Tìm kinh sách
Vần A-Z:
Nghiên cứu Phật Giáo Tây Vực

Nghiên cứu Phật Giáo Tây Vực

Tác giả: Cư sĩ Tuệ Khai, Phụ chú: Thích Tâm Nhãn. Dịch giả: Cư sĩ Tuệ Khai, Phụ chú: Thích Tâm Nhãn. Năm xuất bản: 2011. Số trang: 604.

Chương 34: IV. Phật Giáo Đại Nguyệt Thị (Trang 299 - 338)

thổ rộng lớn ấy đều thuộc phạm vi thế lực của tín đồ Hồi giáo. Nguyên nhân đó đã làm cho Phật giáo trên lãnh địa dân tộc Nguyệt Thị hoàn toàn tuyệt gốc vậy.
IV. PHẬT GIÁO ĐẠI NGUYỆT THỊ
Nếu chúng ta muốn biết tình trạng Phật giáo lưu hành ở nước Đại Nguyệt Thị, thì phải kiểm chứng kinh điển Phật giáo từ nước ấy truyền vào Trung thổ mới rõ được. Lấy việc này làm chuẩn mực, thử làm một cuộc nghiên cứu Phật điển từ nước Đại Nguyệt Thị mang đến Trung Quốc, vậy những bộ kinh ấy như thế nào?!
Sách Xuất tam tạng ký tập quyển 2,66 do ngài Tăng Hựu soạn thời Lương nói rằng: “Hựu kiểm duyệt ba tạng, hỏi han nghiệm xét nguồn gốc để lại thì kinh xưa hiện tại không kinh nào có trước kinh Tứ thập nhị chương”. Cao tăng truyện quyển 167 của Tuệ Kiểu nói: “Các kinh thấy còn ở đất Hán, chỉ kinh này là trước tiên vậy.”
Vậy kinh Tứ thập nhị chương như trong Xuất tam tạng ký tập đã nói, quả thật là do vua Minh đế sai sứ giả đến Nguyệt Thị gặp Sa-môn Trúc-ma-đằng mà chép dịch ra, mang về Lạc Dương đó ư? Nếu đây là sự thật thì kinh Tứ thập nhị chương hiện còn, chắc chắn từ Nguyệt Thị truyền đến. Nhưng thuyết kinh Tứ thập nhị chương hiện còn, từ Nguyệt Thị truyền đến vào thời vua Minh đế, thì ông Cảnh Dã Triết (Trung Quốc Phật giáo sử cương, chương thứ nhất) và ông Linh Mộc Tông Dịch (Triết học tạp chí số 270, từ trang 783) đều nghi vấn. Theo lời ngài Tăng Hựu nói, cho là trong Kinh lục của ngài
 

66 Xuất tam tạng ký tập 2, T55n2145_p5b24.
67 Cao tăng truyện 1, T50n2059_p325a15.
 
Đạo An, năm Ninh Khang thứ 2, đời Đông Tấn (năm 374 Tl.) đều chưa ghi chép tên kinh này. Nếu thời đại ngài Đạo An, kinh này đã lưu hành, thế thì người học rộng như ngài Đạo An lý gì chẳng biết đến kinh này.
Vả lại, ký sự liên quan đến kinh này được ghi chép sớm nhất, thấy trong Lý hoặc luận của Mâu Tử, cho là 12 người sứ giả của vua Minh đế đến Đại Nguyệt Thị thỉnh bốn mươi hai chương kinh Phật. “Bốn mươi hai chương kinh Phật” này có quả thật là kinh Tứ thập nhị chương không thì vẫn còn nghi ngờ? Ông Ngốc Thị Hựu Tường cho rằng: đây phải là bộ kinh Phật 42 bài đã ghi chép lấy được, lời dẫn rất rõ ràng. Ngoài ra, theo ông Linh Mộc, nếu dựa trên tính chất của kinh thì có nghi vấn, vì đem ba bản khắc in: Triều Tiên, đời Tống, đời Nguyên, so sánh với bản khắc đời Minh, chương tiết của kinh rất sai lạc, trái ngược nhau. Hơn nữa, quan sát ngôn ngữ dịch trong kinh thì bản kinh Tứ thập nhị chương hiện còn tuyệt đối chẳng phải là sản vật thời kỳ đầu Phật giáo truyền dần về Đông. Nhưng ông Linh Mộc lại căn cứ vào tiết một, chương thứ 3 kinh Tứ thập nhị chương, bản Triều Tiên hiện còn, có viết:
“Đức Phật nói, cạo bỏ râu tóc làm Sa-môn, thọ nhận đạo pháp, bỏ của cải thế gian, khất thực cầu lấy đủ, giữa ngày ăn một bữa, mỗi đêm dưới gốc cây ngủ một lần, thận trọng đừng thêm. Làm cho con người ngu mê chính là ái và dục vậy.”
Và tiết 1, chương thứ 25 đồng sách, viết:
“Thiên thần hiến dâng Ngọc nữ cho đức Phật, muốn thử ý đức Phật, quan sát đạo Ngài. Đức Phật nói: Túi da chứa nhiều dơ bẩn, ngươi đến làm gì; dùng thứ khá dung tục
ấy khó động được lục thông, đi đi, Ta không dùng đến ngươi.”
So sánh với tiết 1 trong Hoàn Đế thư, Tương Giai truyện quyển thượng, Hậu Hán thư Liệt truyện quyển 20 hạ, ghi:
“Hoặc nói rằng: Lão Tử vào vùng Di Địch làm Phù-đồ (Phật), Phù-đồ chẳng ba lần nghỉ qua đêm dưới cây dâu, chẳng muốn ở lâu sinh ân ái, rất tinh ròng vậy. Thiên thần để lại gái đẹp, Phù-đồ nói rằng: Đây chỉ là túi da chứa máu, không ngó đến, giữ gìn như thế mới có thể thành đạo. Nay bệ hạ nào là gái dâm, đàn bà đẹp, đẹp nhất thiên hạ, đồ ăn ngọt béo, đồ uống ngon lành, một mình hưởng hết vị của thiên hạ, thì làm sao muốn được như Hoàng Lão ư?”
Thấy hai sách ấy có quan hệ mật thiết, nên cho rằng sách gốc của kinh Tứ thập nhị chương hiện còn phải là thời Hoàn đế (năm 147-167 Tl.), mà chính xác là tồn tại từ Hoàn đế trở về trước. Kinh này đã truyền vào Trung Quốc, chắc chắn có thể quyết đoán mà nói. Song, từ Minh đế trở về sau là thời gian Trung Quốc và Tây Vực trên phương diện Phật giáo hầu như đã đoạn tuyệt giao lưu đến 80 năm, thì kinh Tứ thập nhị chương truyền vào Trung Quốc không thể tìm ở thời Minh đế.
Nhưng căn cứ vào lời ghi trong Lý hoặc luận và Xuất tam tạng ký tập, kinh này chắc chắn có quan hệ với nước Nguyệt Thị. Có lẽ kinh Tứ thập nhị chương hiện còn là từ nước Nguyệt Thị truyền đến. Năm trước, ông Tự Bản Uyển Nhã dịch kinh Tứ thập nhị chương từ nguyên bản Tây Tạng, rồi so sánh câu cú, văn tự bản Hán dịch hiện còn không thấy có chỗ trái nhau. Trước đây, tôi cho là nguyên bản Tây Tạng nhất định từ bản chữ Hán hiện còn mà dịch lại, nhưng gần đây
theo lời ông Tự Bản, nguyên bản Tây Tạng chính từ nguyên bản Ấn Độ phiên dịch ra, vì trong lời tựa của sách ấy có ghi, nên biết là không phải căn cứ bản dịch Trung Quốc. Nếu quả thật như vậy thì kinh Tứ thập nhị chương bản hiện hành có nguồn gốc từ Ấn Độ. Nhưng nếu chúng ta căn cứ kết quả nghiên cứu, khảo tra bản kinh Tứ thập nhị chương hiện còn, thì không thể không nghi ngờ. Chỉ có điều kinh Tứ thập nhị chương bản Tây Tạng phải chăng là bản Thiên Trúc dịch thành, rồi bản chữ Hán dịch lại?
Cùng đi với ngài Ma-đằng là ngài Trúc Pháp Lan, nhưng so ra ngài Trúc Pháp Lan đến Lạc Dương sau, căn cứ Cao tăng truyện quyển 168 nói rằng: “Đã từng phiên dịch năm bộ kinh là: Thập địa đoạn kết kinh, Phật bản sinh, Pháp hải tạng, Phật bản hạnh, Tứ thập nhị chương v.v…” Lại căn cứ Lịch đại Tam bảo kỷ quyển 4,69 kinh do ngài Trúc Pháp Lan phiên dịch: kinh Phật bản hạnh 5 quyển, kinh Thập địa đoạn kết 4 quyển (hoặc là 8 quyển, xem Hán lục của Chu Sĩ Hành), kinh Pháp hải tạng 1 quyển (1 bản không có chữ Tạng), kinh Phật bản sinh 1 quyển (xem Danh tăng lục), Nhị bách lục thập giới hiệp dị 2 quyển (xem Biệt lục). Nếu ngài Pháp Lan và ngài Ma-đằng đều là người từ Đại Nguyệt Thị đến, thì có thể thấy những kinh điển này có quan hệ với Đại Nguyệt Thị. Nhưng chúng ta tìm tòi giải thích kỹ càng thêm những kinh điển này lại có điểm nghi ngờ. Tuy trong Xuất tam tạng ký tập có ghi tên ngài Ma-đằng, nhưng liên quan đến tên ngài Pháp Lan thì không có ghi chép. Truyện Pháp Lan trong Lương cao tăng truyện cho là kinh điển phiên dịch của ngài gồm năm bộ, rồi nói tiếp rằng: “Loạn lạc giặc cướp, dời kinh đô, bốn bộ mất bản, chẳng
 

68 Cao tăng truyện 1, T50n2059_p323a12.
69 Lịch đại tam bảo kỷ 4, T49n2034_p50a5.
 
truyền bá ở Giang Tả, chỉ có kinh Tứ thập nhị chương là đến nay thấy còn, có thể gồm hơn hai ngàn lời.”
Vậy là thời Lương, bốn bộ kinh Thập địa đoạn kết, Phật bản sinh, Pháp hải tạng, Phật bản hạnh không còn tồn tại là rõ ràng. Nhưng đương thời kinh Tứ thập nhị chương tồn tại đều xác định là do Pháp Lan dịch. Truyện Ma-đằng trong Cao tăng truyện70 của Tuệ Kiểu cho rằng: “Có ghi là Ma-đằng dịch kinh Tứ thập nhị chương 1 quyển, ban đầu cất kỹ trong gian thứ 14 của Lan đài thạch thất”. Tuy nhiên, kinh Tứ thập nhị chương do ngài Ma-đằng dịch, dường như vẫn khiến người ta nghi ngờ, chưa tin chắc được.
Sách Chúng kinh mục lục quyển 2,71 do Pháp Kinh v.v… biên soạn năm Khai Hoàng thứ 14 nhà Tùy, nói rằng: “Kinh Tứ thập nhị chương 1 quyển (6 tờ) do Trúc Pháp Lan v.v… dịch năm Vĩnh Bình đời Hậu Hán”, rõ ràng nói do ngài Pháp Lan dịch. Ngài Bảo Xướng cũng cho kinh này là do ngài Pháp Lan dịch. Điều mục kinh Tứ thập nhị chương trong Lịch đại tam bảo kỷ quyển 4 nói rằng: “Ngài Bảo Xướng cho rằng chính ngài Pháp Lan dịch”. Nhưng người viết Lịch đại tam bảo kỷ là Phí Trường Phòng nhắc lại để phản đối, ông viết tiếp rằng: “Điều này hoặc căn cứ việc ngài (Pháp Lan) và ngài Nhiếp Ma-đằng đi đến cùng thời vậy”. Nên họ Phí xác định là ngài Ma-đằng cùng ngài Pháp Lan dịch chung. Vì dịch giả kinh này đầu tiên đã lờ mờ chẳng rõ ràng, như trong Lý hoặc luận chỉ nói là mười hai người sứ giả của vua Minh đế ở nước Đại Nguyệt Thị chép lấy kinh Tứ thập nhị chương, còn đối với dịch giả kinh ấy thì tuyệt nhiên không ghi chép. Lại thấy thế văn cú pháp trong sách Xuất tam tạng ký tập nói,
 

