Tìm kinh sách
Vần A-Z:
Nghiên cứu Phật Giáo Tây Vực

Nghiên cứu Phật Giáo Tây Vực

Tác giả: Cư sĩ Tuệ Khai, Phụ chú: Thích Tâm Nhãn. Dịch giả: Cư sĩ Tuệ Khai, Phụ chú: Thích Tâm Nhãn. Năm xuất bản: 2011. Số trang: 604.

Chương 14: Luận Về Tử Hợp Nước Đại Thừa Tây Vực (Trang 125 - 134)

LUẬN VỀ TỬ HỢP
NƯỚC ĐẠI THỪA TÂY VỰC
                                                                                                                          Ấn Thuận
Tử Hợp1 là nước Đại thừa duy nhất ở Tây Vực, tức là nơi mà Tây Vực ký ghi là “Chước-cú-ca”. Trong sách “Phật du Thiên Trúc ký khảo thích” của Sầm Trọng Miễn2 ghi lại, nước ấy có quan hệ với Phật giáo Đại thừa. Nhân đây tôi xin trình bày thành một bài tiểu khảo luận về vấn đề này.
Truyện Tây Vực trong Hán thư nói: “Vua Tử Hợp trị ở khe núi Hô Kiền”. Ngụy thư gọi Tử Hợp là “Tất-cư-bán”. Sầm thư (sách Họ Sầm) nói rằng: “Tất-cư-bán” đối âm với “Hô Kiền”, cho Hô Kiền tức là đường khe núi Ngõa-hãn (Wakhan)3 ngày nay, mà ngôn ngữ Tất-cư-bán nguyên là Sa (ragh) Charan, tức là Sarhad hiện nay. Vậy kết luận, Tử Hợp là nơi ngài Pháp Hiển đã đến, tức nay là Sarhad về phía Đông với một dải khe núi Ngõa-hãn. Khảo luận của họ Sầm rất giá trị nhưng cũng lầm lẫn lớn.
Khảo tra về tên khác của “Tử Hợp” thì rất nhiều, Hán thư, truyện Tây Vực trong Hậu Hán thư, Phật du Thiên Trúc
 

1 Tử Hợp 子合: Nay là huyện Diệp Thành tỉnh Tân Cương.
2 Sầm Trọng Miễn 岑仲勉, là lịch sử gia Trung Quốc, người huyện Thuận Đức tỉnh Quảng Đông; ông sinh tháng 9 năm 1886. Tên là Minh Thứ, tự là Trọng Miễn, biệt danh Nhữ Mậu.
3 Đường khe núi Wakhan (Ngoã-hãn 瓦罕), còn gọi là Hành lang Wakhan (Wakhan Corridor), nằm phía Đông bắc Afghanistan, một vùng dài hẹp từ tỉnh Badakhshan ở Afghanistan đến Tân cương Trung Quốc, với nhiều mỏm núi lởm chởm, gồ ghề.
 
ký4 của ngài Pháp Hiển gọi là Tử Hợp; Lạc Dương già-lam ký5 gọi là Chu-cú-ba, là trích dẫn từ quyển Du ký của Huệ Sinh, Tống Vân6 đời Ngụy; Ngụy thư (102) gọi là Chu-cư; Tùy thư (83) gọi là Chu-câu-ba; Lịch đại tam bảo kỷ (12)7 gọi là Giá-cú-ca; Pháp hoa kinh truyện ký (1)8 dẫn từ Tây Vực chí nói là Giá-câu-bàn; Đại tập kinh (55)9 gọi là Giá-cư-ca; Đỗ Hữu thông điển (193)10 và Tân Đường thư (221)11 lại gọi là Chu-câu-bàn; Tây Vực ký (12)12 gọi là Chước-cú-ca, hay là “Tự-cừ”. Những tên khác nhau như vậy thực tế đều là một, không nghi ngờ gì. Nhưng từ thời ngài Pháp Hiển trở đi không ghi Tử Hợp ở trong khe núi Ngõa-hãn.
 

