Tìm kinh sách
Vần A-Z:
Nghiên cứu Phật Giáo Tây Vực

Nghiên cứu Phật Giáo Tây Vực

Tác giả: Cư sĩ Tuệ Khai, Phụ chú: Thích Tâm Nhãn. Dịch giả: Cư sĩ Tuệ Khai, Phụ chú: Thích Tâm Nhãn. Năm xuất bản: 2011. Số trang: 604.

Chương 58: IV. Dân Tộc Vu-Điền (Trang 519 - 523)

thần luôn hưởng đồ tế lễ trân quí, việc cúng bái không bao giờ suy giảm. Từ việc sữa đất nuôi dưỡng thái tử, lấy ý ấy đặt tên nước.
Giải thích: (lược)
Khảo chứng:
Tây Vực ký chép là, gia tộc quyền quí bảo hộ Câu-na-la đi đến Vu-điền. Nhưng Từ Ân truyện quyển 511 cho là Câu-na-la tự đến trời Tỳ-sa-môn cầu được một người con, rồi truyền ngôi vua. Sau khi Phật giáo Ấn Độ vào Vu-điền, mượn danh Câu-na-la, chẳng qua để che đậy sự thật thực dân của dân tộc Ấn Độ. Trời Tỳ-sa-môn là một trong bốn vị Thiên vương có nhiệm vụ trấn giữ, bảo hộ phương Bắc, thường chiến thắng kẻ hại Phật, bảo vệ chánh pháp, nên truyền thuyết mượn vị đó để phụ họa cho ký sự về Vu-điền kiến lập quốc, rất là xảo diệu. Còn hai chúa Đông, Tây tranh quyền, là chỉ cho sự xung đột của thực dân Trung Quốc từ phía Đông đến, và thực dân Ấn Độ từ phía Tây sang; sự thắng lợi thống nhất của vị chúa phía Đông, là nói lên một sự thật thực dân Trung Quốc thắng lợi lấy được chủ quyền. Phân tích nghiên cứu bản văn đến đây tạm kết thúc. Chúng ta lại tiến hành việc luận thuật về phương diện dân tộc, lịch sử v.v… của nước ấy.
IV. DÂN TỘC VU-ĐIỀN
Khảo chứng:
Việc thống kê nhân số của Vu-điền xưa nay không chính xác. Tướng quân Pjeuzow cho là 16 vạn (điều tra năm 1890), ông Sven Hedin cho là 52 vạn (điều tra năm 1896), sai khác rất nhiều. Ông Stein cho là khoảng 27.500 hộ, số người mỗi
 

