NGHIÊN CỨU
PHẬT GIÁO TÂY VỰC
Vũ Khê Liễu Đế
I. LỜI NÓI ĐẦU
“Tây Vực”, danh xưng này được người Trung Quốc dùng từ thời Tiền Hán. Ở biên thùy phía Tây Trung Quốc có Ngọc Môn Quan (nay ở phía Tây huyện Đôn Hoàng tỉnh Cam Túc chừng 160 dặm) và Dương Quan (cách Tây Nam huyện Đôn Hoàng chừng 140 mươi dặm), từ hai quan ải này trở về Tây, xưa nay đều gọi là Tây Vực. Qua mỗi thời đại, những vùng đất phía Tây của hai quan ải này dần dần phát triển rộng lớn về tri thức, địa lý. Đầu tiên, từ Tân Cương hiện nay tiến dần qua Samarkand, lãnh thổ Nga, Turkestan, rồi đến một phần của Ấn Độ. Lại từ Siberia, Ba-tư, đến Asia Minor (Tiểu Á-tế-á). Cuối cùng đưa toàn bộ Ấn Độ vào trong phạm vi của Tây Vực.
Nhưng xem lại những nơi lịch sử Phật giáo dừng chân thì phạm vi Tây Vực không chỉ hạn định ở các vùng nói trên, mà phải nói đến những địa vức từ khi Phật giáo Ấn Độ hưng khởi, truyền đến theo đường bộ, sau cùng vào Trung Quốc. Đó là đất Đại Hạ (Bactria) của dân tộc Đại Nguyệt Thị thống trị, rồi vượt qua núi Đại Tuyết (Hindu Kush) đến Kabul (Cao-phụ) một phần của Afghanistan, Gandhāra, Kashmir (Ca-thấp-di-la) và một phần của Punjab hiện nay, tất cả đều nằm trong phạm vi của Tây Vực. Từ miền Bắc Ba-tư dưới quyền cai trị của nước Parthia (An Tức), và vùng Sogdiana (Túc-
đặc) thuộc lãnh thổ của nước Khương Cư, hợp với Kế Tân, Ca-thấp-di-la, cùng dung hòa văn hóa đặc hữu của các dân tộc ở nhiều nơi khác, rồi lưu nhập vào Tân Cương mà hình thành Phật giáo, gọi là “Phật giáo Tây Vực”.
Hiện nay, nếu muốn nghiên cứu lịch sử truyền bá, thánh điển và nghệ thuật Phật giáo thì phải nghiên cứu Phật giáo Tây Vực. Hiện thời về phương diện nghiên cứu này, hầu như các học giả Phật giáo đều lưu tâm nhận thức. Hai mươi năm trước không có người chú ý đến vấn đề này. Thời đó, sự hiểu biết của họ chỉ giới hạn ở một số nước Ấn Độ, Nepal, Tích Lan, Việt Nam, Trung Quốc, Tây Tạng, Nhật Bản... Còn đối với văn hóa Phật giáo ở các khu vực từ Ấn Độ truyền về phía Đông đến Trung Quốc thì họ hoàn toàn không quan tâm. Khoảng cuối thế kỷ thứ IX Tây lịch trở về sau, nhờ kết quả tìm kiếm của những nhà thám hiểm Trung Á như Nga, Đức, Anh, Pháp và Nhật Bản, họ đã phát hiện nhiều vật phẩm quan trọng, chủ yếu là số văn thư Phật giáo viết bằng văn tự cổ đại, từng lưu hành ở vùng Tân Cương mà người đời không hề biết, và có nhiều điển tịch ở Trung Quốc hoặc Ấn Độ cũng chưa từng thấy. Những thứ phát hiện đa số là tác phẩm nghệ thuật Phật giáo rất kỳ đặc. Các học giả nghiên cứu đã công bố những vật phẩm khai quật được, nhờ đó mà mọi người dần dần xác nhận một cách thỏa đáng là nguồn gốc văn hóa Phật giáo từng tồn tại ở vùng Tây Vực. Các nhà nghiên cứu Phật giáo, bất luận nghiên cứu về phương diện lịch sử, tư tưởng, ngôn ngữ, văn học hay phương diện nghệ thuật nào, họ đều thông hiểu, nắm rõ những nơi trọng yếu mà văn hóa Phật giáo đặc biệt lưu truyền, theo con đường lịch sử Phật giáo hoằng bá từ Ấn Độ truyền về Đông. Do đó mà các học giả Phật giáo Đông-Tây đều tập trung, chú ý đến phương diện này. Chính điều này đã giúp cho các học giả Phật giáo có
được niềm khích lệ lớn, để họ nghiên cứu Phật giáo ngày càng tiến bộ hơn.