4 Cao tăng Pháp Hiển truyện 1, T51n2085_p857c3.
5 Lạc Dương già-lam ký 5 (Dương Huyễn Chi soạn thời Nguyên Ngụy, 5 quyển), T51n2092_p1019a23.
6 Huệ Sinh, Tống Vân: Danh Tăng Trung Quốc thời Bắc Ngụy. Mùa Đông tháng 11 năm đầu niên hiệu Thần Qui đời Hiếu Minh đế, Bắc Ngụy (518) (có thuyết cho là năm đầu niên hiệu Hi Bình, hoặc năm thứ 2 niên hiệu Chánh Quang), Huệ Sinh phụng mệnh Hồ Thái Hậu, ngài cùng Tống Vân… từ Lạc Dương đi sứ Tây Vực cầu kinh. Khoảng năm thứ 2 niên hiệu Chánh Quang (521) (có thuyết là năm thứ 3, hoặc năm thứ 4), ngài trở về nước, thỉnh được 170 bộ kinh luận tiếng Phạn. Ngài có trước tác Sứ Tây Vực ký (Huệ Sinh hành ký) 1 quyển. (Xem Lạc Dương già-lam ký 5, T51n2092_p1018b22).
7 Lịch đại tam bảo kỷ (12), truyện Xà-na-quật-đa nói, Giá-cư-ca cách hơn 2000 dặm phía Đông nam Vu-điền. Sự việc dẫn ra từ truyện nghe chẳng đáng tin. (cht. Tg)
8 Pháp hoa (kinh) truyện ký 1 (Huệ Tường soạn đời Đường), T51n2068_p50b5.
9 Đại phương đẳng đại tập kinh 55 (Tam tạng Na-liên-đề-da-xá dịch), T13n397_p367c25, c28.
10 Đỗ Hữu thông điển 杜佑通典: Bộ Thông điển này do Đỗ Hữu (735-812) trước tác vào thời Đường, gồm 200 quyển. Ông là người Vạn Niên, Kinh Triệu (nay là Tây An, tỉnh Thiểm Tây), tự Quân Khanh.
11 Tân Đường thư 新唐書: Do Âu Dương Tu, Tống Kỳ v.v… soạn thời Bắc Tống, gồm 225 quyển.
12 Tây Vực ký 12, T51n2087, p939b16, 942c23.
 
Tây Vực ký (12) ghi khe núi Ngõa-hãn ở trong núi Thông Lĩnh:
“Thông Lĩnh chiếm cứ trong Thiệm-bộ châu,13 Nam tiếp giáp núi Đại Tuyết, Bắc đến tận Nhiệt Hải, Thiên Tuyền, Tây đến Hoạt quốc,14 Đông đến Ô-sát”.15 
Căn cứ đoạn này để xét về Tử Hợp, thì nơi ngài Pháp Hiển đến rõ ràng không nằm trong Thông Lĩnh.
“Vu-điền... tiến về nước Tử Hợp, đi đường hai mươi lăm ngày liền đến được nước ấy... Đi về phía Nam bốn ngày, vào núi Thông Lĩnh, đến an cư ở nước Huy.” (Phật du Thiên Trúc ký).16
“Vu-điền... ngày 29 tháng 7, vào nước Chu-cú-ba... Đầu tháng 8 vào biên giới nước Hán-bàn-đà;17 đi về phía Tây sáu ngày, lên núi Thông Lĩnh” (Lạc Dương già-lam ký 5).18
“Ra khỏi Thông Lĩnh, đến nước Ô-sát... đi về phía Bắc,... hơn 200 dặm, đến nước Khư-sa19... Đi về phía Đông nam hơn 500 dặm, qua sông Tỉ-đa,20 vượt qua Đại Sa Lĩnh,
 

