hữu bộ. Tuy ở trong nước này, học giả Hữu bộ từng chịu sự cảm hóa của tư tưởng Đại chúng bộ nhưng không phải nhất mực bảo thủ cựu thuyết. Đến như giáo đồ của dị thuyết như ngài Pháp Cứu vẫn có thế lực trong giới Phật giáo Kiền-đà-la. Trong Đại Tỳ-bà-sa luận và Câu-xá luận, có tên một người gọi là Tây Phương Sư, thật ra là một nhà dị thuyết xuất thân ở Hữu bộ chính thống nước Ca-thấp-di-la, mà phê phán đả kích
55 Pháp xứ sắc: Hay gọi Pháp xứ sở nhiếp sắc 法處所攝色. Đại thừa A-tỳ-đạt-ma tạp tập luận 1, T31n1606_p696b27, “Pháp xứ sở nhiếp sắc, lược có 5 loại: Cực lược sắc, Cực huýnh sắc, Thọ sở dẫn sắc, Biến kế sở khởi sắc, Tự tại sở sinh sắc. Cực lược sắc là cực vi sắc; Cực huýnh sắc là lìa loại này khác đi thì ngăn ngại xúc sắc (phân tích những hiển sắc không có tính ngăn ngại như: Hư không, xanh, vàng v.v… và các không giới sắc như: Sáng, tối, bóng ảnh… cho đến chỗ cực vi là điều rất khó, nên gọi là Cực huýnh sắc); Thọ sở dẫn sắc là Vô biểu sắc (sắc dẫn phát trong thân mình do được thọ giới); Biến kế sở khởi sắc là ảnh tượng sắc; Tự tại sở sinh sắc là cảnh sắc hành tĩnh lự giải thoát”.
chính nghĩa. Nếu chúng ta bình tâm luận bàn về học thuyết của ngài Tây Phương Sư nước Kiền-đà-la thì thật sự so với giáo nghĩa của bản tông nước Ca-thấp-di-la là tiến bộ lớn. Đến hậu bán thế kỷ thứ V Tây lịch, Câu-xá luận của Thế Thân xuất hiện liền tập đại thành Hữu bộ, lúc ấy nước Kiền-đà-la mới tiến bộ.
Ngài Thế Thân sinh ra trong gia đình Bà-la-môn giáo, ở Kiền-đà-la, cha tên là Kiều-thi-ca (Kausika), anh em có ba người, anh tên là Vô Trước, em tên là Bỉ-lân-trì-bạt-bà (Viriñci-Vasta). Sau khi xuất gia, ngài vào nước Ca-thấp-di-la nghiên cứu Nhất thiết hữu bộ, rồi trở lại bổn quốc giảng nghĩa lý của Tỳ-bà-sa luận, mỗi ngày làm một bài kệ, tích lũy được 600 bài kệ, đưa đến cho các luận sư nước Ca-thấp-di-la. Những vị đó xem kệ, rất vui mừng về việc tuyên dương chánh pháp của ngài, song lại lo lắng những ý khó giải trong kệ của ngài, nên đưa lại cho ngài Thế Thân, xin ngài dùng “trường hàng” viết tiếp bên dưới bài kệ để giải thích. Ngài đã làm trường hàng giải thích kệ, không lấy chánh nghĩa Hữu bộ mà dùng nghĩa lý của Kinh bộ đả phá Hữu bộ, nên lấy tên là A-tỳ-đạt-ma Câu-xá luận. Các luận sư Ca-thấp-di-la thấy những giải thích đó tự biết giáo nghĩa mình chấp trì đã bị ngài đả phá nên rất lo sợ. Thật ra mà nói, những điều biểu hiện trong Câu-xá luận đều là tư tưởng mới, đi ngược lại chính nghĩa Hữu bộ, nay nêu lên vài điểm quan trọng để làm sáng tỏ vấn đề đó.