70 Cao tăng truyện 1, p323a1.
71 Chúng kinh mục lục 2, T55n2147_p161b29.
 
nếu cho người dịch kinh này không phải là ngài Ma-đằng thì thà cho sứ giả Trương Khiên, Tần cảnh là hơn.
Tóm lại, chúng ta luận thuật đến đây, trên phương diện nghiên cứu trọng tâm về kinh Tứ thập nhị chương hiện còn là thời Minh đế, từ nước Nguyệt Thị truyền đến đã rõ ràng. Còn dịch giả kinh ấy là ai, nghiên cứu không đến được rốt ráo.
Tiếp theo là bộ Nhị bách lục thập giới hợp dị 2 quyển, của ngài Pháp Lan dịch, có chép trong Lịch đại tam bảo kỷ, còn Xuất tam tạng ký tập không thấy ghi chép, bàn luận. Kinh lục72 của Pháp Kinh, Trí Thăng cũng chẳng rõ. Nhưng Trinh Nguyên tân định thích giáo mục lục quyển 2573 của ngài Viên Chiếu soạn, chú rằng: Vị Sa-môn đời Đông Tấn là Trúc-đàm-vô-lan đã dịch Nhị bách lục thập giới tam bộ hợp dị 2 quyển, việc ấy được luận thuật ở đoạn văn dưới đây:
“Bài tựa Hợp giới nói rằng: ngày 25 tháng 6 năm Tân Tỵ, nhằm năm Thái Nguyên thứ 6 nhà Tấn, Tỳ-kheo Trúc-đàm-vô-lan ở chùa Tạ Trấn Tây hợp giới này,74 đến ngày 18 tháng 7 ghi chép hợp giới đó. Lại nữa, trong Trường Phòng nội điển nhị lục và Tĩnh Mại kinh đồ đều nói rằng: Thời Hán Minh đế, Sa-môn Trúc Pháp Lan dịch Nhị bách lục thập giới hợp dị 2 quyển; tuy thuyết này rõ ràng, nhưng xét về lý không đúng. Đang khi Phật pháp mới hưng khởi, giới luật chưa đủ thì việc hợp sự sai khác của giới từ đâu mà đến? Nay theo ngu kiến của tôi đoán chắc
 

72 Kinh lục: Xem cht 12. tr. 50.
73 Trinh Nguyên tân định thích giáo mục lục 25, T55n2157_p985a9.
74 Khoảng thời gian từ ngày 25 tháng 6 đến ngày 18 tháng 7, năm thứ 6 niên hiệu Thái Nguyên, ngài Trúc-đàm-vô-lan (Đàm-vô-lan) ở tại chùa Tạ Trấn Tây, cương giới huyện Kiến Khang, quận Đan Dương, Dương Châu, hợp ba bộ giới bổn Đại Tỳ-kheo, so sánh sự dị đồng rồi khảo biên soạn thành Đại Tỳ-kheo nhị bách lục thập giới tam bộ hợp dị.
 
chỉ là nêu đầy đủ tên họ hai người hợp giới là Trúc-đàm, Vô-lan. Nhà sao lục ngộ nhận ý trên, cho Đàm-vô tức là Pháp, lại cho đó là Pháp Lan, nên Cao tăng truyện ghi do Pháp Lan dịch, nhưng chỉ ở đây nêu lên, còn các bộ khác không có tên của giới này. Nay trong bản sao lục này bỏ đi chẳng lập nữa vậy.”
Từ đây mà xét thì 2 quyển Nhị bách lục thập giới hợp dị là Đàm-vô-lan dịch, do điểm tương đồng của tên ấy mà luận văn cho là Pháp Lan dịch. Trong việc dịch kinh thời xưa, nhiều sự thật đã lưu truyền nhầm lẫn, nên trong bốn bộ kinh điển khác nói là do ngài Pháp Lan dịch, hoặc hậu thế cũng truyền nhầm, nghĩa là thuộc những dịch giả khác, chưa có thể biết.
Như 5 quyển kinh Phật bản hạnh cùng tên với 7 quyển kinh Phật bản hạnh do Tống Vân dịch, kinh Pháp hải tạng 1 quyển, hoặc bỏ chữ “tạng” gọi là kinh Pháp hải, cùng tên với Pháp hải tạng 1 quyển, do ngài Pháp Cự đời Tây Tấn dịch.
Lại nữa, 4 quyển kinh Thập địa đoạn kết do ngài Trúc Phật Niệm dịch đời Hậu Tần, những bản dịch ấy giống nhau không? Tuy chưa thể biết, nhưng vấn đề cốt lõi là kinh Tứ thập nhị chương hiện còn của thời Minh đế, chắc chắn có thể truy tìm nghiên cứu được. Bởi vì những truyền thuyết về nhân cách của đức Phật Thích-ca Mâu-ni, giáo chủ Phật giáo, và những kinh điển cùng một loại như “Kinh bản sinh”, “Kinh bản hạnh” được dịch vào thời kỳ đầu Phật giáo truyền vào, đây là trình tự tự nhiên của việc truyền bá đạo pháp. Do những nguyên cớ này nên các kinh điển ở đây hình như là được truyền vào từ thời Minh đế. Lại căn cứ vào sự ghi chép của Phí Trường Phòng, như kinh Thập địa đoạn kết 4 quyển, thấy ở Hán lục của Chu Sĩ Hành, kinh Phật bản sinh 1 quyển,
thấy trong Danh tăng lục của Bảo Xướng, hầu như những kinh này đều là truyền nhầm.
Trong truyện ký về ngài Ma-đằng, Pháp Lan, có những sự thật đáng tin, lịch sử đã một lần viết thì không thể sửa đổi, bôi xóa được. Giả sử truyện ký ấy là do tín đồ Phật giáo đời sau tạo thành, nhưng vào thời Hoàn đế (Hậu Hán - Lưu Chí), phần tử tri thức và quan lại đã có dẫn dụng kinh điển này mà làm tấu chương dâng lên vua, có thể biết thời kỳ ấy Phật điển được lưu hành rồi. Vả lại, vua Minh đế tự nhận mình là người bảo hộ Phật giáo. Từ tài liệu trên mà kiểm chứng, rõ ràng những Tăng sĩ Phật giáo đó nhận sứ mệnh của vua Đại Nguyệt Thị đến Trung Quốc, sự thật ít nhiều đều có dịch kinh, chắc chắn không được phép phủ nhận.
Sa-môn Chi-lâu-ca-sấm từ nước này (Đại Nguyệt Thị) đến Lạc Dương, vào năm Trung Bình thứ 3 đời Linh đế (năm 186 Tl.), dịch 23 bộ kinh Phật, gồm 67 quyển (Xuất tam tạng ký tập chép 14 bộ, gồm 27 quyển, Lịch đại tam bảo kỷ chép 21 bộ, gồm 63 quyển, nay theo Khai Nguyên lục). Nhưng kinh điển loại này hầu như đều là Đại thừa bộ, tức là kinh Đạo hành bát-nhã ba-la-mật (kinh Bát-nhã đạo hành phẩm, kinh Ma-ha bát-nhã ba-la-mật đạo hành) 10 quyển (8 quyển), tức là hội thứ tư Đại Bát-nhã.
Kinh Vô lượng thanh tịnh bình đẳng giác (kinh Vô lượng thanh tịnh, kinh Đại A-di-đà) 2 quyển, đồng bản với Bảo tích vô lượng thọ hội.
Kinh A-súc Phật quốc (kinh A-súc Phật sát chư bồ-tát học thành phẩm) 2 quyển (1 quyển), đồng bản với Bất Động Như Lai hội.
Kinh Phật di nhật ma-ni bảo (kinh Cát phẩm di nhật thuyết bát-nhã, kinh Đại bảo tích, kinh Ma-ha-diễn bảo nghiêm) 1 quyển, đồng bản với Phổ Minh bồ-tát hội.
Cùng với bộ Phương đẳng có:
Kinh Đại phương đẳng đại tập, 27 quyển.
Kinh Bát-chu tam-muội (kinh Thập phương hiện tại Phật tất tại tiền lập định).
Kinh Đại bát-chu tam-muội, 3 quyển.
Kinh Nội tạng bách pháp, 1 quyển.
Kinh Văn Thù bồ-tát thự (Vấn thự kinh), 1 quyển.
Kinh Thuần-chân-đà-la sở vấn Như Lai tam-muội, 3 quyển.
Kinh Thủ lăng-nghiêm, 2 quyển.
Kinh Bát-chu tam-muội, 1 quyển.
Kinh Đâu-sa (đồng bản kinh Hoa nghiêm [Như Lai] danh hiệu phẩm), 1 quyển.
Những kinh khác:
Kinh Phạm bát-nê-hoàn, 2 quyển.
Kinh Thiền, 1 quyển.
Kinh A-dục vương thái tử hoại mục nhân duyên, 1 quyển v.v… Tất cả đều do ngài Chi-lâu-ca-sấm dịch.
Năm Trung Bình thứ 2, đời Linh đế (năm 185 Tl.) ở Lạc Dương, Sa-môn Chi Diệu dịch 10 bộ kinh. Các Kinh lục đều cho rằng ngài là người Tây Vực. Căn cứ sự ghi chép ở Nam điều mục lục (trang 383), e rằng ngài là người Nguyệt Thị, nhưng bất luận thế nào, hễ tên người Tây Vực có họ “Chi 支” nhất định có quan hệ với Nguyệt Thị, không nghi ngờ gì.
Kinh của ngài Chi Diệu dịch hầu hết đều là kinh điển Tiểu thừa, như kinh A-na-luật bát niệm (kinh Bát niệm, kinh Thiền hành liễm ý) 1 quyển, và kinh Lại-tra-hòa-la là bản dịch khác thuộc Trung A-hàm quyển 18, 31.
Kinh thuộc về Tạp A-hàm quyển 33, là kinh Mã hữu tam tướng (kinh Thiện mã hữu tam tướng) 1 quyển, và kinh Mã hữu bát thái thí nhân (kinh Mã hữu bát thái, kinh Mã hữu bát tệ ác thái 1 quyển).
Những kinh khác ngài dịch còn có:
Kinh Tiểu bản địa (đồng bản với kinh Tu hành bản khởi, Thụy ứng bản khởi) 1 quyển.
Kinh Tiểu đạo địa, 1 quyển. Và kinh Thành cụ quang minh định ý (kinh Thành cụ quang minh tam-muội, Thành cụ quang minh) 1 quyển, mà kinh sau thuộc kinh điển của Đại thừa bộ.
Trong khoảng hơn 30 năm, từ năm Hoàng Võ thứ 2 đời Tôn Quyền (năm 223 Tl.), đến năm Kiến Hưng thứ 2 (năm 253 Tl.), Ưu-bà-tắc Chi Khiêm (tự là Cung Minh hoặc tên Việt) là người Đại Nguyệt Thị, dịch kinh đa số là Phạn văn. Vào thời Hán Linh đế, tổ phụ ông là Pháp Độ, từng dẫn vài trăm người nước Nguyệt Thị đến quy hóa (nhập quốc tịch, hòa nhập truyền thống văn hóa), nghĩa là lúc thiếu thời Chi Khiêm được trưởng dưỡng ở Trung Quốc. Kinh điển do ông dịch tuy không quan hệ gì với nước Nguyệt Thị, nhưng thời thơ ấu, ông theo học với người Nguyệt Thị là Chi Lượng, đệ tử của Chi Sấm, giỏi ngôn ngữ của Trung Hoa và Di tộc, mới thu gom nhiều bản (dịch ra Hán văn). Cuộc đời của ông vì sự nghiệp phiên dịch (Khai Nguyên lục quyển 2). Trong những kinh điển do ông dịch, có những kinh mà ngài Chi Sấm từ nước Nguyệt Thị mang đến để lại chưa dịch. Vả lại, tổ phụ của ông đã dẫn vài trăm người nước Nguyệt Thị đến quy hóa, nếu để ý tìm kiếm thì vật dụng mang theo từ bản quốc của ông nhất định nhiều, mà kinh điển do ông dịch chắc chắn có quan hệ rất nhiều với nước Nguyệt Thị, điều
đó không sai lầm. Theo ngài Trí Thăng ghi số bộ kinh ông dịch:
“Kinh do Khiêm dịch ra, số bộ, quyển nhiều ít nói chẳng nhất định. Số kinh ấy, Tam tạng ký tập75 của Tăng Hựu chỉ chép có 36 bộ. Hựu sao chép truyện Khiêm, nói rằng: dịch ra 37 kinh, Cao tăng truyện của Tuệ Kiểu thì nói 49 kinh, trong Sao lục của Trường Phòng là 129 bộ. Nay do việc chép của Phòng lục phần nhiều là biệt sinh (phát sinh thêm), hoặc chép lặp lại những tên khác của một kinh, nay theo thứ tự san định lại.”
Ngoài ra, trong Khai Nguyên thích giáo lục, Lịch đại tam bảo kỷ còn ghi Chi Khiêm dịch 38 bộ, ngoài ra 36 quyển, lại chép 88 bộ, 118 quyển. Trước tiên nêu lên những kinh thuộc bộ Đại thừa:
Đại minh độ vô cực (tức là kinh Đại minh độ đồng bản với Bát-nhã đạo hành tiểu phẩm) 4 quyển (6 quyển).
Kinh A-di-đà (kinh Phật thuyết chư Phật A-di-đà Tam-da-tam-tát-đà-lâu-Phật-đàn quá độ nhân đạo, kinh Vô Lượng Thọ) 2 quyển.
Kinh Bồ-tát bản nghiệp (kinh Bản nghiệp, kinh Tịnh hạnh phẩm, dịch khác của Hoa nghiêm tịnh hạnh phẩm) 1 quyển.
Kinh Duy-ma-cật (kinh Phật pháp phổ nhập đạo môn tam-muội) 2 quyển (3 quyển).
Kinh Tuệ ấn tam-muội (kinh Tuệ ấn, kinh Bảo điền tuệ ấn tam-muội) 1 quyển.
Kinh Bát cát tường thần chú (kinh Bát cát tường) 1 quyển.
 