11 Từ Ân truyện 5, T50n2053_p251a13.
 
hộ rất nhiều, bình quân chừng 8 người, nên nhân số ước chừng 22 vạn. Hòa-điền có ba thành thị là Ilichi, Yurung-kāsh (Bạch Ngọc), Kara-kāsh (Hắc Ngọc). Ilichi là đất sở tại của cơ quan cai trị địa phương, vị trí ấy có thể gọi là bản bộ của Hòa-điền, nên Hòa-điền có thời gọi riêng là Ilichi.
Địa thế của Hòa-điền như trước đã thuật: Núi liền với sa mạc, hai bên hẹp, giao thông bên ngoài thì phía Bắc men theo sông Hòa-điền, thông qua rừng rậm 300 dặm, mới đến núi Thiên Sơn; phía Đông ra khỏi Lop Nor là sa mạc mênh mông, đường đi khó khăn, có những tiểu đảo nằm phân tán trong sa mạc, có thể liên lạc để thông đường nhau. Song từ Niya trở về phía Đông, khoảng cách các đảo trong sa mạc xa dần, những người lữ hành phải kết thành từng đội lớn mới có thể đi thông qua, nên ngoại quốc công kích Vu-điền rất khó khăn. Hơn nữa, địa thế bất lợi cho du mục nên các dân tộc du mục như Mông Cổ, Tây Tạng v.v… đều không ưa thích Vu-điền. Vì thế mà Vu-điền rất ít bị ảnh hưởng bởi các dân tộc ngoại quốc, vẫn giữ được nguồn gốc đặc tính của dân tộc. Có thời những bộ tộc thuộc dân tộc du mục như Đại Nguyệt Thị, Hung Nô, Áp-đạt, Tây Đột-quyết v.v… từng luân phiên khuếch trương thế lực của họ đến lưu vực sông Tarim, buộc Vu-điền phải thần phục và triều cống thổ sản cho họ. Đến thời Hán-Đường, Vu-điền lệ thuộc Trung Quốc. Tuy Vu-điền có thời từng khuất phục dưới uy lực của Tây Tạng, nhưng đến khi người Hồi Hột phá Thổ-phồn, xua đuổi họ đi thì Vu-điền lại độc lập. Đến khi bộ tướng của dân tộc Đột-quyết là Statok Boghra Khān và người kế thừa ông chiếm lấy các vùng đất ở lưu vực sông Tarim, thì Hồi giáo truyền vào Vu-điền, ngôn ngữ Đột-quyết cũng được sử dụng. Trên vấn đề nhân chủng tựa hồ như không khơi dậy một biến động lớn nào (tham chiếu Stein: Ancient Khotan, I. 136-50).
Liên quan đến vấn đề nhân chủng của dân tộc Hòa-điền, ông Stein sưu tập nhiều tư liệu, nêu ra ở hội Nhân loại học nước Anh. Ông Joyce (T. A. Joyce) căn cứ những tư liệu này, đại thể nhận định là: Tính chất, thể chất, dung mạo, lông tóc v.v… của nhân dân Hòa-điền đều giống với chủng tộc Golcha cư trú ở Wākhan, Sariol, Pamir - cũng thuộc tộc người Aryan. Sau khi ông Joyce so sánh nhân dân Hòa-điền với dân tộc lân cận bốn phương, khẳng định: “Tộc Golcha ở Pamir là dân tộc Iran. Vùng ấy tuy có pha lẫn mấy phần huyết thống của dân tộc Đột-quyết, nhưng trình độ rất kém. Còn dân Hòa-điền lấy huyết thống dân tộc Ấn Độ-Iran làm cơ sở, có xen lẫn mấy phần huyết thống dân tộc Đột-quyết, so với tộc Golcha thì nhiều hơn một chút. Còn người ở miền Đông Hòa-điền lại có huyết thống Tây Tạng rất ít. Riêng người Keriya gần phía Đông Hòa-điền thì có huyết thống của người Đột-quyết và người Tây Tạng nhiều hơn người Hòa-điền. Và miền Đông Keriya cũng có chút ít huyết thống của người Mông Cổ. Tóm lại, nhân dân Hòa-điền lấy dân tộc Ấn Độ-Iran làm căn bản là rõ ràng.”
Như phần trước đã thuật, sách cổ văn do ông Stein phát hiện tại Dandān-Uiliq phía Đông Hòa-điền là văn tự ghi chép theo thể Phạm thư (Brāhmi) thế kỷ thứ VII, thứ VIII Tây lịch, giống với ngôn ngữ địa phương của tộc Golcha, cũng thuộc hệ thống ngôn ngữ Ấn Độ-Iran. Truyện Sơ-lặc, phần thuật về nước Hát-bàn-đà (tức là Sarikol) trong Đường thư (quyển 221, thượng) ghi: “Người cứng cỏi hung tợn, dung mạo lời nói như người Vu-điền”. Có thể biết từ xưa đến nay, ngôn ngữ, dung mạo của nhân dân Hòa-điền rất giống với tộc Golcha ở Sarikol.
Vấn đề huyết thống của dân tộc Đột-quyết bên trong lãnh thổ Hòa-điền:
Lúc người Đột-quyết tộc Gia-nhĩ-lư-khắc chiếm miền Tây bắc ở lưu vực sông Tarim thì Vu-điền còn độc lập, thờ phụng Phật giáo, và đối kháng với ngoại địch một thời gian dài chẳng khuất phục. Đến thế kỷ thứ X mới theo dần về Hồi giáo, nên huyết thống Vu-điền pha trộn thêm huyết thống người Đột-quyết chỉ bắt đầu từ thế kỷ thứ X trở về sau. Trong văn thư cổ do ông Stein phát hiện ở Dandān-Uiliq, có vật thời thế kỷ thứ IX, là lúc thế lực Thổ-phồn thịnh hành ở lưu vực Tarim. Nhưng văn viết trong sách ấy không có liên hệ gì với ngôn ngữ Đột-quyết, dù chỉ là một chút pha trộn. Điều này có thể chứng minh rằng, từ thế kỷ thứ IX trở về trước, tại đây vẫn chưa có huyết thống của dân tộc Đột-quyết. Nguồn gốc dân tộc Đột-quyết rất dũng mãnh nhưng vẫn là một dân tộc du mục; đối với công việc sản xuất chỉ thích nghi cho dân tộc cư trú cố định, mà Vu-điền lại không có đất du mục cho nên tộc Đột-quyết chẳng qua thiết trí quan lại văn võ chỉ để xử lý cai trị mà thôi. Những thiểu số quan lại Đột-quyết này lại dần dần đồng hóa với dân tộc Vu-điền, nên chưa thể hỗn hợp hình thành một dân tộc Đột-quyết to lớn được. Tộc Kirghiz là một chi phái của dân tộc Đột-quyết, đến các nước ở con đường phía Bắc (Bắc đạo), miền Bắc lưu vực sông Tarim, rồi vào Kāshgar, Aksu, Kucha (Kuchū) v.v… dần dần thoát khỏi tập quán du mục cũ, trở thành nông dân cư trú cố định, nghĩa là họ vẫn không thể tiến về phía Nam để đến Vu-điền được. Cho nên ngày nay nhân dân địa phương Kāshgar có cốt cách hình tướng Đột-quyết rất nhiều, ngược lại ở vùng Hòa-điền thì dung mạo giống Đột-quyết rất ít, điều này có thể thấy rõ.
Thứ đến là luận bàn về mối quan hệ giữa Tây Tạng và Vu-điền:
Phía Tây của Tây Tạng tuy tiếp giáp gần với Vu-điền, nhưng có mạch núi lớn Côn Lôn kéo dài qua vùng ấy, trở
thành vách ngăn giữa hai nước. Vả lại từ đầu phía Tây của Tây Tạng đến phía Đông 200 dặm, hầu như là vùng đất không có người. Mặc dù, từ trung bộ Tây Tạng đến phía Tây biên giới nước này khoảng cách 700 dặm, có một cộng đồng dân số rất đông, nhưng phần lớn dân di cư từ Tây Tạng đến Vu-điền, trên thực tế rất khó khăn. Theo chính sử Trung Quốc ghi chép, người Tây Tạng chiếm hữu lưu vực sông Tarim khoảng 70 năm, từ năm Trinh Nguyên thứ 6 đời Đường Đức Tông (năm 790 Tl.), đến đầu niên hiệu Hàm Thông đời Ý Tông (năm 860 Tl.). Sau đó họ bị Hồi Hột đánh bại, rút lui khỏi lưu vực sông Tarim. Cho nên thời gian người Tây Tạng hỗn hợp với dân tộc vùng Vu-điền rất ngắn. Song truyện Vu-điền trong Ngụy thư (quyển 102) nói rằng:
“Những người ở các nước từ Cao Xương trở về phía Tây, mắt sâu mũi cao; chỉ có dung mạo người nước này (Vu-điền) là không giống người Hồ mà rất giống người Hoa Hạ (Trung Quốc).”
Sách này cho rằng dung mạo người nước Vu-điền không phải của dân tộc Ấn Độ-Iran, cũng không phải là dân tộc Đột-quyết. Ông Rockhill đưa ra mẫu người Tây Tạng thuần túy là chủng tộc Dhrupa, thân ngắn, mũi thấp, xương gò má nhô cao, tóc đen, mắt vàng sẫm (Joural of Anthropological Institute, Vol. 38, trang 319), rất giống với người dân Vu-điền mà Ngụy thư đã chép. Vả lại theo truyền thuyết kiến quốc của Vu-điền là do các bộ tộc hợp lại, đến từ Ấn Độ và Trung Quốc mà thành. Điều này đã thấy ở bản văn Tây Vực ký và trong truyện cổ Tây Tạng (Rockhill: Life of The Buddha, trang 233). Căn cứ vào đó chúng ta dễ tưởng tượng ra: Thời thượng cổ xa xăm, có sự di trú của người Tây Tạng ở Vu-điền, tức là ở địa phương Keriya ngày nay còn có nguồn gốc huyết thống chủng tộc Tây Tạng.
/75
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
🙏 Trợ Lý Phật Pháp AI »