PHẬT GIÁO
NƯỚC CA-THẤP-DI-LA
Vũ Khê Liễu Đế
I. TRUYỀN THUYẾT VỀ PHẬT GIÁO TRUYỀN VÀO CA-THẤP-DI-LA
Trên lịch sử truyền bá Phật giáo trong các nước Tây Vực, quốc gia chiếm địa vị trọng yếu là nước Ca-thấp-di-la và Kiền-đà-la. Bài viết này nghiêng nặng về nghiên cứu Phật giáo Ca-thấp-di-la, và lấy Phật giáo Kiền-đà-la phụ thêm.
Vị trí nước Ca-thấp-di-la ở biên giới Đông bắc Ấn Độ, nằm phía Tây chân núi Himālaya, tức là Tuyết Sơn, tại vùng đất thượng lưu hai con sông Chenale và Jhelam, chi nhánh sông Ấn Độ, bao quanh bốn phía là núi, địa hình giống quả trứng, từ Đông nam đến Tây bắc dài chừng 84 dặm, rộng từ 20 dặm đến 25 dặm, diện tích khoảng 1.800 dặm vuông, hoặc 1.900 dặm vuông. Địa thế nước ấy bị cô lập trong vùng núi non, giao thông với nước khác rất khó, nên Phật giáo ở nước ấy ít chịu ảnh hưởng của nước khác mà lộ rõ trạng thái phát triển đặc thù.
Trước khi bàn luận về Phật giáo nước Ca-thấp-di-la, xin được nói về cái tên mà lịch sử Trung Quốc gọi là nước Kế Tân. Trong Chính sử Trung Quốc nơi chỉ cho đất Kế Tân, nguyên là định nghĩa không nhất định, giới học giả nghiên cứu Đông-Tây cũng phân vân, đưa ra nhiều thuyết, nay không thể giới thiệu hết các thuyết ấy, vì gây thêm phiền toái, không cần thiết. Ở bài này chỉ lược trình bày những điều mà tôi tin là chính xác thôi.
Trong điển tịch ghi chép về phương diện Phật giáo, Kế Tân tức là Ca-thấp-di-la đã trở thành định thuyết. Lời chú bên dưới nước Ca-thấp-di-la trong Tây Vực ký1 của ngài Huyền Trang, nói rằng: Xưa gọi là Kế Tân, lầm vậy. Truyện ngài Huyền Trang trong Tục cao tăng truyện quyển 4, do ngài Đạo Tuyên soạn cũng gọi là nước Ca-thấp-di-la, trong sách ấy ghi: “tức ở đây thường gọi là Kế Tân, không nói Kế Tân do đâu mà có, xem ra thành của nước ấy đồng tên Kế Tân vậy.”2 Lại đệ tử của đại sư Từ Ân là Tuệ Chiểu, tác giả Thành duy thức liễu nghĩa đăng quyển 1, cho rằng Kế Tân gọi mới là Ca-diếp-di-la.3 Ông Watters đã phát hiện thấy một chữ Divyāvadāna, ý là “thành lạc thổ Ca-thấp-di-la”, chữ này ở trong kinh Tạp A-hàm quyển 23, Đại trí độ luận quyển 9, A-dục vương truyện quyển 4 v.v… đều giải thích là “Kế Tân”. Lại trong Luật bản Pāli viết là Ca-thấp-di-la và giống như trong Thiện kiến luật Tỳ-bà-sa luận quyển 2 (một trong năm bộ luật Tiểu thừa), viết là Kế Tân (Watters: On Ywam Chwang, vol 1. trang 260). Ông Bạch Điểu Khố Cát căn cứ theo sự ghi chép của Ngụy thư, đô thành của Kế Tân là thành Thiện Kiến, nhưng ông Lévi cho là ý dịch thuộc về từ Sudarsana, bởi vì từ đời Đường đến nay đô thành hữu danh của Ca-thấp-di-la đều là âm dịch của từ Srīnagar, “r” là mang tính chất bán mẫu âm, nên thường bị tỉnh lược, tức dịch “Srīn” ra “Thiện”, lược bỏ một âm “r” của từ ấy, thành ra “Sin”, “Kiến” là “gar”, “g” của từ “gar” thường viết thay bằng nhu âm “k”, mà “r” ở đuôi cuối thì theo tập quán thường dùng “n” thay. Do đó nên “gar” thành ra “kan”.
1 Tây Vực ký 3, T51n2087_p886a8.
2 Tục cao tăng truyện 4, T50n2060_p449a05.
3 Thành duy thức luận liễu nghĩa đăng 1 (Thích Tuệ Chiểu [651-714, danh tăng Trung Quốc, thuộc Pháp tướng tông], trước tác thời Đường, 7 quyển), T43n1832_p659b14.