75 Khai Nguyên thích giáo lục 2, p489c7, và Trinh nguyên tân định thích giáo mục lục 3, p787a06, không có chữ “tập”: “… Tăng Hựu Tam tạng ký duy tải tam thập lục bộ 僧祐三藏記唯載三十六部…”.
 
Kinh Hoa tích đà-la-ni thần chú, 1 quyển.
Kinh Trì cú thần chú, 1 quyển.
Kinh Bồ-tát sinh địa (kinh Sai-ma-kiệt) 1 quyển.
Kinh Nguyệt minh bồ-tát (kinh Nguyệt minh đồng tử, kinh Nguyệt minh đồng nam) 1 quyển.
Kinh Ma-ha bát-nhã ba-la-mật chú, 1 quyển.
Kinh Tu-lại (kinh Tu-lại bồ-tát) 1 quyển.
Kinh Bồ-tát tu hạnh, 1 quyển.
Kinh Phương đẳng thủ lăng-nghiêm, 2 quyển.
Kinh Thập nhị môn đại phương đẳng, 1 quyển v.v…
Những kinh điển Đại thừa này, đa số đều thuộc về bộ Phương đẳng. Số còn lại thuộc bộ Hoa nghiêm, Bát-nhã, Bí mật. Thứ đến là những kinh thuộc bộ Tiểu thừa, như kinh:
Phạm Chí A-bạt (tên khác, kinh A-bạt-ma-nạp, A-bạt, Phật khai giải Phạm Chí A-bạt) 1 quyển, là bản dịch khác của Trường A-hàm quyển 13.
Kinh Phạm võng lục thập nhị kiến 1 quyển, dịch khác của Trường A-hàm quyển 14.
Kinh Thất tri 1 quyển, dịch khác của kinh Trung A-hàm quyển 1.
Kinh Thích Ma-nam (kinh Ngũ ấm nhân sự) 1 quyển, dịch khác của kinh Trung A-hàm quyển 25.
Kinh Chư pháp bản 1 quyển, dịch khác của kinh Trung A-hàm quyển 28.
Kinh Phạm-ma dụ 1 quyển, dịch khác của kinh Trung A-hàm quyển 41.
Kinh Trai 1 quyển, dịch khác của kinh Trung A-hàm quyển 55.
Kinh Tu-ma-đề nữ tính 1 quyển, dịch khác của kinh Tăng nhất A-hàm quyển 22.
Kinh Bất tự thủ ý 1 quyển, dịch khác của kinh Tạp A-hàm quyển 11.
Kinh Đại Bát-nê-hoàn  2 quyển.
Có người cho rằng, kinh Trường A-hàm là do ngài Đạo An dịch, người thì nói do ngài Tăng Hựu dịch. Nhưng các bản đó đều khuyết mất, cuối cùng không thể phán đoán rõ được là người nào dịch.
Ngoài số kinh nêu trên, Chi Khiêm còn dịch: Kinh Thái tử thụy ứng bản khởi 1 quyển; kinh Thiền bí yếu 4 quyển; kinh Pháp cú 2 quyển v.v… được vài mươi bộ.
Vào năm Ngũ Phụng thứ hai, đời (Ngô) Tôn Lượng (năm 255 Tl.), hoặc năm đầu niên hiệu Cam Lộ đời (Ngụy) Cao Quý Hương Công (năm 256 Tl.), ở Giao Châu, ngài Chi-cương-lương-tiếp (Kālasivi ?- Chánh Vô Úy) dịch kinh Pháp hoa tam-muội (tức kinh Chánh pháp hoa) 6 quyển. Kinh lục và Tăng truyện đều ghi ngài là người Tây Vực. Vả lại, dùng chữ “Chi” đứng đầu làm họ thì có lẽ ngài là người từ nước Nguyệt Thị đến.
Tác giả Cao tăng truyện76 là ngài Tuệ Kiểu, viết về truyện ngài Pháp Hộ: “Kinh pháp sở dĩ được lưu truyền rộng rãi ở Trung Hoa là nhờ công sức của ngài Pháp Hộ vậy”. Ngài Pháp Hộ (Đàm-ma-la-ma - Dharmarakṣa) sinh ở Đôn Hoàng, thờ thầy nước ngoài là Sa-môn Trúc Cao Tòa. Tuy xưng họ là Trúc, mà kỳ thật tổ tiên vốn là người nước Nguyệt Thị, nên họ cũ của ngài là Chi. Người đương thời gọi ngài là Bồ-tát Đôn Hoàng, hay gọi là Bồ-tát Nguyệt Thị (Xem Lịch đại tam bảo kỷ quyển 6 và Khai Nguyên lục quyển 2). Nhưng nếu căn cứ tổ tiên ngài là người nước Nguyệt Thị rồi cho là
 

76 Cao tăng truyện 1, T50n2059_p326c15.
 
những kinh điển ngài dịch đều từ nước Nguyệt Thị đem đến thì chắc chắn không phải lý. Song, căn cứ truyện của ngài cho rằng số kinh điển ngài dịch từ Tây Vực mang đến, hình như phần nhiều đều ở nước Nguyệt Thị. Ngài Tuệ Kiểu ghi trong truyện của ngài:77
“Lúc đó là đời Tấn Võ, chùa miếu đồ tượng tuy được tôn sùng trong kinh, ngoài nội, nhưng mà kinh thâm diệu Phương đẳng còn cất giữ ở ngoài Thông Lĩnh, ngài Pháp Hộ mới bùi ngùi phát nguyện: ‘Quyết chí hoằng dương đại đạo’, liền theo thầy (Sa-môn ngoại quốc Trúc Cao Tòa) đến Tây Vực, du hành trải qua các nước. Tiếng nước ngoài có đến 36 thứ, sách cũng như thế, ngài Pháp Hộ đều học khắp, quán triệt mọi rắc rối, giải thích văn nghĩa. Âm nghĩa, thể chữ, không gì chẳng hiểu biết đầy đủ. Ngài mang theo rất nhiều kinh điển chữ Phạn trở về Hoa Hạ. Suốt dọc theo đường, từ Đôn Hoàng đến Trường An, ngài phiên dịch truyền bá, viết bằng Tấn văn.”
Căn cứ đoạn văn trên, hình như ngài Pháp Hộ từng vượt Thông Lĩnh đến phía Tây tìm cầu kinh điển Đại thừa. Nhưng đời Tấn Võ đế, tức vào giữa thế kỷ thứ III Tây lịch, là lúc thế lực của Đại Nguyệt Thị chưa suy bại hoàn toàn. Như tiết trước đã dẫn trong truyện Tây Nhung sách Ngụy lược đang lưu hành của Ngư Hoạn, khoảng niên hiệu Chánh Thỉ - Gia Bình nhà Ngụy (năm 240-253 Tl.), cho rằng: Thời bấy giờ Kế Tân, Đại Hạ, Cao-phụ, Thiên Trúc đều thuộc về nước Đại Nguyệt Thị. Vậy kinh điển mà ngài Pháp Hộ từ Thông Lĩnh đến Tây Vực tìm được, hầu như ở bên trong lãnh thổ nước Đại Nguyệt Thị.
 

77 Cao tăng truyện 1, p326c7.
 
Tóm lại, những kinh điển do ngài Pháp Hộ mang đến, đa phần là đang lưu hành ở nước Đại Nguyệt Thị lúc bấy giờ, chắc chắn không sai lầm. Nếu như vậy, thì những kinh điển ngài Pháp Hộ có được ở Tây Vực là từ năm Thái Thỉ thứ 2, đời Tấn Võ đế (năm 266 Tl.), đến năm đầu niên hiệu Kiến Hưng đời Mẫn đế (năm 313 Tl., nếu căn cứ Xuất tam tạng ký tập và Lịch đại tam bảo kỷ thì đến năm Vĩnh Gia thứ 2, đời Hoài đế. Nhưng trong số kinh ngài dịch cũng có những bản được dịch vào năm đầu niên hiệu Kiến Hưng, hợp với thuyết trong Khai Nguyên lục, nay theo thuyết đó).
Sự nghiệp phiên dịch của ngài Pháp Hộ tổng cộng 175 bộ, 354 quyển, nhưng số kinh điển do ngài dịch có nhiều thuyết khác nhau. Theo Xuất tam tạng ký tập ghi là 154 bộ, gồm 309 quyển; Lịch đại tam bảo kỷ ghi 210 bộ, gồm 394 quyển. Ngài Trí Thăng cho rằng:
“Trong ghi chép của Phí Trường Phòng, số kinh ấy tăng thêm nhiều. Nay tìm bao quát kỹ càng thì số đó là do các dị bản phát sinh. Có những kinh không phải do ngài Pháp Hộ dịch, không đủ số chánh dịch (của ngài dịch), nay muốn chép đúng nên tổng san định lại chúng.”78
Ý ấy là trừ sự ghi chép trong Lịch đại tam bảo kỷ, nên  chỉ nói có 29 bộ.
Trước tiên nêu những bản dịch thuộc bộ Bát-nhã trong Đại thừa bộ do ngài dịch:
Kinh Nhân vương bát-nhã, 1 quyển (hoặc là 2 quyển).
Kinh Quang tán bát-nhã ba-la-mật (tức kinh Quang tán ma-ha bát-nhã — hội thứ hai Đại bát-nhã), 10 quyển.
 