Sau đây sẽ nói về quá trình thám hiểm miền Trung Á để xem vấn đề được giải bày rõ ràng ra sao?
Nhóm thám hiểm Trung Á: Cách đây khoảng 100 năm trước, hai người Hungary là Alex Csoma và Nemáti Kálmán đã thử đi vào Trung Á thám hiểm, nhưng việc nghiên cứu Phật giáo của họ không có hiệu quả gì. Rồi người đi tiên phong trong việc sưu tập di vật Phật giáo là Thượng úy Bower, vào năm 1890, tại Kucha (Khố-xa), ông mua được một số kinh điển Phật giáo. Qua mấy năm sau, tại Khotan,[1] ông M. Grenard cũng được một số kinh sách Phật. Nhưng người thám hiểm Trung Á có vị trí đích thực lại là một người Nga, tên là Petrovski. Lúc đang làm Lãnh sự nước Nga tại Kāshgar, ông đã theo công tác thám hiểm, kết quả phát hiện được nhiều kinh sách ghi chép thời xưa. Sau ông, vào năm 1898, Hội trưởng Hội khảo cổ học nước Nga tên là M. Klementz, được viện Đại học Saint Petersburg[2] phái đến thám hiểm Trung Á, ngay vùng Turfan (Thổ-lỗ-phiên), ông cũng thu hoạch nhiều thư tịch cổ. Năm sau, ông phát biểu báo cáo về cuộc thám hiểm của mình, với chủ đề: Turfan và thời đại xa xưa của vùng ấy (Turfan und Seine Alterchümer). Đến năm 1900, ông Stein (M. Aurel Stein) người nước Anh, mở cuộc thám hiểm lần thứ nhất trong vòng ba năm. Ông lấy vị trí cũ của Khotan (Vu-điền) làm trung tâm để khai quật, thu được nhiều tư liệu khảo cổ quí hiếm và phong phú, khiến cho
[1] Khotan: Hòa-điền, phía Tây Tân Cương, xưa gọi là Vu-điền (Ku-stana, dịch là Địa Nhũ) (Xem thêm cht. 9, tr. 19).
[2] Viện Đại học Saint Petersburg, tên một thành phố, cũng là thủ đô cũ của nước Nga.
các học giả Đông-Tây nghe thấy đều kinh ngạc. Từ đó, các học giả châu Âu mới công nhận việc thám hiểm Trung Á là có giá trị trên phương diện học thuật. Năm 1900, ở La-mã lập hội “Vạn quốc đông phương học”, đề xuất Vạn quốc liên hiệp khởi động lại nghị án thám hiểm Trung Á. Sau đó vào năm 1902, tại Hamburg, trong tổng hội của hội ấy nghị quyết đưa ra biện pháp bắt đầu điều tra khai quật vùng Trung Á. Gần đây các nước châu Âu cạnh tranh tổ chức những đội thám hiểm Trung Á với qui mô lớn, họ thực hiện đề án nghị quyết, nhiều lần đến nơi đó khai quật.
