XIII. CHÙA VIỆN CỔ TRÌ VÀ LONG NỮ
Bản văn:46
“Phía Đông nam thành hơn 100 dặm, có con sông lớn chảy về Tây bắc, người trong nước lợi dụng nó để tưới ruộng. Sau đó bị đứt dòng chảy, nhà vua lấy làm lạ mới xa giá đến hỏi vị Tăng La-hán:
‘Nước sông lớn, người trong nước lấy đủ dùng, nay chợt bị đứt dòng, lỗi ấy ở đâu? Vì cai trị có điều bất bình, hay đức trẫm có chỗ chưa thấm nhuần? Nếu không phải thế thì sao trách phạt nặng vậy!?’
Vị La-hán nói rằng: ‘Đại vương trị nước, chính hoá thanh hoà; nước sông đứt dòng chảy là do rồng làm; nên lập lại đền thờ cầu thì lợi xưa sẽ phục hồi’. Nhà vua quay xa giá trở về, cúng tế rồng sông. Bỗng nhiên có một người con gái, lướt trên sóng đến nói: ‘Chồng ta mất sớm, chủ mạng không theo, do đó nước sông tuyệt dòng, nông phu thất lợi; nhà vua hãy tuyển một bề tôi yêu quí, phối hợp với ta làm chồng thì nước chảy như xưa’.
Nhà vua nói: ‘Kính nghe theo, xin làm như ý muốn của người’. Rồng liền nhìn qua đại thần của nước tỏ vẻ hài lòng. Vua hồi giá gọi quần thần nói: ‘Đại thần là trọng trấn của đất nước; nông vụ là mạng sống của con người. Nước mất trấn thì nguy, người tuyệt thực thì chết. Việc nguy thì chết, nào ai muốn làm?’ Đại thần rời chỗ ngồi quì xuống tâu: ‘Đã lâu không có việc gì, nay xem việc được sai bảo như một trách nhiệm quan trọng. Thần luôn nghĩ đến việc báo quốc mà chưa gặp được lúc, nay mà được chọn lựa, thì nào dám lẩn tránh; nếu lợi cho muôn dân, sao còn tiếc rẻ một bề tôi?
46 Tây Vực ký 12, p945a01.
Thần (bề tôi) thì giúp nước, mà người là gốc của nước, nguyện xin đại vương chẳng nên đắn đo! Xin vua vì thần mà tu phước kiến tạo Tăng Già-lam’. Nhà vua ưng theo sở cầu, cho chọn bất cứ ngày nào để hoàn thành công việc. Vị đại thần ấy lại xin được sớm vào Long cung. Tới đây cả nước từ quan liêu đến thứ dân tấu nhạc, uống rượu tiễn đưa; vị đại thần ấy mặc áo tơ trắng, cuỡi ngựa trắng, cùng nhà vua từ biệt; kính tạ người trong nước rồi ruổi ngựa vào dòng sông, dẫm lên nước chẳng chìm, qua đến giữa dòng, vẫy roi vạch nước, giữa dòng nước mở ra, từ đó chìm mất. Giây lát, con ngựa trắng nổi lên, mang một cái trống lớn bằng gỗ Chiên-đàn, một hộp thư phong kín. Thư ấy đại lược nói rằng: “Đại vương chẳng bỏ sót điều nhỏ nhặt, không chọn lầm người thần linh muốn, nguyện cho vua làm nhiều phước đức, ích cho nước, thấm nhuần bề tôi. Hãy đem cái trống lớn treo ở phía Đông nam thành, nếu có giặc cướp đến thì tiếng trống chấn động trước.” Từ đó nước sông liền chảy, đến nay còn lợi. Năm tháng xa dần, trống rồng đã lâu không còn; bên cạnh ao chỗ cũ treo cái trống nay vẫn còn ngôi Già-lam hoang tàn đổ nát không có Tăng chúng.”
Khảo chứng:
Khi ông Stein thám hiểm Vu-điền, phía Đông nam Yōtkan, phát hiện một cái ao tên là Aiding-kul, nay còn gọi là Cổ Trì (ao cái trống), bên cạnh ao còn có cái gò mả cao tên là Cổ Xá (nhà cái trống - Naghāiakhānah), chiều Đông-Tây 175 thước, chiều Nam-Bắc 72 thước, có thể chứng minh nơi ấy là đất cũ của ngôi tự viện xưa. Nếu thế thì cái hồ Aiding do ông Stein phát hiện tức là nơi mà ngài Huyền Trang gọi là Cổ Trì, và Cổ Xá ứng với di tích của ngôi Già-lam bên cạnh ao (Stein: Ancient Khotan, I. 227-228). Kinh Đại phương đẳng