13 Thiệm-bộ Châu 贍部州: Skt. jambudvīpa, tức chỉ cho Ấn Độ.
14  Hoạt quốc 活國: Một nước thời xưa ở Tây Vực, phía Tây ngọn Thông Lĩnh. Vị trí hiện nay chính là vùng Kunduz phía Nam sông Oxus.
15 Ô-sát 烏鎩: Usa (Osh, Och, Ūsch), một nước thời xưa phía Đông Thông Lĩnh, Tân Cương.
16 Cao tăng Pháp Hiển truyện 1, p857b3, p857c3.
17 Nước Hán-bàn-đà: Xem cht. 41, tr. 61.
18 Lạc Dương già-lam ký 5, T51n2092_p1019a22.
19 Khư-sa 佉沙: Skt. Khāsa, hoặc gọi Sa-lặc, Sơ-lặc. Vị trí hiện nay là Kashgar, Tân Cương.
20 Sông Tỉ-đa 徙多河: Skt. Śītā, Pāli. Sītī, dịch sông Lạnh, vị trí hiện nay là sông Tích-nhĩ (Sir-Daria). Theo Tây Vực ký 12, phần tự thuật về nước Ô-sát, nước Thương-di, nước Chước-cú-ca thì suy đoán sông Tỉ-đa hiện nay là sông Diệp-nhĩ-khương (Yarkand)…
 
đến nước Chước-cú-đa... từ đây theo hướng Đông, vượt qua núi, hang, đi hơn 800 dặm, đến Cù-tát-đán-na (tức Vu-điền)” (Tây Vực ký 12).21
“Chu-cú-ba ở phía Tây nước Vu-điền hơn 1.000 dặm, từ phía Tây nước ấy đến nước Hát-bàn, phía Nam đến Nữ Quốc22 3.000 dặm, phía Bắc đến Sơ-lặc 900 dặm, phía Đông đến Thông Lĩnh 200 dặm (giống Tân Đường thư, chỉ nói khác phía Bắc Thông Lĩnh 300 dặm)” (Thông điển 193).
“(Sơ-lặc) phía Nam cách Chu-câu-ba một ngàn dặm... (Vu-điền) phía Tây cách Chu-câu-ba một ngàn dặm” (Tùy thư 83).
Ngài Huyền Trang từ Khiết-bàn-đà23 sang phía Đông, xuống sườn núi phía Đông Thông Lĩnh là tới Ô-sát; Chước-cú-ca còn ở phía Đông núi ấy. Ngài Pháp Hiển từ phương Đông Tử Hợp, tức Chước-cú-ca — từ Tây đi về phía Nam 4 ngày, tiến vào Thông Lĩnh tới nước Huy. Ở Độc Ô, nước Huy tức là Ô-sát, nhất định vị trí phía Đông Thông Lĩnh là đầu mối chỗ cửa ra vào. Ngài Huệ Sinh v.v... từ Chu-cú-ba đi  về hướng Tây, 6 ngày lên đến Thông Lĩnh thì Chước-cú-ca phải ra đến phía Đông Thông Lĩnh, chỗ đầu mối ra vào về phía Đông (tới điểm Bắc), cách nhau chừng hơn 200 dặm, tất cả đã được trình bày rất rõ. Từ sự ghi chép trong mỗi sách về nước Chước-cú-ca và các quốc gia khắp bốn phía xa gần, có thể thấy được vị trí của Chước-cú-ca.
 

21 Tây Vực ký 12, T51n2087_p942b9.
22 Nữ quốc 女國: Nước này nằm phía Nam Thông Lĩnh, quốc vương là nữ giới.
23 Khiết-bàn-đà: Xem nước Hán-bàn-đà.
 
Nghiên cứu Phật Giáo Tây Vực
Từ Bắc Chước-cú-ca đến Sơ-lặc, so với từ phía Đông đến Vu-điền gần hơn chừng một, hay hai phần mười. Tây Vực ký24 ghi rằng: “Đến dải đất hai dòng sông”, rõ ràng vị trí ấy ở khoảng lưu vực sông Ước-phu và sông Diệp-nhĩ-khương. Hoặc là quốc thành tức Diệp Thành (Kargalik)25 mà ông Stein và Chavannes đã tìm hiểu xác định. Tây Vực ký nói: “Phía Nam đất nước có núi lớn”; ngài Pháp Hiển đi về phía Nam 4 ngày vào đến núi, ngài Huệ Sinh v.v... đi về phía Tây 6 ngày lên đến Thông Lĩnh. Núi lớn của phía Tây nam cách thành Chước-cú-ca chừng hai, ba trăm dặm. Nói tóm lại, Chước-cú-ca là nước Đại thừa Phật giáo ở tại dải đất gần Diệp Thành, phía Tây nam lấy núi lớn làm biên giới.
Tuy nhiên, cho rằng Tử Hợp mà ngài Pháp Hiển đi qua là cách xa núi khe Ngõa-hãn chắc chắn không đủ tin, nhưng nói núi Hồ Kiền là Ngõa-hãn cũng không mất giá trị. Vấn đề
 