Hữu bộ đối với việc phân chia “cực vi”, cho cực vi thuộc vuông tròn dài ngắn v.v…, thuyết ấy rất là mờ tối không rõ ràng, ngài Thế Thân cho là vì vật rất nhỏ (cực vi), lượng của chúng quá bé (cực tiểu), tuy đến mức không thể biết, nhưng không đến nỗi không có vật. Lại nữa, Hữu bộ nói pháp thể hằng hữu, không chỉ tứ đại mà thôi, vượt xa tứ đại, tất cả các
pháp đều là thực tại. Tuy ngài Thế Thân cũng nhận tứ đại thường trụ, nhưng còn các pháp khác đều là tứ đại hòa hợp mà thành, thật ra chúng đồng với không, chẳng qua có một là tùy theo tác dụng của tâm chúng ta, một khi lìa khỏi tâm thì tác dụng của tâm liền không. Tất cả pháp nơi tâm cũng chẳng phải thực tại, tứ đại và tâm là thực tại, mà phủ định tất cả các pháp khác. Khi nhìn qua thuyết ấy thì biết là luận tâm-vật nhị nguyên. Nhưng thuyết tứ đại thường trụ ấy lại đồng với Hữu bộ, chẳng tránh khỏi là luận đa nguyên. Hữu bộ lại có thuyết tam thế thật hữu (ba đời thật có), căn cứ thuyết của ngài Thế Hữu là quá khứ, hiện tại, vị lai, thể của chúng đều tồn tại hằng thường. Còn ngài Thế Thân thì lấy nghĩa của Kinh bộ, cho là chỉ có hiện tại là thật hữu; quá khứ, vị lai đều không có cái thể ấy. Ngoài những điều này ra, ngài Thế Thân tán đồng tư tưởng Kinh bộ mà phản đối tông nghĩa của Hữu bộ rất nhiều, nay không thể nói đầy đủ chi tiết.
Khi ngài Thế Thân ở nước Kiền-đà-la, thọ giáo với luận sư Như Ý (Manoratha - Mạt-nô-hạt-lạt-tha). Căn cứ Tây Vực ký quyển 2, luận sư đã trước tác Tỳ-bà-sa luận ở thành Bố-lộ-sa, mà nội dung luận ấy ra sao không biết được. Nhưng không biết có phải là dùng nghĩa Kinh bộ để giải thích Đại Tỳ-bà-sa luận hay không? Luận sư Như Ý đã làm việc gì đó bị vua Siêu Nhật (Vikramaditya - Tỳ-cật-la-ma-a-dật-đa) giận dữ, nhà vua ép ngài cùng với bậc cao đức ngoại đạo biện luận với nhau, rồi phán định ngài biện luận thua, luận sư xấu hổ, cắn lưỡi chết, lúc sắp chết di thư cho đệ tử ngài là Thế Thân mà răn bảo. Sau khi luận sư chết, không bao lâu vua Siêu Nhật cũng mất, vua Tân Nhật (Bālāditya - Bà-la-thất-để) lên ngôi, qui y ngài Thế Thân. Ngài Thế Thân xin với nhà vua, được luận đạo với ngoại đạo, họ đều bại trước ngài, rửa sạch được mối sỉ nhục của
tiên sư. Ngài Thế Thân đáp ứng lời thỉnh của nhà vua, lưu lại nước A-du-xà (Ayodhyā), theo sự chỉ bảo của người anh là ngài Vô Trước, liền bỏ Tiểu thừa về với Đại Thừa. Sau đó, ngài chuyên nghiên cứu Đại thừa giáo, đi khắp vùng đất Trung Ấn Độ như nước Kiều-thưởng-di (Kausāmbī) v.v…, tuyên dương Đại thừa giáo, trước tác hàng trăm bộ luận Đại thừa, trong số ấy có Duy thức nhị thập luận, Duy thức tam thập luận, Phật tính luận, Đại thừa thành nghiệp luận, Đại thừa bách pháp minh môn luận, Đại thừa ngũ uẩn luận, Biện trung biên luận, Trung biên phân biệt luận v.v… và luận giải các kinh như kinh Thập địa, Pháp hoa, Niết-bàn, Kim cương bát-nhã, Vô lượng thọ, Di giáo, Chuyển pháp luân v.v..., đều còn trong tạng Hán dịch. Đệ tử thân cận chịu sự giáo hóa của ngài có đến hàng ngàn người, vào khoảng năm 500 Tây lịch, ngài mất ở nước A-du-xà, thọ 80 tuổi.