Sau khi ông Stein thực hiện cuộc thám hiểm lần thứ nhất trở về, năm 1903, ông viết một tác phẩm “Vu-điền đổ nát chôn vùi trong cát” (Sand-Buried Ruins of Khotan). Đến năm 1907, ông lại công bố hai quyển “Vu-điền thời cổ” (Ancient Khotan), trong sách ghi rõ những di vật cổ đại được khai quật ở những nơi ông đã đi qua và thời gian của cuộc lữ hành thám hiểm. Những báo cáo thám hiểm mà ông đã phát biểu đều hữu ích. Năm 1906 đến năm 1908, ông lại được Tổng đốc phủ Ấn Độ ủy thác thực hiện cuộc thám hiểm lần thứ hai. Lần này, ở Thiên Phật động (động ngàn Phật) tại hang Đôn Hoàng, ông thu hoạch được nhiều văn thư cổ quí giá, khiến cho học giả thế giới kinh ngạc thán phục. Báo cáo của cuộc lữ hành lần ấy, đầu tiên ông đăng trên tạp chí Địa học (Geographical Journal) từ tháng 7 đến tháng 9 năm 1909, với tiêu đề “Thám hiểm Trung Á từ năm 1906 đến năm 1908” (Exploration in Central Asia 1906 - 1908). Năm 1912, ông lại ấn hành hai bản “Sự đổ nát trong sa mạc Khiết-đan (Trung Quốc)” (Ruins of Desert Cathay). Năm 1921, ông đem những bài viết về chuyến thám hiểm qui mô ở vùng Serindia, phân làm năm quyển, cho in và lưu hành. Đến lúc này, kết quả cuộc thám hiểm học thuật lần thứ
hai mới được công bố tất cả đạt được. Ông Stein thấy thành tích mà mình sở đắc trong hai lần thám hiểm chưa đầy đủ, nên vào năm 1913 đến năm 1916, ông thử làm cuộc thám hiểm lần thứ ba, từ Kucha, Turfan rồi chọn đường phía Bắc thẳng đến Ngọc Môn Quan. Ông khai quật ở vùng đất cũ xưa, thu hoạch được nhiều tư liệu khảo cổ phong phú. Tháng 9 năm 1916, trên tạp chí Địa học, ông viết bài “Lữ trình thám hiểm tại vùng Trung Á lần thứ ba — từ năm 1913 đến năm 1916” (A Third Journey of Exploration in Central Asia, 1913-1916). Ông báo cáo lại đại lược tình hình những vùng đất trong cuộc hành trình thám hiểm của ông. Trong tương lai gần nhất, ông sẽ công bố những tư liệu được nghiên cứu kỹ càng mà ông thu được trong cuộc thám hiểm lần thứ ba. Ngoài những trước thuật đã nêu trên, ông Stein còn đem những bức tranh Phật trong động Thiên Phật ở Đôn Hoàng phục chế, làm sách thuyết minh đính kèm, in thành ba quyển, đề sách là “Thiên Phật” (The Thousand Buddhas. 3vols, 1921). Ngoài ra, một số học giả nghiên cứu lại những vật phẩm sưu tập của ông Stein, viết thành luận văn rất nhiều. Nội dung ấy sẽ đem ra trao đổi sơ lược ở thời điểm nhất định, sau đó sẽ giới thiệu lại.
Sự nghiệp nước Anh khai quật ở Trung Á hoàn toàn thành công là nhờ vào sự cống hiến và nhiệt tâm công tác của ông Stein. Sau sự thành công của ông, nước Đức cũng phái một nhóm thám hiểm Trung Á tới bốn lần, có qui mô lớn. Công việc thám hiểm của nhóm này có hiệu quả tương đương với sự cao quí mà ông Stein đã làm. Lần thứ nhất, bắt đầu từ tháng 11 năm 1902, đến tháng 3 năm sau, hai vị học giả chủ sự là Albert Grünwedel và G. Huth, họ khai quật tại vùng đất mầu mỡ Turfan. Lần thứ hai, khởi đầu từ tháng 11 năm 1904, đến tháng 12 năm sau, lãnh đạo đội là ông Le Coq, địa điểm