78 Khai nguyên thích giáo lục 2, p497a10.
 
Những kinh thuộc bộ Bảo tích:
Kinh Mật tích kim cương lực sĩ (hội thứ ba Bảo tích), 7 quyển (hoặc là 5 quyển, 4 quyển, 8 quyển).
Kinh Bồ-tát thuyết mộng (hội thứ tư Bảo tích), 2 quyển.
Kinh Phổ môn phẩm (đồng bản với kinh Phổ môn, Bảo tích Văn-thù phổ môn hội), 1 quyển.
Kinh Bào thai (đồng bản với kinh Bào thai thọ thân, Bảo tích xử thai hội), 1 quyển.
Kinh Văn-thù Sư-lợi Phật thổ nghiêm tịnh (đồng bản với kinh Nghiêm tịnh Phật thổ, Bảo tích - Úc-già trưởng giả hội), 2 quyển.
Kinh Huyễn sĩ nhân hiền (đồng bản với kinh Nhân hiền huyễn sĩ, Bảo tích - thọ huyễn sư hội), 1 quyển.
Kinh Tu-ma-đề (đồng bản với kinh Tu-ma-đề bồ-tát, Bảo tích - Diệu tuệ hội), 1 quyển.
Kinh Ly cấu thí nữ (đồng bản với Bảo tích - Vô cấu thí hội), 1 quyển.
Kinh Như huyễn tam-muội (đồng bản với Bảo tích - Thiện trụ ý hội), 2 quyển.
Kinh Thái tử Loát Hộ (đồng bản với Bảo tích A-xà-thế vương tử hội), 1 quyển.
Kinh Bảo Kế bồ-tát sở vấn (kinh Bồ-tát Tịnh Hạnh, kinh Bảo Kế, Bảo tích hội thứ 47), 2 quyển.
Kinh Di-lặc bồ-tát sở vấn bản nguyện (đồng bản với kinh Di-lặc bản nguyện, kinh Di-lặc nan, Bảo tích - Di-lặc sở vấn hội), 1 quyển.
Những kinh thuộc về bộ Đại tập:
Kinh A-sai-mạt (tức kinh Vô tận ý), 7 quyển (hoặc 4 quyển, 5 quyển).
Kinh Đại ai (kinh Như Lai đại ai, biệt dịch của phẩm đầu Đại tập), 8 quyển.
Kinh Bảo nữ sở vấn (kinh Bảo nữ vấn tuệ, kinh Bảo nữ tam-muội, phẩm Bảo nữ của Đại tập), 3 quyển (hoặc 4 quyển).
Kinh Vô Ngôn đồng tử (kinh Vô Ngôn bồ-tát, dịch khác của phẩm Vô Ngôn bộ Đại tập), 2 quyển (hoặc 1 quyển). 
Những kinh thuộc về bộ Hoa nghiêm:
Kinh Bồ-tát thập trụ hành đạo (kinh Bồ-tát thập trụ, dịch khác của phẩm Thập trụ bộ Hoa nghiêm) 1 quyển.
Kinh Tiệm bị nhất thiết trí đức (kinh Thập trụ, kinh Đại tuệ quang tam-muội, dịch khác của phẩm Thập trụ bộ Hoa nghiêm), 5 quyển (hoặc 10 quyển).
Kinh Đẳng Mục bồ-tát sở vấn tam-muội (kinh Phổ Hiền bồ-tát định ý, kinh Đẳng Mục bồ-tát, dịch khác của phẩm Thập địa bộ Tân Hoa nghiêm) 2 quyển (hoặc 3 quyển).
Kinh Như Lai hưng hiển (kinh Hưng hiển như huyễn, dịch khác của phẩm Như Lai tính khởi và phẩm Thập nhẫn bộ Hoa nghiêm) 4 quyển.
Kinh Độ thế phẩm (kinh Độ thế, dịch khác của phẩm Ly thế gian bộ Hoa nghiêm), 6 quyển (hoặc 5 quyển).
Những kinh thuộc bộ Niết-bàn:
Kinh Bát-nê-hoàn hậu quán lạp (kinh Bát-nê-hoàn hậu tứ bối quán lạp, kinh Quán tượng), 1 quyển.
Kinh Phương đẳng bát-nê-hoàn (kinh Đại bát-nê-hoàn), 2 quyển hoặc 3 quyển.
Nhưng bản Phạn kinh Quang tán bát-nhã ba-la-mật có sớm nhất thuộc về bộ Bát-nhã, căn cứ bài tựa lược giải Hợp
phóng quang quang tán của ngài Đạo An viết trong Xuất tam tạng ký tập quyển 7, cho là kinh do vị Sa-môn nước Vu-điền là Kỳ-đa-la79 (Gītamitra)80 mang lại, rõ ràng kinh này không có quan hệ với nước Nguyệt Thị.
Ngoài 5 bộ trên, lại nêu những kinh Đại thừa sau đây:
Kinh Chánh pháp hoa (kinh Phương đẳng chánh pháp hoa), 10 quyển (hoặc 7 quyển).
Kinh Phổ diệu (kinh Phương đẳng bản khởi), 8 quyển.
Kinh Đại phương đẳng đỉnh vương (kinh Duy-ma-cật tử vấn, kinh Thiện tư đồng tử), 1 quyển.
Kinh Vu-lan-bồn, 1 quyển.
Kinh Trì tâm Phạm Thiên (kinh Trang nghiêm Phật pháp, kinh Đẳng ngự chư pháp, kinh Trì tâm), 4 quyển (hoặc 6 quyển).
Kinh Phạm nữ thủ ý (kinh Thủ ý nữ), 1 quyển.
Kinh Đại tịnh pháp môn, 1 quyển.
Kinh Vô cực bảo tam-muội (kinh Vô cực bảo), 1 quyển.
Kinh Văn-thù Sư-lợi hiện bảo tạng (kinh Bảo tạng), 3 quyển.
Kinh A-xà-thế vương nữ A-thuật-đạt bồ-tát (kinh A-xà-thế vương nữ, kinh A-thuật-đạt nữ), 1 quyển.
Kinh Tuệ Thượng bồ-tát vấn đại thiện quyền (kinh Đại thiện quyền, kinh Tuệ Thượng bồ-tát, kinh Thiện quyền phương tiện, kinh Thiện quyền phương tiện sở độ vô cực), 2 quyển.
 

79 Kỳ-đa-la 祇多羅 (Xuất tam tạng ký tập 7, T55n2145_p48a02).
80 Có thể Tác giả viết nhầm tên Phạn. “Gītamitra”, dịch âm Kỳ-đa-mật 祇多蜜, dịch nghĩa Ca Hữu, Ca Chi... Ngài là người Tây Vực, dịch kinh thời Đông Tấn (Trinh nguyên tân định thích giáo mục lục 5, p805c12).
 
Kinh Hiền kiếp (kinh Bạt-đà kiếp tam-muội, kinh Hiền kiếp định ý) 13 quyển (hoặc 2 quyển).
Kinh Duy-ma-cật sở thuyết pháp môn, 1 quyển.
Kinh Vô lượng thanh tịnh bình đẳng giác, 2 quyển.
Kinh Siêu nhật minh tam-muội, 2 quyển.
Kinh Di-lặc thành Phật, 1 quyển.
Kinh Bồ-tát thập địa, 1 quyển.
Kinh Bát-chu tam-muội, 2 quyển.
Kinh Bồ-tát tạng, 3 quyển.
Ngài Pháp Hộ còn dịch hơn 30 bộ kinh khác, thuộc bộ Phương đẳng đều thất lạc.
Những kinh do ngài dịch, thuộc về luật Đại thừa: kinh Văn-thù Sư-lợi tịnh luật (đồng bản với kinh Tịnh luật, kinh Tịch điều âm và kinh Tỳ-ni phương quảng) 1 quyển, mà Xuất tam tạng ký tập quyển 781 đã ghi ở sau kinh này rằng:
“Sa-môn Trúc Pháp Hộ ở kinh sư gặp Tây Quốc Tịch Chí tụng ra kinh này, sau kinh còn một số phẩm mà người ấy quên mất, ngài liền đọc kinh hiện có mà chuyển thành văn Tấn (Hán dịch), được thêm bản ấy rồi bổ sung cho đầy đủ. Ngày mồng 8 tháng 4 năm Thái Khang thứ 10, Nhiếp Đạo Chân trách nhiệm cầm bút viết tại chùa Bạch Mã .”
Lời chép này tuy chưa nói là kinh ấy từ nước Đại Nguyệt Thị truyền đến, nhưng ngài Pháp Hộ từng dịch kinh Văn-thù hối quá 1 quyển, cũng thuộc luật Đại thừa.
Thứ đến, nêu các kinh điển thuộc về Tiểu thừa bộ:
Kinh Thọ tuế 1 quyển, dịch khác của kinh Trung A-hàm thứ 23.
 