Anh ngài Thế Thân là ngài Vô Trước, cũng xuất gia ở nước Kiền-đà-la, tu học theo Hóa địa bộ, song chẳng thỏa được chí, chuyển đến phương Đông, thọ giáo với một vị La-hán, cũng không thỏa mãn ý nguyện, ngài mới đến Trung Ấn Độ, học Đại thừa Không luận. Ở nước A-du-xà, ngài nhập thiền định tam-muội, lên trời Đổ-sử-đa (Tusita - Đâu-suất thiên), hội kiến Bồ-tát Di-lặc, thọ lãnh Du-già sư địa luận, Trang nghiêm đại thừa kinh luận, Trung biên phân biệt luận v.v…., rồi vì đại chúng nói rộng diệu lý, lại ở đất này giáo hóa em là Thế Thân qui y Đại thừa, du hóa ở nước Kiều-thưởng-di, ngài Thế Thân tịch trước ngài 25 năm. Ngài hưởng thọ tuổi cao trên một trăm tuổi. Những trước tác của ngài hiện còn trong kinh tạng Hán dịch, có Nhiếp đại thừa luận, Hiển dương thánh giáo luận, Đại thừa A-tỳ-đạt-ma tập luận v.v...
Thời ngài Vô Trước, Thế Thân, nước Kiền-đà-la có ít nhiều Đại thừa giáo lưu hành, đến khi ngài Pháp Hiển đi tới nước này, tức là thời kỳ đầu thế kỷ thứ V Tây lịch, Tiểu thừa giáo vẫn thịnh hành, ngài từng nói là “người nước này phần nhiều học Tiểu thừa”. Lúc bấy giờ thành Purushapura có Tăng đồ ước chừng 700 người. Ngài Pháp Hiển nói cái bát Phật trong thành này rất là thần bí, ghi lại như sau:
“Đến giờ ngọ, chúng Tăng đem bát ra, rồi cùng với bạch y (cư sĩ) v.v… cúng dường đủ thứ, sau đó mới ngọ trai (ăn trưa), đến buổi chiều đốt hương lại cúng dường như vậy. Bát có thể dung chứa được 2 thăng, màu sắc xen lẫn mà màu đen nhiều, bốn mép phân minh, phân đều cân đối, nhuần sáng trong suốt, người nghèo đem ít hoa cho vào trong bát liền đầy, có kẻ đại phú muốn đem nhiều hoa cúng dường bỏ vào đến trăm ngàn vạn hộc, rốt cuộc chẳng thể đầy.”56
Từ thời ngài Pháp Hiển trở về sau chừng 50 năm, nước này bị tín đồ dị giáo Áp-đạt tiêu diệt. Năm 552 Tây lịch, lúc ngài Tống Vân đến nước này, nơi đây còn trong phạm vi thế lực của Áp-đạt, vua (Mihiragula?) nước ấy rất lãnh đạm khi gặp ngài Tống Vân. Vậy đương thời, Phật giáo nước này từng bị nhiều ngược đãi, nhưng ngài Tống Vân cho rằng dân nước ấy vẫn sùng tín Phật giáo, thích đọc kinh điển. Ngài Tống Vân nói rằng trong, ngoài thành Phất-sa-phục — tức là nơi ngài Huyền Trang gọi là thành Bạt-lỗ-sa (Palusa), ông Khương Lâm Hãn cho là thành Puskaravastī, nay là Palohheri ở cách Hashtnagar chừng 40 dặm (Cunningham: The Ancient Geography of India, trang 51-52) — có rất nhiều ngôi Già-lam cổ, các danh Tăng đức hạnh cao xa cư trú ở đó, phía Bắc