khai quật là Turfan và Qomul. Lần thứ ba, khởi đầu từ tháng 12 năm 1905, đến tháng 4 năm 1907, lần này do hai ông Albert Grünwedel và Le Coq thăm dò kiểm tra một dải các vùng ở đường phía Bắc, như Kucha, Karashar (Yên Kỳ), Turfan và Qomul. Lần thứ tư, bắt đầu từ tháng 6 năm 1913, đến tháng 2 năm sau, tại Kucha và Maralbachi, ông Le Coq tiếp tục công việc khai quật, mỗi lần đều được nhiều tư liệu khảo cổ đáng kinh ngạc. Sự kiện thám hiểm ở Trung Á đều được nước Đức ghi chép lại. Ba lần thám hiểm sau đều được hoàng đế nước Đức tán thành và ủng hộ. Trong đội thám hiểm lần thứ tư có thêm kỹ sư Th. Bartus (làm việc tại viện bảo tàng) tham gia. Ông Albert Grünwedel báo cáo cuộc thám hiểm lần thứ nhất vào năm 1906, trong tập sách “Báo cáo công tác khảo cổ học tại Idikutsahri và vùng phụ cận nơi ấy, từ năm 1902 đến mùa Đông năm 1903” (Bericht über archaeologische Arbeiten in Idikutshari und Umgebung im Winter 1902-1903). Năm 1912, ông lại phát biểu cuộc thám hiểm lần thứ ba trong báo cáo nghiên cứu khảo cổ học và in lưu hành tác phẩm về chùa tháp Phật giáo cổ đại tại Trung Hoa và Turkestan (Altbuddhistische Kultstätten in Chinesisch Turkistan) do ông trước tác. Năm 1920, ông cho in thêm một cuốn sách lớn, tập hợp những bản phục chế bích họa đẹp nhất, lấy Kucha cổ đại (Alt Kutscha) làm đề mục. Ông lại công bố những tài liệu tìm được ở vùng Kucha cũ, có quan hệ đến việc nghiên cứu về Khảo cổ học, Tôn giáo học, cùng bích họa trong chùa viện Phật giáo thời đại thế kỷ thứ VIII Tây lịch.
Năm 1924, ông lại in phát hành tác phẩm lớn về ma quỷ trong kinh A-tỳ-tư-đà (Avesta, kinh của Yêu giáo [Zoroastrianism]), có quan hệ với việc tạo tượng Phật giáo Trung Á (Die Teufel des Avesta und ihre Beziehungen Zur
Ikonographie des Bouddhismus Zentral-Asiens). Nếu so sánh Phật giáo và bài minh trên bia Kiếm, bài minh trên bia Sư Tử của Ma-la-tư (Marasch) trong kinh Tân-đức A-tỳ-tư-đà (Zend-Avesta) của Ba-tư cổ đại, thì thấy hình thức, nội dung có quan hệ nhau. Cái nổi bật nhất chính là truy tìm xác định được vùng đất có quan hệ với Mật giáo Tây Tạng và mật chú phái Thời Luân (Kālacakra-tantra).[3] Nhân đó mà chúng ta có thể biết tại Trung Á, tượng Phật, tranh Phật quí đẹp khai quật ở vùng di chỉ gần Kucha và Turfan đều ảnh hưởng văn hóa Iran.[4]
Tiếp đến năm 1909, ông Le Coq báo cáo thám hiểm lần thứ hai trong tạp chí Học hội châu Á (J. R. A. S.) (Học hội châu Á do nước Anh thành lập). Bài ông đăng trong tạp chí là “Khái lược về sự phát khởi hành trình và thành tích của đội thám hiểm Trung Hoa, Turkestan, Turfan lần thứ nhất, do vua Phổ[5] khâm phái” (A Short Account of the Origin, Journey and Results of the First Royal Prussian [Second German] Expedition to Turfan in Chinese Turkistan). Năm 1913, ông lại trình bày một ấn bản dầy cộm viết về Cao Xương (Chotscho), với nhiều tư liệu nghiên cứu chi tiết về những tác phẩm nghệ thuật Phật giáo đã phát hiện tại vùng đất Cao Xương xưa do đội thám hiểm lần thứ ba khai quật. Từ năm 1922 đến 1926, ông tiếp tục in ấn phát hành năm quyển sách viết về Phật giáo hậu kỳ Trung Á (Die Buddhistische Spätantike Mittelasiens):
[3] Phái Thời Luân: Skt. Kālacakra-tantra (Thời luân đát-đặc-la 時輪怛特 羅), nghĩa là “Bánh xe thời gian” hay “Thời luân mật pháp”. Một trong các nội dung giáo học chủ yếu của Hoàng giáo Tây Tạng.
[4] Iran, quốc gia phía Tây nam á, tức Ba-tư (Persia).