81 Xuất tam tạng ký tập 7, T55n2145_p51b9.
 
Kinh Lạc tưởng 1 quyển, dịch khác của kinh Trung A-hàm thứ 26.
Kinh Ly thụy, kinh Tôn thượng đều 1 quyển, dịch khác của kinh Trung A-hàm thứ 43.
Kinh Ý, kinh Ứng pháp đều 1 quyển, dịch khác của kinh Trung A-hàm thứ 45.
Kinh Ương-quật-ma (kinh Chỉ kế, kinh Chỉ Man) 1 quyển, dịch khác của kinh Tăng nhất A-hàm thứ 31.
Kinh Lực sĩ di sơn (kinh Di sơn), kinh Tứ vị tằng hữu pháp đều 1 quyển, dịch khác của kinh Tăng Nhất A-hàm thứ 36.
Kinh Xá-lợi-phất Mục-liên du chư quốc (kinh Xá-lợi-phất Ma-ha Mục-kiền-liên du chư tứ cù) 1 quyển, dịch khác của kinh Tăng nhất A-hàm thứ 41.
Kinh Lâu khôi 6 quyển (hoặc 5 quyển, hoặc 8 quyển), dịch khác của kinh Thế ký phần thứ tư trong Trường A-hàm.
Kinh Đại lục hướng bái (kinh Thi-ca-la-việt lục hướng bái) 1 quyển, dịch khác của kinh Trường A-hàm thứ 11.
Kinh Lục thập nhị kiến (kinh Phạm võng lục thập nhị kiến) 1 quyển, dịch khác của kinh Trường A-hàm thứ 14.
Thuộc về kinh Tạp A-hàm có:
Kinh Thánh pháp ấn (kinh Tuệ ấn), kinh Thân quán đều 1 quyển.
Những kinh điển ngài dịch đơn lẻ khác rất nhiều, không thể nêu lên hết được. Kết lại, tất cả bộ loại thuộc kinh bộ trong kinh tạng mà ngài Pháp Hộ dịch đều còn, nay có thể khảo tra thấy được.
Sự nghiệp phiên dịch của ngài Pháp Hộ nhờ sự trợ lực của cha con tín sĩ Nhiếp Thừa Viễn, Nhiếp Đạo Chân đã đạt được thành công lớn. Ngoài trách nhiệm chấp bút, hiệu chính, sửa các bản dịch của ngài Pháp Hộ, họ còn tự dịch mới lại nữa. Đầu tiên Nhiếp Thừa Viễn dịch kinh Việt nạn 1 quyển, Nhiếp Đạo Chân dịch kinh Chư bồ-tát cầu Phật bản nghiệp 1 quyển, kinh Văn-thù Sư-lợi Bát-niết-bàn 1 quyển, kinh Dị xuất bồ-tát bản khởi 1 quyển, kinh Tam-mạn-đà-bạt-đà-la bồ-tát 1 quyển… đều thuộc bộ Hoa nghiêm, Phương đẳng và luật Phật điển Đại thừa, cộng chung 24 bộ, 36 quyển. Những kinh điển này, họ nghĩ là ngài Pháp Hộ mang từ Tây Vực đến cho và để lại dịch, nên kế tục sự nghiệp của ngài mà dịch tiếp. Nhưng trong số kinh điển ấy so với cách dịch của ngài Pháp Hộ có chỗ giống nhau rất nhiều và khác nhau cũng chẳng ít, nên phải đối chiếu tu sửa, đính chính từ ngữ câu văn còn lại trong những bản dịch của ngài Pháp Hộ.
Năm đầu niên hiệu Vĩnh Ninh, đời Tấn Huệ đế (năm 301 Tl.), Sa-môn Chi Pháp Độ dịch kinh Thệ đồng tử 1 quyển, kinh Văn-thù Sư-lợi hiện bảo tạng 2 quyển, kinh Thập thiện thập ác 1 quyển, kinh Thiện sinh tử 1 quyển (dịch khác của kinh Trung A-hàm thứ 33). Căn cứ sự ghi chép của Kinh lục tuy không rõ người dịch là người nước nào, nhưng có thể cũng là người Nguyệt Thị.
Lại có Sa-môn Chi Đạo Căn mà Kinh lục cũng không ghi người ấy là người nước nào. Vào năm đầu niên hiệu Hàm Khang, đời Thành Đế nhà Đông Tấn (năm 335 Tl.), Chi Đạo Căn dịch kinh Phương đẳng pháp hoa 5 quyển, niên hiệu Hàm Khang (năm 335 Tl.) dịch kinh A-súc Phật sát bồ-tát học thành phẩm 2 quyển (theo ghi chép của Phí Trường Phòng thì kinh này được dịch năm Thái Khang, nhưng Thái
Khang là niên hiệu của Võ đế nhà Tây Tấn, cách niên hiệu Hàm Khang 60 năm, nên sự lầm lẫn phải thuộc về Hàm Khang).
Lại trong sách Nam điều mục lục (trang 398) cho rằng: ngài Chi Đạo Căn là người Trung Quốc, song theo tôi, họ Chi đứng đầu tên ngài, chắc ngài có quan hệ trực tiếp hoặc gián tiếp gì đó với người nước Nguyệt Thị. Nhưng kinh điển do hai người này dịch, và kinh điển nước Nguyệt Thị có quan hệ hay không, thì chưa thể quyết đoán nói được.
Theo sự ghi chép trong Tỳ-kheo-ni truyện quyển 1,82 thì trong năm Hàm Khang nhà Đông Tấn, vị Tăng người Tấn là Tăng Kiến đã được Tăng-kỳ ni yết-ma và Giới bổn ở nước Nguyệt Thị, rồi đem dịch ra vào năm đầu niên hiệu Thăng Bình (năm 357 Tl.) tại Lạc Dương. Theo đây có thể biết Tỳ-kheo-ni giới bổn quả thật từng lưu hành ở nước Nguyệt Thị.
Ưu-bà-tắc Chi Thí Luân, tương truyền thông kinh điển bộ Phương đẳng, cũng là người nước Nguyệt Chi. Năm Hàm An thứ ba, thời Đông Tấn (năm 373 Tl., căn cứ trong Thủ lăng-nghiêm hậu ký sách Xuất tam tạng ký tập quyển 7, cho là kinh này được dịch vào năm Quý Dậu, nhằm năm Hàm Hòa thứ 3, nhưng sách Khai Nguyên thích giáo lục ghi là năm Hàm An, có vẻ đáng tin cậy), ở Lương Châu, ông truyền bá phiên dịch kinh Như huyễn tam-muội (đồng bản với Bảo tích - Thiện trụ ý hội83 [Thiện trụ ý thiên tử hội])2 quyển, kinh Thượng kim quang thủ 1 quyển, và kinh Thủ lăng-nghiêm 2 quyển. Những kinh này đều thuộc bộ Phương đẳng.
 

82 Tỳ-kheo-ni truyện 1, (ngài Bảo Xướng soạn thời Lương, 4 quyển) T50n2063_p934c22.
83 Bản nguyên tác in sai: Bảo tích - Trụ hội ý (Khai Nguyên thích giáo lục 4, T55n2154_p519a17 v.v…)
 
Năm Kiến Nguyên thứ 20 (năm 384 Tl.) thời Phù Tần, ngài Đàm-ma-nan-đề (Dharmānandī - Pháp Hỷ) dịch 59 quyển Trung A-hàm, năm sau dịch 50 quyển kinh Tăng nhất A-hàm. Năm Kiến Sơ thứ 6 (năm 391 Tl.), ngài dịch kinh A-dục vương tức hoại mục nhân duyên 1 quyển; lại dịch Tam pháp độ luận 2 quyển, Tăng-già-la-sát tập 2 quyển. Ngài Đàm-ma-nan-đề là người Đâu-khư-lặc (Tukhāra), tức là người nước Nguyệt Thị. Người ta nói rằng, ngài có thể tụng thuộc lòng Trung A-hàm và Tăng nhất A-hàm, thì chắc chắc những kinh luận này đều do ngài Đàm-ma-nan-đề và ngài Trúc Phật Niệm truyền dịch.
Ngài Tuệ Kiểu đã ngợi khen công lao ngài Trúc Phật Niệm rằng:
“Hiển bày hai kinh A-hàm (Trung và Tăng nhất A-hàm), là công lao của ngài Trúc Phật Niệm tuyên dịch vậy. Từ An Thế Cao, Chi Khiêm trở về sau, không ai vượt qua được ngài Trúc Phật Niệm. Ngài là người kinh đầu tiên vào hai đời Phù Tần và Diêu Tần, nên Tăng chúng ở Quan Trung (tỉnh Thiểm Tây ngày nay) đều khen ngợi ngài.”84
Năm Nguyên Gia thứ 10, đời Tống Văn đế (năm 433 Tl.), ở phía tây Thông Lĩnh, Sa-môn Đạo Thái được bản Phạn luận Tỳ-bà-sa hơn mười vạn câu kệ. Năm Vĩnh Hòa thứ 5, tức năm Nguyên Gia thứ 14 nhà Tống (năm 437 Tl.), ngài Phù-đà-bạt-ma (Buddhavarman - Giác Khải) dịch bản luận ấy tại cung Nhàn Dự, trong thành Lương Châu. Lương cao tăng truyện, Xuất tam tạng ký tập đều ghi ngài Phù-đà-bạt-ma là
 

84 Cao tăng truyện 1, T50n2059_p329b9.
 
người Tây Vực, mà Đại Đường Tây Vực cầu pháp cao tăng truyện quyển thượng, lại cho ngài là người nước Đổ-hóa-la, vậy rõ ràng ngài thuộc người nước Nguyệt Thị.
Ngài Phù-đà-bạt-ma hiểu được Tỳ-bà-sa luận đạt đến chỗ thậm thâm, nên ngài Đạo Thái mời ngài dịch bộ luận đó, đến năm Vĩnh Hòa thứ 7 (năm 429 Tl.) mới dịch xong. Đầu tiên, bộ luận gồm 100 quyển, đời Thái Võ đế nhà Ngụy chinh phạt Tây Cô Tạng, lúc phá Lương Châu bị mất đi 40 quyển, còn lại 60 quyển. Nhưng căn cứ trong Khai Nguyên thích giáo lục quyển 4, ở bài tựa của bộ luận này nói rằng: “Dịch năm Ất Sửu, tức là năm Huyền Thỉ thứ 14, đời Mông-tốn (năm 425 Tl.). Dịch xong năm Đinh Mão, tức năm Huyền Thỉ thứ 16 (năm 427 Tl.)”, vậy đâu là chính xác? Rất khó biện giải. Thuyết ấy bắt đầu ở Xuất tam tạng ký tập, rồi sau đó Lương cao tăng truyện, Lịch đại tam bảo kỷ v.v… đều noi theo mà ghi chép lại. Nay bắt đầu từ thuyết này thì Phù-đà-bạt-ma phải thuộc người nước Đổ-hóa-la, mà Tỳ-bà-sa luận nhất định từng lưu hành ở nước Nguyệt Thị là không sai.
Như trước đã thuật, lúc bấy giờ vua Đại Nguyệt Thị là Tông-đa-la vũ dũng, từng vượt núi Khố-thập (Hindu Kush), dựng kinh đô, chinh phạt bắc Ấn Độ. Năm nước Thiên Trúc85 của vùng Càn-đà-la trở về Bắc đều thuần phục nước ấy. Lúc đó cũng là thời gian ngài Đạo Thái đến vùng phía Tây Thông Lĩnh cầu bản Phạn văn bộ luận này, nhất định ngài được nó ở lãnh thổ nước Đại Nguyệt Thị là không nghi ngờ gì.
Từ đây mà suy luận thì Tỳ-bà-sa luận và các kinh luận mà ngài Đạo Thái mang từ phía Tây Thông Lĩnh về đều có quan hệ với địa phương này. Vậy Đại trượng phu luận (Bồ-
 

85 Năm nước Thiên Trúc: Xem cht. 96, tr. 81.
 
tát Đề-bà-la tạo) 2 quyển và Nhập đại thừa luận (Bồ-tát Kiên Ý tạo) 2 quyển, do ngài Đạo Thái dịch, đương nhiên cũng từng lưu hành ở nước Đại Nguyệt Thị, chắc chắn không đợi phải bàn.
Lại một lần nữa, nếu dựa vào Kinh lục mà xét một cách công bằng thì sau khi Đại Nguyệt Thị diệt vong, kinh điển phiên dịch do nước Đổ-hóa-la truyền vào Trung Quốc là rất nhiều. Những kinh điển này tuy không có quan hệ trực tiếp với tộc Đại Nguyệt Thị, nhưng chúng đã lưu hành từ lãnh thổ Đại Nguyệt Thị, bởi có nhiều điều đủ nghiên cứu để chứng minh.
Ngài Nguyệt-bà-thủ-na (Upaśūnya - Cao Không) du hóa ở Trung Quốc vào thời Đông Ngụy, căn cứ Tục cao tăng truyện quyển 1, Lịch đại tam bảo kỷ quyển 9, Đại Đường nội điển lục quyển 4, và những ghi chép trong các Kinh lục đều cho ngài là vương tử nước Ưu-thiền-ni (Udyāna) ở Trung Thiên Trúc. Nhưng Chúng kinh mục lục quyển 1,86 Sa-môn Tịnh Thái soạn đời Đường, cho Bà-thủ-na là vương tử nước Nguyệt Thị, hoặc gọi là Nguyệt Thị Bà-thủ-na. Nhưng bản Kinh lục của Tịnh Thái soạn và Chúng kinh mục lục do Pháp Kinh soạn năm Khai Hoàng thứ 14 đời Tùy (năm 594 Tl.) chẳng qua chỉ thêm phần phiên dịch của ngài Huyền Trang mà thôi. Sách Mục lục của Pháp Kinh ghi là Nguyệt Thị Bà-thủ-na, không ghi ngài là người nước nào; còn ngài Tịnh Thái chỉ đặt chữ “Nguyệt” ở trước tên của ngài. Nếu vội vàng dựa vào đó mà suy xét, liên kết cho là “Nguyệt Thị” thì không khỏi bị chê trách là độc đoán. Vả lại, Nguyệt-bà-thủ-na, tên dịch này đã có từ khoảng giữa thế kỷ thứ VI Tây lịch, mà thời ấy không còn danh xưng người nước Nguyệt Thị, nên việc
 