24 Tây Vực ký 12, T51n2087_p942c25.
25 Diệp Thành 葉城 (Kargalik): Nay là huyện Diệp Thành tỉnh Tân Cương, cũng là vị trí nước Tử Hợp trước đây.
 
này có thể khảo luận ở Hán thư. Theo chỗ tôi thấy thì Tử Hợp trong Hán thư hoàn toàn không giống với điều mà hậu thế nói.
“Vua nước Tây Dạ26 hiệu là Tử Hợp, trị ở khe núi Hô Kiền;... nước Bồ Lê27, Y Nại,28 Vô Lôi29 đều là Tây Dạ vậy. Tây Dạ khác với tộc Hồ, giống chủng tộc ấy là tộc Khương, Hành quốc,30 theo vật nuôi qua lại những vùng có nước có cỏ, mà đất đai Tử Hợp sản xuất ra đá ngọc”.
Theo đoạn văn trên, hình như Tây Dạ là tên nước, Tử Hợp là tên vua, thật ra thuật lại nước Tây Dạ chỉ phụ thêm việc vua Tử Hợp. Tây Dạ, Bồ Lê v.v... là đồng một chủng tộc du mục, phong tục giống nhau. Như nói sau đây:
Bồ Lê... phong tục giống Tử Hợp.
Y Nại... tiếp giáp với Tử Hợp, phong tục giống nhau.
Vô Lôi... phong tục giống Tử Hợp.
Trong những bộ tộc du mục này, thì Tử Hợp hình như đặc biệt kiệt xuất hơn. Và tuy những bộ tộc này cùng chủng tộc với Tây Dạ, nhưng phong tục nhất định giống với Tử Hợp. Tử Hợp có riêng lãnh địa nên họ không đồng với Tây Dạ v.v... Bằng chứng là Hán thư (như văn dẫn trên) tổng luận về dân tộc du mục Tây Dạ, lại nói “đất đai Tử Hợp sản sinh ra
 

26 Tây Dạ 西夜: Nay phía Nam huyện Sa-xa tỉnh Tân Cương.
27 Bồ Lê 蒲犂: Nay là huyện, phía Tây huyện Diệp Thành tỉnh Tân Cương.
28 Y Nại 依耐: Nay là huyện Anh Cát Sa tỉnh Tân Cương.
29 Vô Lôi 無雷: Vị trí hiện nay phía Bắc cao nguyên Pamir, tỉnh Tân Cương.
30 Hành quốc 行國: Tên một bộ lạc du mục cũng là tên nước thời cổ đại, đời sống giong ruổi theo thú nuôi đến nơi có nguồn nước, thảo mộc, phạm vi hoạt động rộng, không nhà cửa, không thành quách cố định.
 