[5] Hán: Phổ-lỗ-sĩ 普魯士, E. Prussia, nước Phổ, vị trí nằm phía Bắc nước Đức. Thành lập vương quốc năm 1701, năm 1870 trở thành một trong những thành phần chính của đế chế Đức.
Quyển thứ nhất, ghi chép những tác phẩm điêu khắc, tô tạo thuộc nghệ thuật tôn giáo, và thuyết minh về quá trình phát triển của nghệ thuật ấy, do nhóm thám hiểm người Đức phát hiện tại Turfan. Qua nghiên cứu so sánh có thể biết nguồn gốc nghệ thuật xuất phát từ mỹ thuật Kiền-đà-la.
Quyển thứ hai, ghi chép sự khảo cứu những bức họa nhỏ liên quan với Ma-ni giáo.[6]
Quyển thứ ba, trước tiên ghi chép những điều tra về dạng thức, phương pháp kiến trúc chùa viện Phật giáo ở vùng gần Kucha và Turfan; tiếp đến là nghiên cứu thảo luận về đề tài bích họa trong chùa, do BäZäklik phát hiện tại Qyzil và gần Murtuq.
Quyển thứ tư, là tập hợp các bức hình chụp lớn về những bích họa trong chùa ở hai địa phương trên và ghi lời thuyết minh.
Quyển thứ năm, ông viết thêm những phát hiện ở nền chùa hoang phế tại Qumtra, Tumsuq v.v... vào thế kỷ thứ VIII đến thế kỷ thứ XI Tây lịch, và so sánh với tác phẩm nghệ thuật Phật giáo mới gần đây, như nghiên cứu về tượng đắp, tượng Phật tranh gỗ, tranh thiên tỉnh,[7] tranh dâng cúng, điêu khắc gỗ v.v...
Đến đây có thể nói, thành tích học thuật thám hiểm của ông Le Coq là mỹ mãn. Nhưng năm tác phẩm lớn của ông
[6] Ma-ni giáo 摩尼教: E. Manich(a)esim. Vào thế kỷ thứ III, người Ma-ni Ba-tư kết hợp tư tưởng giáo phái Zoroaster cổ đại của Ba-tư, Cơ-đốc giáo và Phật giáo mà thành lập tông giáo. Cơ sở giáo nghĩa của tông này là dựa trên Nhị nguyên luận “thiện” và “ác”; “thiện” là ánh sáng, “ác” là bóng tối. Ánh sáng luôn thắng bóng tối.
[7] Hán: Đỉnh cách họa 頂格畫 (thiên tỉnh họa 天井畫): Vẽ trên khuôn bông, lỗ thông gió.
chưa kết thúc hẳn, nghe nói sau đó, tập tiếp theo của quyển thứ năm là quyển thứ sáu đã in phát hành. Ngoài ra, ông còn công bố những cái đạt được liên quan đến cuộc thám hiểm lần thứ hai và lần thứ ba tại Turfan. Đến năm 1926, ông Le Coq phấn khởi cho ấn hành tập khảo cứu người Hy Lạp ở Đông Turkestan (Auf Hellas Spuren in Ostturkistan). Ngoài những trước tác trên, năm 1925, ông Le Coq còn soạn một tác phẩm “Tập hình nghệ thuật Trung Á và văn hóa sử” (BilderaTl.as Zur Kunst und Kulturgeschichte Mittel - Asiens), và nghiên cứu tỉ mỉ những di vật của Ma-ni giáo, phát hiện ở đất Cao Xương xưa, viết thành tập luận văn tên “Ma-ni giáo Đột-quyết[8] ở Cao Xương” (“Turkische Manichaica aus Chotscho” — chép ở “Anh .Z. d. Abh. d. Kgl. Preuss. AK. d. wiss; 1912, 1916, 1922”). Đó là những tác phẩm tinh hoa mà ông Le Coq đã sở đắc trong cuộc thám hiểm tại Trung Á. Đồng thời cũng có nhiều học giả người Đức viết luận văn nghiên cứu về vật phẩm mà các nhà thám hiểm kiểm định được, như H. Lüders, F. W. K. Muller, R. Pischel, H. Stönner, O. Franke, K. F. Geldner, C. Foy. Sau này nếu có dịp tôi sẽ giới thiệu họ với quí độc giả.