Tóm lại, Thiện Kiến phải là dịch âm của “Srīnagar”. Còn tên đô thành khác của Kế Tân thì Hán thư viết là Tuần Tiên thành, Đường thư viết là Tu Tiên thành, đều là từ chuyển hóa của “Srīnagar”, chủ trương của ông Bạch Điểu như vậy. (Xem bài “Sự hưng vong của nước Nguyệt Thị” của ông Bạch Điểu trong Vô tận đăng quyển thứ 9 số 7).
Còn có người nói, Ca-thấp-di-la và Kế Tân thật ra cùng một ngữ nguyên, điều này có thể thấy rõ. Ca-thấp-di-la, ngôn ngữ (Prākrit) Ấn Độ thường gọi là Kasvīsa, nhưng âm “v” của quốc ngữ Ấn Độ thì ngôn ngữ Iran phần nhiều viết thành “p”, nên Kasvīsa từ quen dùng Ấn Độ tức là Kaspīra của ngôn ngữ Iran. Trong lịch sử Trung Quốc, gọi là Kế Tân thì phát âm từ ấy là Ki (Ka) – P’in, nhưng theo lệ thường của Trung Quốc dùng âm “r” (l) phiên dịch âm “n”, nên “Tân”, nếu âm dịch là Pir (pil) thì Kế Tân phải là âm của Kapir; do vậy mà từ “Kaspīra” ngôn ngữ Iran cùng nguồn gốc với từ “Kasvīra” quen dùng của Ấn Độ (tham duyệt bài Ca-thấp-di-la trong Lịch sử Phật giáo của ông Quật Khiêm Đức số thứ 6, thiên thứ 22 tạp chí Sử học).
Theo những luận thuyết trên, Kế Tân chính xác là Ca-thấp-di-la. Nếu Kế Tân là Ca-thấp-di-la thì do đâu mà những ký sự liên quan đến nước Kế Tân trong Hán thư và Ngụy thư đều cho rằng nước này ở phía Tây bắc Ca-thấp-di-la, giải thích ra sao đây? Sự trùng lặp này là bởi thời xưa việc giao thông của Ấn Độ và Trung Quốc phải đi qua nước chư hầu của Ca-thấp-di-la, nên các sách nêu trên đều không phải chỉ vào bản quốc của Kế Tân tức là Ca-thấp-di-la, mà chỉ cho quốc gia chư hầu ở phía Tây bắc nước Kế Tân. Hán thư cho rằng đất đai nước Kế Tân bằng phẳng mà ôn hòa, dân nước ấy tinh xảo về mỹ thuật công nghệ, những điều ấy chỉ cho nước này e là chỉ cho nước Kiền-đà-la. Ngụy thư tuy theo
thuyết của Hán thư, nhưng trước đó thì cho rằng nước Kế Tân ở phía Tây nam Ba-lộ (tức là nơi mà Tây Vực ký gọi là Bát-lộ-la, nay là đất Balti), núi non vây quanh, từ Đông qua Tây 800 dặm, từ Nam đến Bắc 300 dặm; cả đoạn này rõ ràng là chỉ cho nước Ca-thấp-di-la. Theo đó làm chuẩn mà bàn luận, nên văn dưới đều xem Kế Tân tức là Ca-thấp-di-la.
Việc truyền bá Phật giáo vào Ca-thấp-di-la là do ngài Mạt-điền-để-ca (là Ma-điền-địa, Ma-điền-đề, Mạt-điền-đề — Madhyāntika) thời đại vua Asoka (A-dục). Việc ngài Mạt-điền-để-ca ở nước Kế Tân hoằng dương truyền bá pháp tạng, đúng như lời tiên đoán của đức Phật đã nói với ngài A-nan. A-dục vương truyện quyển 3, kinh A-dục vương quyển 6 và Tây Vực ký quyển 3 v.v… đều có ghi chép, tường thuật. Căn cứ trong Tây Vực ký ghi, đức Phật sau khi hàng phục ác thần ở nước Ô-trượng-na (Udyāna), liền trở về bổn quốc, khi đi qua nước Ca-thấp-di-la, Ngài nói với A-nan rằng: Sau khi Ta Niết-bàn, A-la-hán Mạt-điền-để-ca sẽ ở đất này kiến quốc an dân, hoằng dương Phật pháp. Nhưng theo A-dục vương truyện quyển 4, kinh A-dục vương kinh quyển 7, Tây Vực ký quyển 3 ghi chép, sau khi đức Phật diệt độ vào năm thứ 50 hoặc năm thứ 100, La-hán Mạt-điền-để-ca nghe thầy mình là ngài A-nan thuật lại lời tiên đoán của đức Phật, rất vui mừng, nhân đó đến nước này, dùng sức thần thông hàng phục con rồng xưa nay đã chiếm cứ đất này cư trú. Sau khi ngài được đất ấy, mới thuê nhiều nô lệ từ các nước, nhờ họ kiến lập năm trăm ngôi Già-lam, hiến cúng cho chúng Tăng, truyền bá rộng rãi Phật pháp, cho các đàn-việt (thí chủ) học tập chung với nhau, để được liễu ngộ, nhiên hậu mới vào Niết-bàn. Đối với thuyết về lời tiên đoán của đức Phật và sau khi Phật diệt độ 50 năm hoặc 100 năm, chúng ta chưa thể đặt hết niềm tin, nhưng chắc chắn ngài Mạt-điền-để-ca là vị Cao tăng thời vua
Asoka, việc ngài đi đến Ca-thấp-di-la và Kiền-đà-la truyền đạo là sự thật, không thể nghi ngờ.