ngọc thạch”, vậy trong các bộ tộc này, Tử Hợp là bộ tộc chiếm vùng đất đặc sắc.
Tham khảo Tây Vực ký (12):31
“Ô-sát... sản xuất ra đủ thứ ngọc, có ngọc trắng, ngọc đen, ngọc xanh.”
Nước Huy ở thời Tấn, Ô-sát thời Đường thật ra là Tử Hợp ở đời Hán, phải là chỗ cửa ra vào — trên núi dưới núi — sườn núi phía Đông Thông Lĩnh, nên cho là Tây Dạ đời Hán, “Phía Đông cùng với Bì Sơn,32 ... Bắc tiếp giáp với Sa-xa”, đất ấy là Tử Hợp từ thời Ngụy, Tấn trở về sau. Nhưng Tử Hợp đời Hán thì ở trong núi Tây nam của Tây Dạ. Từ đây đi về phía Tây tức là con đường khe núi Ngõa-hãn. Hán thư cho là vua Tử Hợp cai trị khe núi Hô Kiền, vùng đất sản xuất ngọc thạch, nước ấy thuộc khu vực núi Thông Lĩnh là không nghi ngờ gì. Nếu luận về vị trí thì Tây Dạ và Tử Hợp cũng không đồng. Tây Dạ là tộc người xa nhất, ở phía Đông, nên “Đông cùng (tiếp giáp) với Bì Sơn”. Thứ đến, Tây thì Bồ Lê, tức là huyện Bồ Lê ngày nay. Người phương Tây gọi là Tashkurgan. Hán thư nói là “Phía Nam tiếp giáp với Tây Dạ, Tử Hợp”, đại để là Đông nam tiếp giáp gần Tây Dạ, Tây nam gần Tử Hợp. Lại nữa, phía Tây là Y Nại; phía Đông của Y Nại đến tận Sa-xa; phía Tây (Bắc) đến Vô Lôi, đều là 540 dặm; khoảng cách Sa-xa, Vô Lôi và Bồ Lê đồng nhau. Nhưng mà phía Bắc đến Sơ-lặc, Bồ Lê là 550 dặm, Y Nại thì 650 dặm. Theo ý ấy mà suy tìm thì Y Nại cách Tây nam Bồ Lê 100 dặm. Như từ phía Bắc lên Sơ-lặc lại phải qua Bồ Lê nên xa 100 dặm. Từ Đông đến Sa-xa thì có thể đi ra thẳng sườn
 

31 Tây Vực ký 12, T51n2087_p942b11.
32 Bì Sơn 皮山: Một trong những nước ở Tây Vực thời Hán. Nay là huyện Bì Sơn tỉnh Tân Cương.
 
 phía Đông núi Thông Lĩnh, khoảng cách Sa-xa và Bồ Lê xa gần bằng nhau. Vậy Y Nại trong Hán thư chỉ nói rằng: “Phía Nam tiếp giáp cùng Tử Hợp”, không bao gồm thêm Bồ Lê và Tây Dạ.
Lại nữa, Tây (bắc) là Vô Lôi, ra khỏi Đại Nguyệt Thị là đi qua nơi này; phía Tây tiếp giáp Đại Nguyệt Thị, phía Nam nước ấy đến thẳng Ô Thác, là biên giới Tây bắc Ấn Độ. Vùng đất ấy nằm ở phía Tây khe núi Ngõa-hãn, nên không đề cập Tử Hợp nữa. Tây Dạ ở phía Đông mà Tử Hợp ở phía Tây; Bồ Lê, Y Nại ở phía Bắc mà Tử Hợp ở phía Nam. Quả thật Hán thư đã nói về chúng rất rõ.
Tây Dạ — Đông tiếp giáp Bì Sơn... Tây tiếp giáp Bồ Lê... Tây nam tiếp giáp Ô Trạ.33
Bồ Lê — Nam tiếp giáp Tây Dạ, Tử Hợp.
Y Nại — Nam tiếp giáp Tử Hợp.
Vô Lôi — Nam tiếp giáp Ô Trạ.
Tây Dạ khác với Tử Hợp, nhưng do đâu Hán thư không phân ra nước Tử Hợp mà viết “Vua nước Tây Dạ hiệu là Tử Hợp”? Trộm nghĩ, Tử Hợp lúc bấy giờ hưng thịnh, phía Đông ra khỏi Thông Lĩnh mà thống trị luôn đất Tây Dạ, trung tâm cương thổ ở trong Thông Lĩnh, phía Tây đến đường khe núi Ngõa-hãn. Cho nên Hán thư lúc chép, từ Đông sang Tây, đầu tiên rõ biết Tây Dạ, lại trong lời văn ghi “Vương hiệu Tử Hợp, vua trị khe núi Hô Kiền”. Nói về Tây Dạ phiếm luận đến các dân tộc giống nhau, lại kết luận “Đất đai Tử Hợp sản sinh ra ngọc thạch”. Nếu cho Hán thư không biết Tây Dạ, Tử Hợp có khác nhau thì chưa chắc!
 