Về nước Nga đã nói ở trước, ngoài việc thám hiểm của ông Klementz, vào năm 1910, Đại học nghiên cứu viên S. F. Oldenburg, tổ chức, chỉ đạo một đội thám hiểm Trung Á có qui mô lớn, đến khai quật vùng Turfan, Yên Kỳ, Kucha và các vùng gần đó. Cuộc thám hiểm ấy đã tìm được những tài
[8] Đột-quyết 突厥: E. Turk, một dân tộc cổ đại nằm phía Bắc Trung Quốc. Thế kỷ thứ VI, sống du mục ở vùng Kim Sơn (nay là núi A-nhĩ-thái), vật tổ thờ là chó sói; họ búi tóc, gài vạt áo trái, làm nghề chăn nuôi và săn bắn… Năm 582 (năm thứ hai niên hiệu Khai Hoàng đời Tuỳ), Đột-quyết phân chia Tây Đột-quyết và Đông Đột-quyết. Ngoài ra, thời kỳ Trung cổ có một chi hệ bộ tộc Đột-quyết tiến về Asia Minor (Tiểu Á-tế-á) và châu Âu kiến lập đế quốc Thổ-nhĩ-kỳ (Xem thêm cht. 5, tr. 18).
liệu khảo cổ rất giá trị. Năm 1914, họ đem công trình nghiên cứu viết thành một quyển sách bằng tiếng Nga, và in phát hành, với nhan đề là “Cuộc thám hiểm Turkestan của người Nga” (Russkaja Turkestankaja Ekspedicija).
Nói đến nước Pháp thì từ năm 1906 đến năm 1909, ông Paul Pelliot đến Trung Á thám hiểm những nơi như Kucha, Turfan và Đôn Hoàng v.v..., phát hiện nhiều văn thư rất hữu ích. Quan trọng nhất là những sách quí tìm thấy ở Đôn Hoàng, chúng có niên đại từ năm 600 đến năm 1.200 Tây lịch, số lượng khoảng 80 hộp. Cùng thời gian và địa điểm đó, ông Stein cũng làm công việc sưu tập văn thư, hai người đã gặt hái được nhiều thành tích, khiến các học giả Đông-Tây luôn kinh ngạc thán phục.
Ngoài hai bài viết của ông Pelliot, là bài “Báo cáo thám hiểm”, phát biểu tại Trung Á năm thứ ba, năm 1910 (Trois an en Asie Centrale) và bài “Báo cáo thám hiểm tại Trung Á” (“Repport de M. Paul Pelliot Sur Sa Mission en Asie Centrale”, xem trong “In ser. et Belles Letters, 1910, 56 - 68”); từ năm 1920 đến năm 1924, ông tiếp tục in phát hành sáu quyển tập hợp những bức vẽ chụp lại trong động Đôn Hoàng, nhan đề “Hang động Đôn Hoàng” (Les Grottes de Toune-Houang). Năm 1920, ông lại dùng phương pháp in chụp, ấn hành kinh Phật thuyết thiện ác nhân quả, bản dịch từ tiếng Túc-đặc (Sogdian Text)[9] ra Hán văn. Ông Sylvan Lévi và những học giả khác dựa vào văn thư của ông Pelliot mà nghiên cứu, rồi đem những kết quả sở đắc của mình phát biểu thành nhiều luận văn.
[9] Tiếng Sogdian: Dịch âm Túc-dặc ngữ 粟弋語, còn gọi là tiếng Túc-đặc (Túc-đặc ngữ 粟特語), nước Túc-đặc (Sogdiana), người Túc-đặc (Soghd, Sughd, Sōgd…). Sogdiana là vương quốc thời xưa ở Tây Vực, phía Tây Thông Lãnh. Tiếng Sogdian thuộc phương ngôn tiếng Ba-tư (Iran), hiện nay không còn nữa.
Sau cùng, đại sư Đại Cốc Quang Thụy người Nhật, nhận thấy thám hiểm Trung Á có giá trị trên phương diện học thuật, nên tiến hành ba lần thám hiểm, từ năm Minh Trị thứ 35 đến năm Đại Chánh thứ 3.