56 Cao tăng Pháp Hiển truyện 1, T51n2085_p858b28.
thành một dặm, có chùa Bạch Tượng Cung, bên trong trang nghiêm hoa lệ, sáng lòa hoa cả mắt, nhiều tượng Phật đá tô đắp thếp vàng, lại trước chùa buộc một con voi trắng vào cây, con voi này tức là lý do hưng tạo ngôi chùa đó. Ngài Huyền Trang nói rằng:
“Phía Bắc thành (Bạt-lỗ-sa) có ngôi tháp, chính là thái tử Tô-đạt-noa đem con voi lớn của vua cha cho người Bà-la-môn, bị vua cha trách phạt đuổi đi, ngài quay lại cảm tạ quốc dân, ra khỏi cửa thành, ở tại đây cáo biệt.”57
Chỗ ngài Huyền Trang gọi là tháp, ngài Tống Vân ghi là chùa Bạch Tượng Cung. Sự ghi chép liên quan đến thái tử Tô-đạt-noa cùng voi trắng, có kinh Thái tử Tu-đại-noa bản Hán dịch và kinh Bản sinh văn Pāli (xem thuyết giải Tây Vực ký trang 195–198).
Từ thành Phật-sa-phục, ngài Tống Vân đi về phía Tây một ngày đường thì thấy nơi linh tích (di tích linh ứng) đức Như Lai cho mắt cứu người, lại thấy ở đó có chùa tháp; ngài Huyền Trang cũng cho rằng ở tại chỗ 4, 5 dặm phía Bắc thành Puskaravastī, thấy ngôi tháp này bên cạnh ngôi Già-lam cổ, ngài ghi là ngôi Già-lam cao vài trăm thước, gỗ đá làm ngôi Già-lam ấy chạm trổ hoa văn khéo léo tuyệt vời, được vua Asoka kiến lập. Từ ngôi tháp Xả Nhãn (cho mắt) này, ngài Tống Vân đi về phía Tây một ngày, rồi ngồi thuyền qua sông sâu, lại đi về phía Tây nam 60 dặm đến thành Càn-đà-la tức là thành Bố-lộ-sa. Lại cách thành này 7 dặm (ngài Huyền Trang viết là 8, 9 dặm) về phía Đông nam, có ngôi tháp Tước Ly Phật-đồ58 do vua Kaniṣka (đời thứ nhất) kiến tạo, cao 400 thước, móng nền hơn 300 bộ — Ngài Đạo Dược
57 Tây Vực ký 2, T51n2087_p881b8.
58 Tháp Tước Ly Phật-đồ: Xem cht. 109, tr. 231.
chép là 390 bộ, ngài Huyền Trang viết là chu vi một dặm rưỡi; trên tháp cấu tạo bằng gỗ, cộng là 13 tầng — Ngài Huyền Trang ghi là 5 tầng, cao 150 thước; lại ở trên bố trí trụ sắt Kim bàn59 — Ngài Huyền Trang nói là từ dưới lên 25 tầng “Tướng luân”60 bằng đồng vàng; đỉnh tháp cách mặt đất 700 thước — Ngài Đạo Dược viết là 63 trượng 2 thước. Từ khi tháp Phật này kiến lập đã trải qua 3 lần hỏa hoạn, quốc vương thường tu sửa xây dựng thêm mới có cảnh quan xưa. Ngài Tống Vân khen ngợi kết cấu của ngôi tháp này:
“Phật thờ trong ngôi tháp đều là bằng vàng ngọc, thiên biến vạn hóa, khó mà nói kể hết được, mặt trời mới mọc tỏa sáng thì kim bàn sáng chói chang, gió nhẹ vừa nổi lên thì chuông báu hòa điệu kêu vang, là phù-đồ hạng nhất ở Tây Vực.”61
Ngoài những điều này, ngài Huyền Trang còn ghi truyền, phía Nam bậc đá ở mặt Đông ngôi tháp có hai ngôi tháp nhỏ quy mô giống ngôi tháp lớn, khắc chạm bằng ngọc, lại khắc hai pho tượng Phật với tư thế ngồi kiết già ở dưới cây Bồ-đề. Ngài Tống Vân còn nói, cách tháp 100 bộ về phía Tây có cây Bồ-đề (Bodhi-druma), thân cành phát triển ra bốn phía, lá che kín trời, bốn phía ấy đều có bốn pho tượng Phật ngồi, cao 1 trượng 5 thước. Chính ngài Huyền Trang cũng từng thấy những tượng đó, ngài gọi cây này là cây Ty-bát-la (Pippala),
59 Kim bàn: Thừa lộ kim bàn 承露金盤, là những lớp hình tròn trên đỉnh tháp. Tịch chiếu cốc hưởng, q. 1: “Từng lớp từng lớp vòng tròn gọi là Thừa lộ bàn”. Cao tăng truyện: “Thừa lộ kim bàn một trăm mười một tầng”.
