Tìm kinh sách
Vần A-Z:
Nghiên cứu Phật Giáo Tây Vực

Nghiên cứu Phật Giáo Tây Vực

Tác giả: Cư sĩ Tuệ Khai, Phụ chú: Thích Tâm Nhãn. Dịch giả: Cư sĩ Tuệ Khai, Phụ chú: Thích Tâm Nhãn. Năm xuất bản: 2011. Số trang: 604.

Chương 70: XVI. Thành Ni-Nhưỡng (Trang 564 - 564)

XVI. THÀNH NI-NHƯỠNG
Bản văn:49
“Từ sông Tỉ-ma về phía Đông vào sa mạc, đi hơn 200 dặm là đến thành Ni-nhưỡng. Chu vi thành chừng 3, 4 dặm, ở trong cái đầm lớn. Đất đầm nóng ẩm khó mà lặn lội đi qua, cỏ lau mọc đầy kín, lại không có lối đi. Chỉ có con đường riêng đến thành là đi thông được thôi, nên người qua lại không ai không từ con đường này đến thành. Nước Cù-tát-đán-na lấy nơi đây làm quan ải phòng bị biên giới phía Đông.”
Khảo chứng:
Xem những ghi chép của ngài Huyền Trang thì Ni-nhưỡng ở trong ốc đảo sa mạc. Vị trí nó là ở 40 dặm về phía Đông sông Tỉ-ma. Ni (尼) là dịch từ ña (ni?) của tiếng Phạn; Nhưỡng (攘) là dịch từ ṇya, ña, jña của tiếng Phạn, nên Ni-nhưỡng đúng với âm dịch của nguyên âm Niña. Niya ngày nay khớp với vị trí của Ni-nhưỡng mà ngài Huyền Trang chỉ định. Trong văn khắc bằng văn tự Kharosthi, phát hiện thấy tại địa phương Niya, theo sự giải thích của ông Rapson thì từng có địa danh Nina (Rapson: specimens of Kharoṣthi Inseriptions, trang 14, Kharoṣṭhi tablet, I.16). Bởi vì Nina này tức là biến hình của Niña, rồi Niña lại biến nữa mà thành địa danh hiện tại là Niya. Ña phát âm tương tợ như nya, âm “n” bị lược bỏ đi, chỉ còn là “ya”. Loại biến hình này ở trong tiếng Prākrit50 rất là phổ biến. Vậy có thể nhận định: Nina sau một lần biến đổi mà thành Niya, Niya ngày
 

49 Tây Vực ký 12, p945c01.
50 Tiếng Prākrit còn gọi là tiếng gāndhāri, tức ngôn ngữ của xứ Gāndhāra (Ma-kiệt-đà).
 
/75
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
🙏 Trợ Lý Phật Pháp AI »