Căn cứ Đại Tỳ-bà-sa luận quyển 99 ghi, trong chùa Kê Viên (Kukhuṭārama) xưa, có vị Tăng tên là Đại Thiên (Mahādeva) rất giàu tư tưởng tự do, lúc Bố-sái-tha (Uposatha),4 nói ra năm thứ dị pháp,5 bấy giờ những vị Kỳ túc trong chùa nghe đều kinh hãi chấn động, chợt rộ lên đấu tranh, kết bè lập đảng, tình hình càng trở nên kịch liệt. Lúc
4 Bố-sái-tha 布灑他: Skt. poṣatha, upavasatha (Pāli. uposatha), cách dịch âm khác “Bố-tát”, v.v… Hán dịch Thuyết giới, Trưởng tịnh… Nghĩa đen của từ này là “sống gần”, hay “ngày phụng sự”. Nghĩa bóng là “ngày kiêng cữ”, “ngày nhịn ăn” hoặc nói theo Hán “ngày trai”. Tục lệ ngày trai như vậy có nhiều trong các tôn giáo. Đức Phật đã chấp nhận ngày trai giới trong tập tục truyền thống Vệ-đà, nhưng hướng đến mục đích khác hơn. Ngày đó các Tỳ-kheo cùng sống trong một cương giới đều phải tập hợp lại một chỗ để thuyết giới, tức đọc giới bổn Ba-la-đề-mộc-xoa. (trích lược “Yết-ma yếu chỉ”, tr. 135, 136).
5 Năm thứ dị pháp: Du-già sư địa luận lược toản 1, (Khuy Cơ soạn thời Đường) T43n1829 _p1b01, giải thích: “Sau khi Phật niết-bàn 100 năm, do ngài Đại Thiên mà có sự tranh biện về 5 sự (…). Ngài Đại Thiên giải thích (sự 1, kẻ khác dẫn dụ) các vị A-la-hán không có hai sự phiền não và xuất tinh nhưng bị ma vương dẫn dụ, hoặc bị ma vương đem tinh ấy vấy bẩn vào y, làm như tinh xuất. (…)... (sự 3, còn điều hoài nghi là) các vị thấy biết đế lý thì cái nghi đối với chân lý, tức cái nghi của phiền não, tuy bị diệt trừ rồi (ban đêm hay nhìn xa) nghi cây trụi là người, thì cái nghi đối với sự thường này vẫn còn (…)… (sự 2, còn sự không biết là) sự không biết có hai thứ: có ô nhiễm và không ô nhiễm; các vị La-hán không còn sự không biết có ô nhiễm, nhưng sự không biết không ô nhiễm thì vẫn còn (…)… (sự 4, người khác giúp vào là) các bậc lợi căn như ngài Xá-lợi-phất v.v… mà còn nhờ thiện hữu giúp cho vào đạo, vậy có người nhờ người khác dẫn giúp vào đạo là điều chắc chắn (…)… (sự 5, chính thánh đạo cũng có nhờ tiếng là) các bậc tu tập từ đời trước, vì tu đã nhiều đời nên khi sắp chứng quả nhân Phật thuyết giáo khổ, không v.v…, nghe liền ngộ đạo chứng nhập thánh quả. Như vậy dưới lời Phật nói, có nhiều người hiện tại chứng quả, cũng có nhiều người chán khổ, tự thốt lên tiếng chán khổ mà thánh đạo phát khởi…
bấy giờ sĩ thứ và đại thần trong thành Hoa Thị (Pāṭaliputra) đều đến hòa giải, rốt cuộc không có hiệu quả. Khi đó, vua Vô Ưu (Asoka) liền đích thân đến chùa, theo lời đề nghị của ngài Đại Thiên, dùng cách đa số để giải quyết phải trái vấn đề ấy, cuối cùng thắng lợi thuộc về phái Đại Thiên. Nhà vua trở về cung, nhưng tranh luận vẫn không chấm dứt, rồi sau chia cắt thành hai bộ là Thượng tọa bộ và Đại chúng bộ. Thánh chúng Thượng tọa bộ chán bỏ những điều phi pháp của Đại chúng bộ, dẫn nhau thoát ly chùa Kê Viên. Vua nghe việc đó cả giận, hạ lệnh ném những người đó xuống sông Gaṅgā (Khắc-già, sông Hằng). Giáo đồ Thượng tọa bộ biết được nguy nan này mới thị hiện thần thông, cưỡi hư không bay sang phía Tây bắc. Nhà vua nghe việc đó rất hổ thẹn và hối hận, sai người tìm kiếm chỗ ở của họ khắp nơi, biết họ ở tại nước Ca-thấp-di-la, khẩn cầu họ quay trở về. Nhưng họ không tuân theo vương mệnh, nhà vua mới cho xây dựng năm trăm ngôi tăng Già-lam ở nước Ca-thấp-di-la để họ cư trú, lại còn ban cho đủ thứ vật trân báu. Dị bộ tông luân luận6 cho việc này xảy ra sau khi đức Phật diệt độ hơn 100 năm, còn bộ Chấp dị luận7 cho rằng chẳng quá 100 năm. Tây Vực ký cho là sau khi đức Như Lai Niết-bàn 100 năm.