60 Tướng luân 相輪: Hay gọi là Luân tướng, chỉ cửu luân (chín vòng) ở trên đỉnh tháp. Tướng là biểu tướng, biểu tướng vượt hẳn ra gọi là tướng. Còn có nghĩa, người ta ngẩng lên nhìn gọi là tướng.
61 Bắc Ngụy tăng Huệ Sinh sứ Tây Vực ký 1, T51n2086_p867b5.
tức là cây Bồ-đề. Cây ấy cao hơn 100 thước. Ngài Tống Vân lại nói, cách ngôi đại tháp này 50 bộ về phía Nam, có một ngôi tháp đá hình tròn, tháp ấy cao 2 trượng, có thể báo việc tốt xấu của con người. Ngài Huyền Trang thì nói tháp có thần lực trị lành bệnh tật, chỗ ấy tức là chỉ cho ngôi tháp nhỏ, bên cạnh ngôi tháp lớn. Ngài Tống Vân ghi rằng ngôi tháp Tước ly Phật có hai người giúp việc luôn lo quét dọn ngôi tháp. Ngài Huệ Sinh, người đồng hành với ngài Tống Vân, từng tuyển thợ giỏi để mô tả hình thể ngôi tháp Phật này (xem Lạc Dương già-lam ký quyển 5, Tây Vực ký quyển 2).
Từ khi ngài Tống Vân vào nước Kiền-đà-la hơn 30 năm, sau có ngài Xà-na-quật-đa (Jñānagupta), người thành Phú-lưu-sa nước Kiền-đà-la, đi đến Trường An, Trung Quốc, ở chùa Tứ Thiên Vương dịch kinh Kim sắc tiên nhân vấn 2 quyển, lại ở chùa Long Uyên tại Ích Châu, dịch Diệu pháp liên hoa kinh phổ môn phẩm trùng tụng kệ 1 quyển, kinh Chủng chủng tạp chú 1 quyển, kinh Phật ngữ 1 quyển; vào triều đại nhà Tùy, ngài lại dịch kinh Phật hoa nghiêm nhập Như Lai đức trí bất tư nghị cảnh 1 quyển, kinh Đại phương đẳng đại tập hiền hộ 2 quyển, kinh Bất không la-sách chú 1 quyển v.v… gồm 39 bộ kinh điển Đại thừa.
Ngài Xà-na-quật-đa là con út của ngài Bạt-xà-la-bà-la (Kim Cương Kiên), lúc nhỏ phát tâm đạo, tự đi đến chùa Đại Lâm xuất gia, thờ Hòa thượng Kỳ-na-da-xá (Jinayasas - Thắng Danh) và A-xà-lê Xà-nhã-na-bạt-đạt-la (Jnanabhadra -Trí Hiền) làm thầy, tu tập phạm hạnh, theo thầy tuần bái linh cảnh, thánh tích. Lúc 27 tuổi, thầy trò cùng nhau chu du khắp các xứ, tuyên dương hoằng hóa Phật pháp, rồi cùng hơn 10 người đồng chí hướng, đến phương Đông, gặp lúc Võ Châu phá pháp nên họ mới chuyển đến Đột-quyết. Ngài Xà-nhã-na-bạt-đạt-la trở về lại Tây Vực nhưng mất ở giữa đường, ngài
Kỳ-na-da-xá sau khi vào Đột-quyết, không lâu cũng qua đời (xem Khai Nguyên lục quyển 7,62 Đường cao tăng truyện quyển 2). Kinh điển của ngài Xà-na-quật-đa dịch phần nhiều là bản Phạn, do hai vị Sa-môn nước Tề là Bảo La, Đạo Thúy cầu được ở Tây Vực. Nhưng, trong số kinh ngài dịch, có kinh ngài mang từ bổn quốc đến mà dịch ra. Nếu quả thật như vậy thì vào khoảng giữa thế kỷ thứ VI Tây lịch, nước Kiền-đà-la thật sự đã lưu hành Đại thừa giáo và Bí mật tông là rõ ràng.