Lần thứ nhất, từ năm Minh Trị thứ 35 đến năm thứ 37, là cuộc thám hiểm điều tra của cá nhân đại sư. Nơi chủ yếu mà đại sư tìm đến là Hòa-điền và gần Kucha. Lần ấy, đại sư được một ít tư liệu khảo cổ. Lần thứ hai, từ năm Minh Trị thứ 41 đến năm thứ 42, lần thứ ba từ năm Minh Trị thứ 43 đến năm Đại Chánh thứ 3, đại sư cùng thầy Quất Thụy Siêu lấy Turfan làm trung tâm của cuộc thám hiểm, hướng về Kucha và vùng gần đó để khai quật, thu được nhiều văn vật cổ đại, như văn thư, hội họa, chạm khắc, tô đắp (tượng), nhuộm dệt, thêu thùa, tiền cổ, bản in v.v...; rồi đem hơn 690 thứ phẩm vật kiểm chứng bằng phương pháp đặt biệt, chọn thứ có giá trị trong số ấy phục chế lại, đưa vào trong hai quyển “Đồ phổ khảo cổ Tây Vực”, giao cho Quốc hoa xã ấn hành năm Đại Chánh thứ 4. Trong số ấy, kinh Phật bằng tiếng Uighur[10] (Duy-ngô-nhĩ) do Vũ Điền Hanh và thầy Quất Thụy Siêu nghiên cứu được đăng ở báo Văn nghệ (số 2 năm thứ tư), báo Đông dương học (quyển thứ năm), Nhị lạc tùng thư (từ số 1 đến số thứ 4). Việc đó được giới học giả Nhật Bản hoan nghênh.
Qua việc tường thuật trên, chúng ta biết được những tác phẩm nghệ thuật, văn vật cổ đại mà các nhà thám hiểm Nga,
[10] Tiếng Uighur, dịch âm Tỳ-ngột-nhi ngữ 毘兀兒語. Cách đọc khác, Duy-ngô(ngột)-nhĩ 維吾爾 (hoặc Úy-ngột-nhĩ 畏兀爾). Tiếng Duy-ngô-nhĩ có liên hệ với ngôn ngữ bộ tộc Đột-quyết. Người Duy-ngô-nhĩ là một trong những chi hệ tộc Turkey (Thổ-nhĩ-kỳ), vào thế kỷ thứ VIII đến thế kỷ XII thống trị Mông Cổ và Đông Turkestan. Hiện nay ở Mông Cổ và Tân Cương.
Anh, Đức, Pháp, Nhật Bản có được là từ Trung Hoa, Turkestan, và họ dùng phương pháp phục chế hoặc photo trước khi đem ra trưng bày và công bố. Hiện nay, tuy chúng ta không ở lãnh thổ Ấn Độ và Trung Quốc, nhưng nhờ văn vật cổ đại ở những nơi mà Phật giáo lưu truyền, giúp chúng ta thấy được chân tướng tất cả, vì chúng ta có thể dựa vào những tư liệu đó để nghiên cứu. Đó là một ân huệ tiện lợi cho chúng ta có phương hướng nghiên cứu đến nền văn hóa Đông dương cổ đại, mà ân huệ chúng ta thọ nhận đều do sự nỗ lực hiến thân của những nhà thám hiểm Trung Á. Với những hy sinh vĩ đại ấy, chúng ta phải tỏ lòng biết ơn vô hạn. Đồng thời, chúng ta cần nương theo những tư liệu của tiền nhân đã thu được, tiếp tục nối gót nghiên cứu thảo luận, hoàn tất công việc của họ, giúp những kỳ tích ấy có thể phát huy thêm. Đó chính là công việc mà chúng ta phải dốc lòng.