Tóm lại, sự ghi chép của các sách đều nhất trí là việc đó xảy ra sau khi đức Phật diệt độ 100 năm. Động cơ Đại Thiên đề xướng dẫn đường năm việc dị pháp, cùng việc đồ chúng trong Phật giáo chia cắt có lẽ là sự thật. Song việc đi đến nước Ca-thấp-di-la của Thượng tọa bộ thì không có bằng chứng để tin. Bởi sau khi đức Phật diệt độ 100 năm nhằm
6 Dị bộ tông luân luận, 1 quyển, Bồ-tát Thế Hữu tạo, Huyền Trang dịch thời Đường, T49n2031.
7 Bộ chấp dị luận 1 quyển, Bồ-tát Thiên Hữu tạo, Chân Đế dịch thời Trần, T49n2033.
thời đại Ca-la-dục vương (Kālāsoka), mà thế lực của nước Ma-yết-đà (Magadha) còn chưa phổ cập đến Ca-thấp-di-la thì việc ở nước này kiến lập nhiều Già-lam quả thật không có khả năng. Vả lại nếu đương thời Phật giáo đã truyền vào nước này thì khi vua Asoka cử hành lần kết tập thứ 3, nhất định sẽ không sai phái các vị sư đến nước này truyền giáo. Việc ghi chép ở Tây Vực ký quyển 3 cũng giống với Đại Tỳ-bà-sa luận, nhưng không đủ bằng chứng để tin. Có lẽ nhân đời sau Thượng tọa bộ ở nước ấy rất thịnh nên phát sinh thứ truyền thuyết này.
Căn cứ trong A-dục vương truyện quyển 5 và kinh A-dục vương quyển 8 ghi chép, ngài Thương-na-hòa-tu (Sāṇāvāsika) thừa kế dòng pháp của ngài A-nan, rồi sau khi đem pháp phó chúc cho ngài Ưu-bà-cúc-đa (Upagupta), nói là lời dạy của đức Như Lai rằng, đất Kế Tân rất hợp với Thiền định, nên ngài đi đến đất này, vào trong hang đá, thọ pháp hỷ tam-muội, có gió mát thanh tịnh thổi đến toàn thân, liền đắc quả A-la-hán, được niềm vui giải thoát. Lại A-dục vương truyện quyển 6 và kinh A-dục vương quyển 10 chép, thời ngài Ưu-bà-cúc-đa có một vị Tỳ-kheo tên là Thiện Kiến (Sudarsana), tự nói rằng được Tứ thiền của thế tục, thị hiện năm thần thông, có thể làm ra mưa, chứng được quả A-la-hán, nhân nhờ ngài Ưu-bà-cúc-đa hóa độ, đắc quả chánh chân La-hán. Song Thương-na-hòa-tu cho đến Ưu-bà-cúc-đa đều là người thời trước sau 100 năm sau khi đức Phật diệt độ, mà đương thời việc giao thông giữa vùng Trung Ấn Độ và Ca-thấp-di-la hình như không dễ dàng lắm, nên ngài Thương-na-hòa-tu chỉ vì lý do nước ấy hợp với thiền định, liền đi đến nước Ca-thấp-di-la xa xôi chưa có Phật giáo, chuyện ấy e là khó tin. Vả lại, nói là thời đó đã có Tăng sĩ Phật giáo cư trú tại Ca-thấp-di-la, càng khó tin nữa. Thường