Năm 630 Tây lịch, khi ngài Huyền Trang đi đến nước Kiền-đà-la, Phật giáo nước này hình như đã rất suy tàn. Bởi lúc này hoàn toàn do tín đồ dị giáo Áp-đạt chiếm cứ đất này, kết quả Phật giáo bị chúng bức hại khoảng 7, 8 năm, hay 10 năm. Ngài Huyền Trang đã ghi lại tình trạng Phật giáo nước này:
“Phần nhiều kính dị đạo, ít tin chánh pháp… Tăng Già-lam hơn 1.000 ngôi, tồi tàn hoang phế, bừa bãi tiêu điều, các tháp phần nhiều đã đổ nát, đền thờ trời có đến hằng trăm cái, dị đạo sống xen lẫn.”63
Ngài lại ghi về ngôi cổ Già-lam do vua Kaniṣka kiến tạo ở phía Tây ngôi tháp Tước ly Phật — dấu vết xưa của các ngài Hiếp tôn giả, Vô Trước, Thế Thân:
“Gác kép nhà đôi, tầng đài nhà hang (hang động), dựng biển triệu Cao tăng. Nghi thức tỏ rõ phúc lớn, tuy đã đổ nát, vẫn là kỳ công, Tăng đồ giảm thiểu, đều học Tiểu thừa.”
Ngài lại ghi về một ngôi Già-lam cổ cách 4, 5 dặm về phía Tây thành Bố-sắc-yết-la-phạt-để (Puskaravastī), dấu tích
62 Khai Nguyên thích giáo lục 7, T55n2154_p549a0. Trong bản nguyên tác ghi là quyển 10, có thể nhầm.
63 Tây Vực ký 2, T51n2087_p879b28.
xưa của ngài Pháp Cứu: “Chùa chiền hoang lạnh, Tăng đồ ít ỏi, song đều tu tập pháp Tiểu thừa.”
Chúng ta căn cứ, xem xét các điểm mà ngài Huyền Trang ghi chép, như sự hoang phế của Già-lam, Tăng đồ giảm thiểu, thì Phật giáo nước này đã lâu không được bảo hộ gì, và sự tín ngưỡng của dân gian cũng hầu như tiêu mất, tàn lụi hết. Một mặt là thế lực Phật giáo suy vi, một mặt là thế lực ngoại đạo bành trướng, vả lại có hơn 100 đền thờ thiên thần, ngoài cửa Tây thành Bố-sắc-yết-la-phạt-để có rất nhiều đền thờ trời, bên trong đặt tượng thần Śiva (Thấp-bà) linh dị; hơn 40, 50 dặm về phía Đông thành Bạt-lỗ-sa, trên núi cao có tượng đá hình như là tượng thiên nữ Bhīmā (Tỳ-ma), vợ của trời Đại tự tại, tức là thần Śiva, “hiện nhiều linh dị” nên người hướng về đó cúng tế cầu phúc rất đông, đến nỗi có chỗ ghi rằng:64
“Các nước Ấn Độ cầu phúc thỉnh nguyện, sang hèn kéo thành đoàn, xa gần đều tụ hội, trong bọn họ nếu có người nguyện nhìn thấy hình dáng thiên thần thì phải chí thành một mực không nghi ngờ, tuyệt thực bảy ngày, hoặc được nhìn thấy, cầu nguyện phần nhiều thỏa ý.”