86 Chúng kinh mục lục 1, T55n2148_p182b3.
 
ghi chép của ngài Tịnh Thái hầu như không đủ tin hoàn toàn. Thời Đường Thiên Hậu (năm 685-704 Tl.), ngài Di-đà-sơn (Mitrasanta - Tịch Hữu) cùng ngài Thật-xoa-nan-đà (Śikṣānanda - Học Hỉ) dịch kinh Đại thừa nhập Lăng-già 7 quyển, cùng Sa-môn Pháp Tạng dịch kinh Vô cấu tịnh quang đại đà-la. Ngài Di-đà-sơn là Sa-môn nước Đổ-hóa-la, kinh điển ngài dịch chưa biết là có hay không?! Còn đất Đổ-hóa-la, ngài Huyền Trang nói: “Đất ấy Nam, Bắc hơn 1.000 dặm, Đông Tây hơn 3.000 dặm, phía Đông tận Thông Lĩnh hiểm trở, phía Tây tiếp giáp Ba-lạt-tư,87 phía Nam liền với núi Đại Tuyết, phía Bắc chiếm cứ Thiết Môn, dòng sông lớn Phược-sô chảy qua giữa nước hướng về phía Tây” (Tây Vực ký, quyển 1).88 Nếu đúng như thế thì đất này chính là đất cũ của Đại Nguyệt Thị.
Tổng hợp những luận bàn ở trên, trong số kinh điển Phật giáo truyền vào Trung Quốc, chúng ta sẽ thống kê rõ số kinh điển có quan hệ với nước Đại Nguyệt Thị, đồng thời phân loại, liệt kê ra. Sau đây là biểu đồ phân loại kinh điển Phật giáo Đại Nguyệt Thị:
 

(1) Đại thừa Hoa nghiêm bộ
Tên kinh
Số quyển
Đời
Người dịch
Đâu-sa
1
Hậu Hán
Chi-lâu-ca-sấm
Bồ-tát bản nghiệp
1
Ngô
Chi Khiêm
Như Lai hưng hiển
4
Tây Tấn
Pháp Hộ
Độ thế phẩm
6
Tây Tấn
Pháp Hộ
Bồ-tát thập trụ hạnh đạo phẩm
1
Tây Tấn
Pháp Hộ
Tiệm bị nhất thiết trí đức
5
Tây Tấn
Pháp Hộ
Đẳng Mục bồ-tát sở vấn tam-muội
3
Tây Tấn
Pháp Hộ
 

87 Ba-lạt-tư 波剌斯: Skt. Pārasva, còn gọi là nước Ba-tư, nay là Iran.
88 Tây Vực ký 1, T51n2087_872a6.
 
Chư Bồ-tát cầu Phật bản nghiệp (mất)
1
Tây Tấn
Nhiếp Đạo Chân
Thập trụ (mất)
12
Tây Tấn
Nhiếp Đạo Chân
Bồ-tát thập pháp trụ (mất)
1
Tây Tấn
Nhiếp Đạo Chân
 
 
(2) Đại thừa Phương đẳng bộ
Tên kinh
Số quyển
Đời
Người dịch
Thập địa đoạn kết (mất)
8
Hậu Hán
Trúc Pháp Lan
Vô lượng thanh tịnh bình đẳng giác
4
Hậu Hán
Chi-lâu-ca-sấm
A-súc Phật quốc
2
Hậu Hán
Chi-lâu-ca-sấm
Phật di nhật Ma-ni bảo
1
Hậu Hán
Chi-lâu-ca-sấm
Đại phương đẳng đại tập (mất)
27
Hậu Hán
Chi-lâu-ca-sấm
Bát-chu tam-muội89
3
Hậu Hán
Chi-lâu-ca-sấm
Nội tạng bách pháp
1
Hậu Hán
Chi-lâu-ca-sấm
Bát-chu tam-muội90
1
Hậu Hán
Chi-lâu-ca-sấm
Văn-thù Sư-lợi vấn bồ-tát thự
1
Hậu Hán
Chi-lâu-ca-sấm
Thuần-chân-đà-la sở vấn Như Lai tam-muội
3
Hậu Hán
Chi-lâu-ca-sấm
Thủ lăng-nghiêm (mất)
2
Hậu Hán
Chi-lâu-ca-sấm
Thành cụ quang minh định ý
1
Hậu hán
Chi Diệu
A-di-đà Tam-da-tam-phật-tát-lâu-phật-đàn quá độ nhân đạo
2
Ngô
Chi Khiêm
Duy-ma-cật
2
Ngô
Chi Khiêm
Tuệ ấn tam-muội
1
Ngô
Chi Khiêm
Bát cát tường thần chú
1
Ngô
Chi Khiêm
Bồ-tát sinh địa (mất)
1
Ngô
Chi Khiêm
Nguyệt Minh bồ-tát
1
Ngô
Chi Khiêm
Tu-lại (mất)
1
Ngô
Chi Khiêm
325
 

89 Bát-chu tam-muội: Tên khác “Thập phương hiện tại Phật tất tại tiền lập định kinh”, hoặc “Đại bát-chu tam-muội”, 3 quyển, hoặc 2 quyển (T13n418_p902).
90 Bát-chu tam-muội: Tên khác “Phật thuyết Bát-chu tam-muội kinh”, 1 quyển (T13n417, p897).
 
Bồ-tát tu hạnh (mất)
1
Ngô
Chi Khiêm
Phương đẳng thủ lăng-nghiêm (mất)
2
Ngô
Chi Khiêm
Thập nhị môn đại phương đẳng (mất)
1
Ngô
Chi Khiêm
Phổ môn phẩm
1
Tây Tấn
Pháp Hộ
Văn-thù Sư-lợi Phật thổ nghiêm tịnh
2
Tây Tấn
Pháp Hộ
Bào thai
1
Tây Tấn
Pháp Hộ
Úc-già La Việt vấn bồ-tát hạnh
1
Tây Tấn
Pháp Hộ
Huyễn sĩ nhân hiền
1
Tây Tấn
Pháp Hộ
Tu-ma-đề bồ-tát
1
Tây Tấn
Pháp Hộ
Ly cấu thí nữ
1
Tây Tấn
Pháp Hộ
A-xà-thế vương nữ a-thuật-đạt bồ-tát
1
Tây Tấn
Pháp Hộ
Như huyễn tam-muội
2
Tây Tấn
Pháp Hộ
Thái tử Loát Hộ
1
Tây Tấn
Pháp Hộ
Tuệ Thượng bồ-tát vấn đại thiện quyền
2
Tây Tấn
Pháp Hộ
Di-lặc bồ-tát sở vấn bản nguyện
1
Tây Tấn
Pháp Hộ
A-sai-mạt bồ-tát
7
Tây Tấn
Pháp Hộ
Đại ai
8
Tây Tấn
Pháp Hộ
Bảo nữ sở vấn
4
Tây Tấn
Pháp Hộ
Vô Ngôn đồng tử
2
Tây Tấn
Pháp Hộ
Mật tích kim cương lực sĩ (mất)
7
Tây Tấn
Pháp Hộ
Bồ-tát thuyết mộng (mất)
2
Tây Tấn
Pháp Hộ
Bảo Kế bồ-tát sở vấn (mất)
2
Tây Tấn
Pháp Hộ
Đẳng tập chúng đức tam-muội
3
Tây Tấn
Pháp Hộ
Đại phương đẳng đỉnh vương
1
Tây Tấn
Pháp Hộ
A-duy-việt-trí-già
3
Tây Tấn
Pháp Hộ
Phật thăng Đao-lợi vị mẫu thuyết pháp
3
Tây Tấn
Pháp Hộ
Phổ diệu
8
Tây Tấn
Pháp Hộ
Trì Nhân bồ-tát
4
Tây Tấn
Pháp Hộ
Văn-thù Sư-lợi hiện bảo tạng
2
Tây Tấn
Pháp Hộ
 
 
Văn-thù Sư-lợi phổ siêu tam-muội
3
Tây Tấn
Pháp Hộ
Đại tịnh pháp môn
1
Tây Tấn
Pháp Hộ
Vô hy vọng
1
Tây Tấn
Pháp Hộ
Trì Tâm Phạm Thiên sở vấn
4
Tây Tấn
Pháp Hộ
Di-lặc hạ sinh
1
Tây Tấn
Pháp Hộ
Thuận quyền phương tiện
2
Tây Tấn
Pháp Hộ
Thái tử mộ phách
1
Tây Tấn
Pháp Hộ
Nguyệt Quang đồng tử
1
Tây Tấn
Pháp Hộ
Phật thuyết thân nhật
1
Tây Tấn
Pháp Hộ
Nhũ Quang Phật
1
Tây Tấn
Pháp Hộ
Vô Cấu Hiền nữ
1
Tây Tấn
Pháp Hộ
Phật thuyết quyết định tổng trì
1
Tây Tấn
Pháp Hộ
Tế chư phương đẳng giác
1
Tây Tấn
Pháp Hộ
Vô cực bảo tam-muội
2
Tây Tấn
Pháp Hộ
Như Lai độc chứng tự thệ tam-muội
1
Tây Tấn
Pháp Hộ
Long Thí bồ-tát bản khởi
1
Tây Tấn
Pháp Hộ
Bát dương thần chú
1
Tây Tấn
Pháp Hộ
Vu-lan-bồn
1
Tây Tấn
Pháp Hộ
Phạm Chí nữ thủ ý
1
Tây Tấn
Pháp Hộ
Bảo võng
1
Tây Tấn
Pháp Hộ
Bồ-tát hạnh ngũ thập duyên thân
1
Tây Tấn
Pháp Hộ
Tứ bất khả đắc
1
Tây Tấn
Pháp Hộ
Tu Chân thiên tử
4
Tây Tấn
Pháp Hộ
Chư Phật yếu tập
2
Tây Tấn
Pháp Hộ
Hiền kiếp
8
Tây Tấn
Pháp Hộ
Hoằng đạo quảng hiển tam-muội
4
Tây Tấn
Pháp Hộ
Hải Long vương
4
Tây Tấn
Pháp Hộ
Tứ bối
1
Tây Tấn
Pháp Hộ
Đương lai biến
1
Tây Tấn
Pháp Hộ
Quá khứ Phật phân vệ
1
Tây Tấn
Pháp Hộ
Tâm minh
1
Tây Tấn
Pháp Hộ
Diệt thập phương minh
1
Tây Tấn
Pháp Hộ
Lộc Mẫu
1
Tây Tấn
Pháp Hộ
Ma nghịch
1
Tây Tấn
Pháp Hộ
Đức Quang thiên tử
1
Tây Tấn
Pháp Hộ
 
 
Vô Cấu Thí bồ-tát phân biệt ứng biện
1
Tây Tấn
Nhiếp Đạo Chân
 
Văn-thù Sư-lợi bát-niết-bàn
1
Tây Tấn
Nhiếp Đạo Chân
 
Đại phương quảng bồ-tát thập địa (mất)
1
Tây Tấn
Nhiếp Đạo Chân
 
Bồ-tát sở hạnh tứ pháp (mất)
 
1
Tây Tấn
Nhiếp Đạo Chân
 
Bồ-tát đạo hạnh lục pháp (mất)
1
Tây Tấn
Nhiếp Đạo Chân
 
Văn-thù Sư-lợi dữ Ly Ý nữ luận nghị cực tợ Duy-ma
(mất)
1
Tây Tấn
Nhiếp Đạo Chân
 
Quán Thế Âm thọ ký (mất)
1
Tây Tấn
Nhiếp Đạo Chân
 
Bồ-tát túc mạng (mất)
1
Tây Tấn
Nhiếp Đạo Chân
 
Bồ-tát cầu ngũ nhãn pháp (mất)
1
Tây Tấn
Nhiếp Đạo Chân
 
Tịch Âm Bồ-tát nguyện (mất)
1
Tây Tấn
Nhiếp Đạo Chân
 
Thệ đồng tử
1
Tây Tấn
Chi Pháp Độ
 
Văn-thù Sư-lợi hiện bảo tạng (mất)
2
Tây Tấn
Chi Pháp Độ
 
A-súc Phật quốc (mất)
2
Đông Tấn
Chi Đạo Căn
 
Như huyễn tam-muội (mất)
2
Đông Tấn
Chi Thí Luân
 
Thượng kim quang thủ (mất)
1
Đông Tấn
Chi Thí Luân
 
Thủ lăng-nghiêm (mất)
2
Đông Tấn
Chi Thí Luân
 
Tu-lại
1
Đông Tấn
Chi Thí Luân
 
Đại thừa nhập Lăng-già
1
Đường
Thật-xoa-nan-đà và Di-đà-sơn
 
(3) Đại thừa Bát-nhã bộ
Tên kinh
Số quyển
Đời
Người dịch
Đạo hạnh bát-nhã ba-la-mật
10
Hậu Hán
Chi-lâu-ca-sấm
Đại minh độ vô cực
6
Ngô
Chi Khiêm
Nhân vương bát-nhã (mất)
1
Tây Tấn
Pháp Hộ
 