33 Ô Trạ (Nã) 烏秅: Một trong những nước ở Tây Vực thời Hán. Vị trí hiện nay nằm giữa núi Karakoram và thượng du sông Yarkand.
 
Và Hậu Hán thư chỉ nói đến Tây Dạ, Tử Hợp, Đức Nhược; còn với Bồ Lê, Y Nại, Vô Lôi thì đề cập chưa trọn vẹn. Vả lại do Hán thư cho Tử Hợp, Tây Dạ là một nước mà Hậu Hán thư trách “Trong Hán thư ngộ nhận rằng Tây Dạ và Tử Hợp chính là một nước, nay mỗi nơi đều tự có vua”. Nhưng đến lúc này thời thế đổi thay mới có sự bất đồng. Hậu Hán thư nói rằng:
“Nước Tây Dạ... gồm có 2.500 hộ, có hơn một vạn nhân khẩu, thắng binh (quân lực hùng mạnh) gồm 3.000 người”.
“Nước Tử Hợp... gồm có 350 hộ, 4.000 nhân khẩu, binh gồm 1.000 người”.
Tây Dạ chợt trở nên cường thịnh, mà Tử Hợp thì lui về giữ khe núi phía Tây, thật chẳng phải (địa lý) thời cũ nhà Hán. Vả lại Hán thư nói: Ô Trạ “Khoảng ruộng đá có bạch thảo”; Hậu Hán thư lại viết Tây Dạ, “Đất sinh bạch thảo”. Thế thì khu vực núi phía Tây nam, cả vùng Tây Dạ đều có phần ấy. Sách họ Phạm (Phạm Diệp soạn Hậu Hán thư) căn cứ hôm nay để ngờ vực xưa, hình như chưa trọn vẹn được!
Nhưng từ đời Tấn trở về sau, ngài Pháp Hiển, Tống Vân, Huyền Trang v.v... đi qua đất này đều một mực gọi Tây Dạ vào đời Hán là Tử Hợp; nhưng mà vùng núi Thông Lĩnh đặc biệt có Ô-sát, Kiệt-xoa,34 Khiết-bàn-đà v.v... lại không nghe có danh xưng khe núi Hô Kiền, Tử Hợp. Rất có thể do Tây Dạ, Tử Hợp... đồng một bộ tộc, cùng phong tục rồi lâu ngày hợp lại dần mà khó phân biệt. Lại do khi đời Hán mới thông với Tây Vực thì phía Đông Tử Hợp làm vua Tây Dạ, nghiễm
 

34 Kiệt-xoa 竭叉: Một nước thời xưa nằm giữa cao nguyên Pamir, Ấn Độ.
 
nhiên đứng đầu đồng tộc. Người Hán quen nghe việc ấy mới phần nhiều dùng Tử Hợp để gọi họ, lâu ngày chầy tháng quên dần cái tên gốc kia. Nhưng ở trong vùng Thông Lĩnh, Tử Hợp trở nên suy bại, có bộ tộc khác dấy lên, đến khi Phật pháp lưu thông suốt con đường Thông Lĩnh thì đệ tử Phật đã không biết là có Tử Hợp vậy!
Tóm lại, lúc ngài Pháp Hiển, Tống Vân, Huyền Trang v.v... đến Tử Hợp, thì Tử Hợp là nước Đại thừa duy nhất ở Tây Vực, chính xác ở phía Đông của Thông Lĩnh. Họ Sầm (Sầm Trọng Miễn) dựa vào Hán thư để cùng hậu thế tìm Tử Hợp ở trong Thông Lĩnh thì không đủ bằng chứng xác thực được.
/75
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
🙏 Trợ Lý Phật Pháp AI »