Lại ở dưới núi cao này có đền thờ trời Tự tại, ngoại đạo phái Đồ hôi65 (Pāśupata) cúng tế rất thịnh v.v… Bên cạnh ngôi tháp ở phía Bắc thành Bạt-lỗ-sa, ngài Huyền Trang thấy một ngôi Già-lam, có hơn 50 vị Tăng Tiểu thừa, tức là chỗ năm xưa luận sư Y-thấp-phạt-na (Īśvara - Tự Tại) ở đây,
64 Tây Vực ký 2, p881c03.
65 Phái ngoại đạo Đồ hôi 塗灰外道: Skt. Bhasman, còn gọi là Thú chủ ngoại đạo 獸主外道 (Skt. Pāśupata), một trong những phái ngoại đạo thời cổ đại Ấn Độ. Phái này cho rằng, trời Đại tự đại (Skt. Maheśvara) là thần sáng tạo vạn vật, là chủ loài thú; tín đồ bôi tro khắp người, tu khổ hạnh để cầu lên cõi trời.
trước tác A-tỳ-đạt-ma minh đăng luận. Lại có một ngôi Già-lam ở ngoài cửa Đông thành, có hơn 50 vị Tăng Đại thừa. Lại cách núi Đạn-đa-lạc-già (Dantaloka-giri) hơn 20 dặm về phía Đông bắc của thành, và cách núi Đàn-đặc về phía Tây bắc hơn 100 dặm, có một ngọn núi lớn, phía Nam núi ấy có ngôi Già-lam thuộc về dấu tích cũ của tiên nhân Độc Giác (Ekasṛṅga), đại để là có Tăng Đại thừa học. Cho nên lúc bấy giờ, nước Kiền-đà-la lưu hành cả Đại, Tiểu thừa giáo, nhưng thành Bố-lộ-sa và thành Bố-sắc-yết-la-phạt-để là nơi chuyên học giáo lý Tiểu thừa, còn Đại thừa giáo hình như chỉ được tín phụng riêng ở vùng gần thành Bạt-lỗ-sa.
Thời kỳ đầu thế kỷ thứ VIII Tây lịch, khi ngài Tuệ Siêu vào Thiên Trúc, đương thời vua nước Kiền-đà-la tuy là tộc Đột-quyết, nhưng kính tín Tam bảo, từ vua cho đến vương phi, vương tử, thủ lĩnh v.v… đều vào trong các thành ấp, thị trấn cúng dường Tam bảo. Mỗi năm, vua thiết lập đại trai Vô già66 hai lần, từ đồ vật sử dụng của mình, của vợ và voi ngựa v.v… đều bỏ ra cho hết. Chỉ riêng vợ và voi do Tăng đồ quyết định giá trị của chúng, rồi nhà vua tự chuộc lại, những thứ khác như lạc đà, ngựa, vàng, y phục, đồ dùng gia đình v.v… cúng dường hết cho Tăng chúng, để tích công đức, con cái của họ cũng xây chùa thiết trai, tự bố thí cúng dường. Ngài Tuệ Siêu từng ghi về ngôi chùa và ngôi tháp lớn của chùa ấy, do vua Cát-nặc-ca tức là vua Kaniṣka kiến tạo, nơi ngài Vô Trước, Thế Thân đã cư trú. Nhưng ngài ghi chỗ của ngôi chùa tháp này cách chừng 3 dặm về phía Tây thành, thật
66 Đại trai vô già: Vô già hội 無遮會, Skt. Pañca-vārṣikamaha. Vô già là bao dung, không ngăn ngại một ai. Hiền thánh, đạo tục, sang hèn trên dưới bình đẳng, thực hành pháp hội tài, pháp nhị thí. Tục nước Ấn Độ luôn thực hành hội này. Ở Trung Quốc, bắt đầu có từ năm thứ nhất niên hiệu Đại Thông, đời Lương Vũ đế.