 
(4) Đại thừa Pháp hoa bộ
 
Tên kinh
Số
quyển
Đời
Người dịch
 
Pháp hoa tam-muội
6
Ngô
Chi-cương-lương-tiếp
 
Chánh pháp hoa
10
Tây Tấn
Pháp Hộ
Phương đẳng pháp hoa (mất)
5
Tây Tấn
Pháp Hộ
(5) Đại thừa Niết-bàn bộ
Tên kinh
Số quyển
Đời
Người dịch
Phạm bát-nê-hoàn (mất)
2
Hậu Hán
Chi-lâu-ca-sấm
Phương đẳng bát-nê-hoàn
2
Tây Tấn
Pháp Hộ
Bát-nê-hoàn hậu quán lạp
1
Tây Tấn
Pháp Hộ
(6) Tiểu thừa Kinh bộ
Tên kinh
Số quyển
Đời
Người dịch
Pháp hải tạng (mất)
1
Hậu Hán
Trúc Pháp Lan
A-na-luật bát niệm
1
Hậu Hán
Chi Diệu
Lại-tra-hòa-la (mất)
1
Hậu Hán
Chi Diệu
Mã hữu tam tướng
1
Hậu Hán
Chi Diệu
Mã hữu bát thái thí nhân
1
Hậu Hán
Chi Diệu
Tiểu bản địa (mất)
1
Hậu Hán
Chi Diệu
Phạm Chí A-bạt
1
Ngô
Chi Khiêm
Phạm võng lục thập nhị kiến
1
Ngô
Chi Khiêm
Thất tri
1
Ngô
Chi Khiêm
Thích Ma-nam bản
1
Ngô
Chi Khiêm
Chư pháp bản
1
Ngô
Chi Khiêm
Phạm ma dụ
1
Ngô
Chi Khiêm
 Kinh Trai
1
Ngô
Chi Khiêm
Tu-ma-đề nữ
1
Ngô
Chi Khiêm
Bất tự thủ ý
1
Ngô
Chi Khiêm
Tệ-ma thí Mục-liên
1
Ngô
Chi Khiêm
Lại-tra-hòa-la
1
Ngô
Chi Khiêm
Ngũ mẫu tử
1
Ngô
Chi Khiêm
Thái tử Thụy Ứng bản khởi
2
Ngô
Chi Khiêm
Bình-sa vương ngũ nguyện
1
Ngô
Chi Khiêm
Phật thuyết nghi túc
2
Ngô
Chi Khiêm
Tứ nguyện
1
Ngô
Chi Khiêm
Chế cẩu
1
Ngô
Chi Khiêm
Lý thị Phạm Chí
1
Ngô
Chi Khiêm
Thất nữ
1
Ngô
Chi Khiêm
Bát sư
1
Ngô
Chi Khiêm
Long vương huynh đệ
1
Ngô
Chi Khiêm
 
 
Trưởng giả âm duyệt
1
Ngô
Chi Khiêm
Vị Sinh Oán
1
Ngô
Chi Khiêm
A-nan tứ sự
1
Ngô
Chi Khiêm
Tôn-đa-da-trí
1
Ngô
Chi Khiêm
Tu-ma-đề trưởng giả
1
Ngô
Chi Khiêm
Tu hành phương tiện (mất)
2
Ngô
Chi Khiêm
Nhân dân cầu nguyện (mất)
1
Ngô
Chi Khiêm
Ưu-đa-la mẫu (mất)
1
Ngô
Chi Khiêm
Ma hóa tác Tỳ-kheo (mất)
1
Ngô
Chi Khiêm
Ngũ ấm sự (mất)
1
Ngô
Chi Khiêm
Đại bát-nê-hoàn (mất)
2
Ngô
Chi Khiêm
Thiền bí yếu (mất)
4
Ngô
Chi Khiêm
(Những bản mất khác còn nhiều, đây tỉnh lược bớt)
Ly thụy
1
Tây Tấn
Pháp Hộ
Lạc tưởng
1
Tây Tấn
Pháp Hộ
Thọ tuế
1
Tây Tấn
Pháp Hộ
Tôn thượng
1
Tây Tấn
Pháp Hộ
Kinh Ý
1
Tây Tấn
Pháp Hộ
Ứng pháp
1
Tây Tấn
Pháp Hộ
Lực sĩ di sơn
1
Tây Tấn
Pháp Hộ
Tứ vị tằng hữu pháp
1
Tây Tấn
Pháp Hộ
Xá đầu gián thái tử nhị thập bát tú
1
Tây Tấn
Pháp Hộ
Thánh pháp ấn
1
Tây Tấn
Pháp Hộ
Kinh Sanh
5
Tây Tấn
Pháp Hộ
Lưu Ly Vương
1
Tây Tấn
Pháp Hộ
Phân biệt
1
Tây Tấn
Pháp Hộ
Sở dục trí hoạn
1
Tây Tấn
Pháp Hộ
Thân quán
1
Tây Tấn
Pháp Hộ
Ngũ bách đệ tử tự thuyết bản khởi
1
Tây Tấn
Pháp Hộ
Đại Ca-diếp bản
1
Tây Tấn
Pháp Hộ
Tứ thân xâm (mất)
1
Tây Tấn
Pháp Hộ
Việt nạn (mất)
1
Tây Tấn
Nhiếp Thừa Viễn
Dị xuất bồ-tát bản khởi (mất)
1
Tây Tấn
Nhiếp Đạo Chân
Thập thiện thập ác (mất)
1
Tây Tấn
Chi Pháp Độ
Thiện sinh tử (mất)
1
Tây Tấn
Chi Pháp Độ
Trung A-hàm
59
Phù Tần
Đàm-ma-nan-đề
Tăng nhất A-hàm
 
50
Phù Tần
Đàm-ma-nan-đề
 


(7) Đại thừa Luật bộ
Tên Luật
Số quyển
Đời
Người dịch
Phật thuyết Văn-thù hối quá
1
Tây Tấn
Pháp Hộ
Tam-mạn-đà-bạt-đà-la bồ-tát
1
Tây Tấn
Nhiếp Đạo Chân
Bồ-tát thọ trai (mất)
1
Tây Tấn
Nhiếp Đạo Chân
Bồ-tát sám hối (mất)
1
Tây Tấn
Nhiếp Đạo Chân
Bồ-tát giới đọc thọ đàn (mất)
1
Tây Tấn
Nhiếp Đạo Chân
Bồ-tát tạp hạnh pháp (mất)
1
Tây Tấn
Nhiếp Đạo Chân
 
 
(8) Tiểu thừa Luật bộ
 
Tên Luật
Số quyển
Đời
Người dịch
Giới tiêu tai (mất)
1
Ngô
Chi Khiêm
Tăng-kỳ ni yết-ma cập giới bản (mất)
không rõ
Đông Tấn
Tăng Kiến
 
 
(9) Đại thừa Luận bộ
 
Tên Luận
Số quyển
Đời
Người dịch
Đại trượng phu luận
2
Bắc Lương
Đạo Thái
Nhập đại thừa luận
2
Bắc Lương
Đạo Thái
 
 
(10) Tiểu thừa Luận bộ
 
Tên Luận
Số quyển
Đời
Người dịch
Tam pháp độ luận (mất)
2
Phù Tần
Đàm-ma-nan-đề
A-tỳ-đạt-ma tỳ-bà-sa luận (mất)
100
Tống
Phù-đà-bạt-ma
 
 
(11) Tạp bộ
Tên kinh
Số quyển
Đời
Người dịch
Tứ thập nhị chương (mất)91
1
Hậu Hán
Nhiếp-ma-đằng (?)
Phật bản hạnh (mất)
5
Hậu Hán
Trúc Pháp Lan
Phật bản sinh (mất)
1
Hậu Hán
Trúc Pháp Lan
A-dục vương tức hoại mục nhân duyên (mất)
1
Hậu Hán
Chi-lâu-ca-sấm
Pháp cú (mất)
2
Ngô
Chi Khiêm
Tứ thập nhị chương (mất)
1
Ngô
Chi Khiêm
A-dục vương tức hoại mục nhân duyên
1
Phù Tần
Đàm-ma-nan-đề
 
(12) Bí mật bộ
Tên kinh
Số quyển
Đời
Người dịch
Hoa Tích đà-la-ni thần chú
1
Ngô
Chi Khiêm
Trì cú thần chú
1
Ngô
Chi Khiêm
Ma-ha bát-nhã ba-la-mật chú       
(mất)
1
Ngô
Chi Khiêm
Vô cấu tịnh quang đại đà-la-ni
1
Đường
Di-đà-sơn

Từ biểu đồ phân loại liệt kê trên có thể quan sát biết được, kinh điển Đại thừa giáo ở nước Đại Nguyệt Thị đều đầy đủ năm bộ lớn: Hoa nghiêm, Phương đẳng, Bát-nhã, Pháp hoa, Niết-bàn; kinh điển Tiểu thừa giáo như Trung A-hàm, Tăng nhất A-hàm cũng không khuyết. Một bộ của Tứ A-hàm và những kinh nhỏ nhiều dạng khác rất được lưu hành. Những kinh điển thuộc bộ Luật, Luận, Bí mật của hai Thừa giáo Đại và Tiểu cũng tồn tại. Vậy có thể biết, kinh điển lưu thông ở nước Đại Nguyệt Thị, trừ những kinh điển nêu trên,
 