Trước đây, tôi bị kích thích bởi những báo cáo nghiên cứu thám hiểm Trung Á, những tư liệu căn bản của cuộc nghiên cứu vào năm Đại Chánh thứ 3 là Chính sử,11 Kinh lục,12 Tăng truyện,13 Tây Vực lữ hành ký14 v.v... của Trung
11 Chính sử: Xem cht. 43, tr. 32.
12 Kinh lục: Gọi đủ là Chúng kinh mục lục 衆經目錄, là thứ mục phân loại các kinh luận Hán dịch. Kinh lục sớm nhất là bản “Hán lục” do Chu Sĩ Hành đời Tam Quốc ghi. Sau đó có bản “Tổng lý chúng kinh mục lục” của sư Đạo An hoàn thành tương đối đầy đủ, lúc đó mới gọi là Chúng kinh mục lục. Sư Bảo đời Lương, Lý Khuếch đời Bắc Ngụy, Pháp Thượng đời Bắc Tề đều có soạn Chúng kinh mục lục nhưng đã thất tán cả. Hiện nay chỉ còn hai bản: 1. Chúng kinh mục lục 5 quyển, do Sa-môn dịch kinh và một số học sĩ đời Đường soạn. Sách được hoàn thành năm thứ 2, niên hiệu Nhân Thọ (602) đời Văn đế nhà Tuỳ. Người chủ soạn là ngài Ngạn Tông, thu vào tạng Đại Chánh tập 55 (T55n2147, p150); 2. Chúng kinh mục lục 5 quyển, do Tĩnh Thái đời Đường soạn. Sách này là sự tăng bổ cho Chúng kinh mục lục của Ngạn Tông soạn, cũng thu vào tạng Đại Chánh tập 55 (T55n2148, p180).
Quốc. Lúc đó, tôi tham khảo tư liệu báo cáo thám hiểm Trung Á, rồi viết một cuốn sách “Phật giáo Tây Vực”, cho in phát hành. Phần cuối lời tựa tôi có viết:
“Trong tương lai, nếu những đội thám hiểm Trung Á như Nhật Bản, Anh, Nga, Đức, Pháp đem những kết quả khảo cứu và điều tra về những di vật cổ đại mà họ đã khai quật phát biểu đầy đủ thì nội dung nghiên cứu nhất định rất phong phú, và sự luận bàn trong sách này chắc chắn có nhiều thay đổi, cũng là điều không cần phải bàn đến.”
Quả nhiên trải qua mấy mươi năm, các học giả đem những tư liệu nghiên cứu trong các cuộc khai quật ở Trung Á, tiếp tục phát biểu ra, đến nay thì quyển sách của tôi không thể không bị đính chính, giúp cho nội dung bài viết lại được đầy đủ sự thật. Hiện tại vì bài viết có giới hạn, lời trình bày chỉ là sự thấy biết kém cỏi, và phạm vi nghiên cứu của tôi chỉ lấy Phật giáo ở địa phận Trung Hoa, Turkestan, lòng chảo Tarim15 làm giới hạn và chủ yếu là Phật giáo của Vu-điền, Qui-tư, Cao Xương. Vì ba nước này là trung tâm Phật giáo tại vùng đất Trung Hoa, Turkestan, mà từ lâu là những đất nước
13 Tăng truyện: Sách truyện ghi lại cuộc đời những vị danh Tăng Trung Quốc cống hiến cho Phật giáo, gồm: Danh tăng truyện sao 1 quyển, Thích Bảo Xướng soạn, Tục tạng 77n1523; Cao tăng truyện 14 quyển, Thích Tuệ Kiểu soạn thời Lương, T50n2059; Tục cao tăng truyện 30 quyển, Thích Đạo Tuyên soạn thời Đường, T50n2060; v.v…
14 Có thể là Tây Vực ký (Đại Đường Tây Vực ký), 12 quyển, ngài Huyền Trang thuật, môn nhơn Biện Cơ soạn, tạng Đại Chánh tập 51, số 2087. Nội dung sách này ghi lại những điều mà ngài Huyền Trang thấy nghe khi ngài đi qua hơn 110 nước, từ Tây Vực đến Ấn Độ…
15 Hán: Tháp-lý-mộc bồn địa 塔里木坌地 (Tarim Basin). Tarim ở phía Nam huyện Sa Nhã tỉnh Tân Cương. Tiếng Hồi gọi vùng đất này là Cao Du (đất ruộng mầu mỡ), vì nó nằm gần sông Tarim, đất trở nên phì nhiêu, đa số dân dựa đó cày cấy gieo trồng, nên lấy tên sông đặt tên.