là lầm lẫn không nghi ngờ gì cả. Lại nữa, ngài Tuệ Siêu cho rằng ở phía Đông thành này (thiếu khoảng cách tính bằng dặm), trước thời đức Phật là nơi đất xưa vua Thi-tỳ-ca (Sivika) thả chim bồ câu, cũng có Già-lam và Tăng chúng. Nhưng ngài Huyền Trang ghi lại dấu vết xưa trong mục nước Ô-trượng-na (Udyāna), là tại Đông bắc thành Bố-lộ-sa, ngài Tuệ Siêu cho là Đông nam, lầm vậy. Ngài Tống Vân cũng cho rằng tháp Tước ly Phật ở mặt Tây bắc, cách 80 dặm về phía Đông nam thành này, cũng lầm. Ngài Huyền Trang ghi ngôi cổ tháp này do vua Vô Ưu (Asoka) kiến tạo. Ngài Tuệ Siêu lại ghi rằng, dấu tích cũ của vua Thi-tỳ-ca, cùng tích xưa đức Phật bố thí đầu, mắt đều ở phía Đông nam (Bắc) thành ấy, mỗi nơi đều có chùa, chùa có Tăng, lúc bấy giờ vẫn còn cúng dường, không suy giảm. Do đó có thể biết, từ thời ngài Huyền Trang trở lại, Phật giáo nước này được sự bảo hộ của quốc vương mà khôi phục dần trạng thái hưng thịnh. Vả lại Đại thừa và Tiểu thừa đều cùng lưu hành.
Năm 762 Tây lịch, ngài Ngộ Không từ nước Ca-thấp-di-la đi đến thành Càn-đà-la, trú ở chùa Như-la-sái vương, chùa do Như-la-sái (Jyotī rasa?) kiến tạo, là con cháu nối dõi của vua Kế-nị-tra (Kanika) cổ đại, nên lấy tên vua đặt tên chùa. Trong thành nước này, lại có chùa Khả-thông-lý (Khakulin) của vương tử kiến tạo, chùa Tân-chi (Vimsin?) của con gái vua kiến tạo, chùa Chiên-đàn-thông-lý (Candanakulin?) của em vua kiến tạo. Mỗi người đều lấy tên mình mà đặt tên chùa. Ngoài những ngôi chùa này, ngài Ngộ Không còn đi chiêm bái các chùa khác đến hai năm, chùa Đặc-lặc-sái của vua Đột-quyết tạo, chùa Khả-đôn của hoàng hậu Đột-quyết tạo (hoàng hậu Đột-quyết còn xây dựng một ngôi chùa ở Ca-thấp-di-la, cũng đặt cùng tên chùa này) và chùa A-sắc-tra (Aceṣṭa?), chùa Tát-hệ-thông-lý
(Sakhikulin?), chùa Kế-nị-tra Vương Thánh Tháp, chùa Kế-nị-tra Vương Diễn-đề-sái (Yajñadīkṣa?) (trong chùa có đặt Xá-lợi xương đỉnh đầu của đức Thích-ca Như Lai), chùa Kế-nị-tra Vương Phạt-long-cung-sa-di (Valūkasramanēra?) (xem bài tựa kinh Thập lực). Hơn nữa, ngài cho rằng, lúc bấy giờ miền Bắc Thiên Trúc đều là học phái Tát-bà-đa, hình như Đại thừa giáo ở Kiền-đà-la đã hoàn toàn mất hết, chỉ còn Tiểu thừa giáo lưu hành.
Từ ngài Ngộ Không trở về sau, sử liệu Phật giáo liên quan đến nước Kiền-đà-la khiếm khuyết, không thể tra khảo nghiên cứu; sau đó Tiểu thừa giáo hình như còn kế tục thịnh hành. Vào năm 962 Tây lịch, có tên nô lệ tộc Thổ-nhĩ-kỳ là Alptigīn (Alptagīn), chiếm cứ vùng đất gần Kabul, ở phía Tây thành Bố-lộ-sa, cũng gần vùng Ghaznī, kiến lập vương triều Hồi giáo. Năm 977 Tây lịch, con rể của ông ấy tên là Sabuktigīn lên ngôi, chiếm toàn bộ Afghanistan và đất Panjab, rồi tự xưng vương, Phật giáo Kiền-đà-la dần dần bị sự áp chế của giáo đồ Hồi giáo ngày càng kịch liệt. Năm 997 Tây lịch, con của Sabuktigīn là Tô-đan lại tận lực khuếch trương Hồi giáo, xâm nhập nội địa Ấn Độ và Tây Ấn Độ, gồm 17 lần, trong thời vua đó (năm 997–1030 Tl.), Phật giáo Kiền-đà-la hình như bị thương tổn rất nhiều rồi diệt vong.