91 Trong tạng Đại Chánh tập 17 (n784, p722) còn một bản — Ca-diếp-ma-đằng và Trúc Pháp Lan dịch thời Hậu Hán.
 
nhất định còn có những kinh điển khác. Thật ra, kinh điển Phật giáo từ nước này du nhập vào Trung Quốc, chưa hẳn dừng lại ở những kinh điển như đã nêu. Đến như giới luật của Tát-bà-đa bộ (Sarvāstivāda) từ Đại Nguyệt Thị truyền vào Trung Quốc, ngày nay tuy có một bộ không còn truyền lại, song căn cứ quyển Tát-bà-đa bộ Ba-la-đề-mộc-xoa (Prātimokṣa) còn lại trong số sách bằng ngôn ngữ nước Đại Nguyệt Thị, tức ngôn ngữ Đổ-hóa-la, mà gần đây khai quật phát hiện ở vùng gần Kucha, cũng gọi là Thập tụng Tỳ-kheo-ni giới bản, ngài La-thập đã dịch ra Hán văn, có thể biết Thập tụng Tỳ-kheo-ni giới bản đã được dịch ra từ bản tiếng nước Đại Nguyệt Thị.
Như sự trình bày phân loại ở trên, đều là những kinh điển rất được lưu hành ở Đại Nguyệt Thị. Theo những kinh điển Phật giáo Hán dịch này, người ta có thể suy tìm một cách đại thể về tình hình Phật giáo ở nước Đại Nguyệt Thị.
Tiểu thừa giáo ở nước Đại Nguyệt Thị chắc chắn được lưu hành tương đương như thuật ở trước. Tuy nhiên, so ra thế lực của Đại thừa giáo hiển nhiên chiếm ưu thế hơn, trong kinh điển của Đại thừa giáo, chiếm đại đa số là bộ Bảo tích, bộ Đại tập, thứ đến là bộ Phương đẳng. Tiếp theo những bộ ít hơn là bộ Hoa nghiêm, Bát-nhã, Pháp hoa, Niết-bàn. Và hình như Đại thừa giáo ở Đại Nguyệt Thị lấy tư tưởng của bộ Phương đẳng làm trung tâm, nhưng vẫn chưa đạt đến lĩnh vực thuần thục viên mãn đầy đủ.
Kinh điển bộ Phương đẳng phần nhiều lấy tư tưởng của bộ Hoa nghiêm, như Nhập đại thừa luận của (Bồ-tát) Kiên Ý (Sthiramati) trước thuật — sách này lấy tư tưởng Hoa nghiêm làm lập trường, phẩm “Nghị luận Không” của bản luận này vốn là phẩm “Thập địa” trong kinh Hoa nghiêm, nói về lịch
trình Bồ-tát tu hành — rất được lưu hành. Rõ ràng tư tưởng của Hoa nghiêm được nghiên cứu nhiều.
Kết lại, lãnh thổ nước Đại Nguyệt Thị rất rộng lớn, nên các bộ phái Phật giáo đều lưu hành ở nước này, trong đó kinh điển của bộ Phương đẳng lưu hành rất rộng, rất thịnh.
Phật giáo Đại Nguyệt Thị cùng với An Tức, Khương Cư là đồng một hệ thống. Ba nước này đều cùng thời kỳ thế kỷ thứ III, hoặc thế nước suy thoái, hoặc quốc gia diệt vong, nên Phật giáo các nước bị sự tàn hại của giáo đồ các tôn giáo khác, không thể phát triển thịnh hành. Phật giáo của một hệ thống này tự truyền vào Thông Lĩnh, trở về Đông, cho đến cả một dải Tân Cương, hoa nở rực rỡ, rồi lại vào bản thổ Trung Quốc, liền kết trái tốt đẹp. Trong ba nước đó, người An Tức và người Túc-đặc tuy là chủng tộc Iran, nhưng dân tộc truyền bá Phật giáo ở phương Đông sớm nhất là tộc Đại Nguyệt Thị, không phải tộc Iran (chủng tộc Thổ-nhĩ-kỳ, hoặc chủng tộc Gia-nhĩ-mạn ở Ấn Độ). Bởi vì tộc Đại Nguyệt Thị từ Thiên Sơn xâm nhập Đại Hạ, tiếp xúc với người Iran tại đất này và hấp thụ văn hóa của họ, ảnh hưởng rất lớn đến phương diện ngôn ngữ, phong tục, tập quán. Tuy người Iran cũng từng một thời tín phụng Phật giáo, nhưng việc tận lực truyền bá giữa tộc Đại Nguyệt Thị và tộc Iran chắc chắn có sự lớn nhỏ hơn kém. Nhưng ông Pelliot cho là “chủng tộc Thổ-nhĩ-kỳ chỉ là môi giới giữa Trung Quốc và Ấn Độ, đối với văn hóa cả hai nước đều không có những ý tưởng sáng tạo gì, những gì đặc sắc độc đáo đều nhờ sự môi giới, hoạt động giữa Trung Á, đó là dân chúng của ngữ tộc Iran. Từ nay về sau, các học giả không thể có cái nhìn vội vàng về vấn đề đó”. Địa vị môi giới của Phật giáo truyền dần về phía Đông, qui cho dân chúng thuộc ngữ tộc Iran, mà công lao thành tích là chủng tộc Ārya Ấn Độ, hoặc chủng tộc Thổ-nhĩ-kỳ, nhưng ông Pelliot
 không thừa nhận chút nào. Quả thật là lời nói thiên kiến, chẳng phải lời luận bàn thích đáng lắm.
Đến đây, có thể nói: Vấn đề này là lấy kinh điển Phật giáo được dịch từ ngôn ngữ chủng tộc Đại Nguyệt Thị mà luận bàn. Đoạn văn trước đã giới thiệu quyển Ba-la-đề-mộc-xoa còn lại bằng ngôn ngữ Đổ-hóa-la (Tochari). Lại như kinh Di-lặc hạ sinh (Maitraya Vyākaraṇa) do đoàn thám hiểm Trung Á của nước Đức phát hiện. Căn cứ báo cáo của ông Müller năm 1907, phần cuối lời bạt của ông, cho là từ ngôn ngữ Ấn Độ mà dịch ra, thành ngôn ngữ Đổ-hóa-la, rồi từ ngôn ngữ Đổ-hóa-la mà dịch thành ngôn ngữ Thổ-nhĩ-kỳ (F. W. Müller: Beitrag Zur Genaueren Bestimmung der unbekannten Sprachen Mittelasiens). Việc này trong bài luận “Phật điển Hán dịch” tập Văn nghệ năm thứ 2, số 4 của học sĩ Vũ Điền Hanh, ông căn cứ vào Kinh lục và kết quả thám hiểm Trung Á đã luận bàn rất rõ ràng!
Trong Phật điển Hán dịch, học sĩ lại nêu ngôn ngữ Ấn Độ, ngoài ngữ cú tức là ngôn ngữ Đổ-hóa-la, ngôn ngữ Túc-đặc (Sogdia) v.v… còn trình bày ra một số. Đầu tiên, khi luận văn này đề xuất, ông dẫn khởi nhiều nghi ngờ, sau căn cứ vào những báo cáo của các học giả châu Âu về phương Đông để giúp cho việc quyết định về sự thật này. Ngày nay hầu như vấn đề này đã được công nhận. Như ông Pelliot đã nói, ngài Tam tạng Bát-nhã (Prajña) được sự trợ lực của vị Tăng Ba-tư là ngài Cảnh Tịnh (Adam), dịch ra kinh Đại thừa lý thú lục ba-la-mật-đa, viết bằng ngôn ngữ Túc-đặc. Nhưng căn cứ lời thuật của ngài Pháp Hiển và ngài Huyền Trang thì lúc bấy giờ Tăng lữ ở vùng Tây Vực đều bắt chước theo phép Thiên Trúc, không những hiểu rõ ngôn ngữ mà còn có thể viết bằng văn tự đó. Nên biết, họ mang kinh điển đến Trung Quốc, đại để số sách đó đều viết bằng Phạn ngữ. Vả lại, từ khi người
Hán cùng Ấn Độ giao thông qua lại trở về sau thì phong trào tôn trọng tin tưởng kinh điển bằng Phạn ngữ thịnh hành. Đối với kinh điển Hồ ngữ không xem trọng lắm, nên trong kinh điển Hán dịch, những kinh mà dịch từ ngôn ngữ khác, không phải Phạn ngữ là rất ít. Điều đó, ở đời Tùy trở về trước tuy có một số, nhưng từ đời Tùy trở về sau, kinh điển bằng Hồ ngữ đều bị bài xích. Nhân đó mà bộ kinh Đại thừa lý thú lục ba-la-mật-đa 7 quyển, ngài Bát-nhã và Cảnh Tịnh dịch, lúc bấy giờ từng bị Đức Tông hoàng đế (thời Đường) chê là “lý muội từ sơ”, ra lệnh phải căn cứ vào bản chữ Phạn tiến hành phiên dịch lại. Vì thế mà ngài Bát-nhã phải nhờ sự trợ lực của vị Sa-môn chùa Quang Trạch là ngài Lợi Ngôn, căn cứ bản chữ Phạn của kinh này dịch lại thành 10 quyển (xem Tục Khai Nguyên thích giáo lục, quyển thượng). Bản 10 quyển của kinh Lục ba la-mật-đa hiện còn là do bản chữ Phạn dịch thành, còn bản 7 quyển được dịch từ Hồ bản đã sớm thất lạc rồi. Lại vào thời Tống Thái Tông có ngài Pháp Thiên từ Tây Vực đến, mang tặng kinh Đại thừa chúc tạng. Ngài từng được ban chiếu giám định kinh này. Ngài Pháp Thiên tâu rằng:
“Kinh này chính là thể chữ Vu-điền, chẳng phải là Phạn văn, huống là trong kinh ấy không có người thỉnh vấn và chúng nghe pháp, trước sau có 65 chỗ văn nghĩa chẳng chính đáng”.
Do đó, nhà vua triệu kiến Pháp Thiên và sắc dụ rằng:
“Để cho tà ngụy được lưu hành là chẳng phải điều sùng kính Phật giáo, nên trừ bỏ bản này để dứt tuyệt sự mê hoặc về sau.” (xem Bổ tục cao tăng truyện, quyển 1).92
 

92 Bổ tục cao tăng truyện 1, (ngài Minh Hà soạn thời Minh) X77n1524_p369b2.
 
Từ đây có thể biết, sách văn tự Tây Vực ngoài Phạn ngữ ra, đối với kinh điển Hồ ngữ, thời Đường, Tống tin dùng bạc bẽo thế nào; còn đối với kinh điển Phạn ngữ được tôn sùng trọng hậu ra sao! Thực tế, từ Đường, Tống trở về sau, trong tâm, trong mắt người Trung Quốc nhất định nhận định là những kinh sách được viết bằng Phạn văn mới là Phật điển chân thật. Trong số Phật điển Hán từ Tùy, Đường trở về sau, những kinh được phiên dịch từ Hồ bản hầu như không còn. Giả sử có hai, ba bản dịch loại đó như bộ kinh Đại thừa lý thú lục ba-la-mật, bản 7 quyển, thì cũng bị giới Phật giáo quay lưng, đưa tới sự mất mát. Phật điển từ đời Tùy, Đường trở về trước, số dịch ra từ Hồ bản nhất định là số rất ít, có thể đoán chắn mà nói.
Trong Phật điển Hán dịch, số từ Hồ bản dịch thành chắc chắn là ít, nhưng những kinh điển được dịch ra Hồ ngữ e rằng rất nhiều. Căn cứ vào kết quả của việc thám hiểm vùng Trung Á gần đây, thu hoạch được rất nhiều kinh sách Phật viết bằng ngôn ngữ Đổ-hóa-la. Song, bắt đầu từ thời kỳ nào mà Nguyệt Thị theo sự nghiệp phiên dịch kinh điển Phật giáo, thì cho đến nay vẫn chưa khảo sát rõ được. Ông Vũ Điền Hanh căn cứ trong tiền tệ của vua Kaniṣka đời thứ hai, hoặc vua Vāsishka đời thứ ba, có một loại tiền tệ dùng văn tự Brāhmi, gọi là “Slanting Brāhmi”, đối chiếu với kinh điển tiếng Đổ-hóa-la phát hiện thấy ở Trung Á, cho rằng việc dùng văn tự này để dịch kinh Phật là bắt đầu từ vị vua này. Nhưng nếu chỉ dùng chứng cứ đơn lẻ này thì không thể phúc đáp xác thật được. Theo sự khảo sát nghiêm túc của tôi thì thời đại Vāsishka, Phật giáo Đại Nguyệt Thị một thời bị hãm vào vận suy, nên cho sự nghiệp dịch kinh bắt đầu ở đời vua này e là chưa chắc đúng. Thà từ thời đại này trở về sau, lúc Phật giáo Đại Nguyệt Thị hưng thịnh mà tìm thì hơn. Vậy từ đây về
sau, việc giải quyết vấn đề này còn phải đợi nghiên cứu vậy. Kinh điển bằng ngôn ngữ Đổ-hóa-la, chắc chắn có thể tin là khi nước Đại Nguyệt Thị diệt vong trở về trước đã thành lập rồi. Nếu vậy, việc lưu truyền nguyên bản kinh Di-lặc hạ sinh, do ngài Pháp Hộ dịch, vị Bồ-tát nước Nguyệt Thị này có khả năng hiểu 36 thứ ngôn ngữ nước ngoài, hoặc có cả ngôn ngữ Đổ-hóa-la cũng chưa biết chừng. Bất luận thế nào đi nữa, rõ ràng quyển kinh được dịch kia là ngôn ngữ Đổ-hóa-la!
/75
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
🙏 Trợ Lý Phật Pháp AI »