nghe ở Vu-điền có toàn bộ kinh Hoa nghiêm bản Phạn, liền sai sứ đi Vu-điền cầu một vị Tăng nhân chép lại bản kinh Hoa nghiêm và có thể giảng thuyết được kinh này. Vua Vu-điền tuyển chọn ngài Thật-xoa-nan-đà (Śikṣānanda) mang theo bản Phạn đến Trung Quốc. Vào năm đầu niên hiệu Chứng Thánh (năm 695 Tl.), ngài Nan-đà đến Lạc Dương, Võ Hậu cho ngài ở tại Lạc Dương phiên dịch kinh Hoa nghiêm. Năm Thánh Lịch thứ 2 (năm 699 Tl.), việc dịch kinh hoàn thành, tức là bộ “Bát thập Hoa nghiêm kinh”. Ngoài kinh này, những kinh, luận mà ngài Nan-đà dịch thuật ở Trường An, Lạc Dương có đến 19 bộ, đều là sách của Đại thừa, đủ chứng minh ngài Nan-đà là người đại biểu Đại thừa giáo ở Vu-điền đi đến Trung Quốc. Tống cao tăng truyện (quyển 3)33 nói: Đầu niên hiệu Trinh Nguyên thời Đường Đức Tông (năm 786 Tl.), ngài Ngộ Không đến Bắc Đình của lưu vực Tarim (tức là Turfan ngày nay), đón mời vị Tăng Vu-điền là Giới Pháp (Sīladharma) ở chùa Hưng Long tại Bắc Đình, phiên dịch kinh Thập địa v.v… Kinh ấy là một bộ phận của kinh Hoa nghiêm, có thể biết việc truyền pháp môn Hoa nghiêm ở Vu-điền đã có rất lâu!
VIII. TINH XÁ NGƯU GIÁC SƠN
Bản văn:34
Hơn 20 dặm phía Tây nam vương thành có núi Cù-thất-lăng-già (Đường gọi là Ngưu Giác).35 Núi nhô lên hai ngọn, núi cao chất ngất, bốn phía tuyệt đường, ở khoảng hang ven núi kiến tạo một ngôi Già-lam, trong ấy tượng Phật, đèn
33 Tống cao tăng truyện 3, T50n2061_p721b02.
34 Tây Vực ký 12, p943c14.
35 Núi Cù-thất-lăng-già, tiếng Phạn là Gośṛnga-giri, tức là Ngưu Giác Sơn (Gośirṣa-giri). (cht. Tg)
“Lại có dòng sông thứ 2 tên là Cù-ma-đế, do có nhiều trâu nên gọi là Ngưu Hà. Sông thứ 2 này rộng nửa do-tuần, dài 300 do-tuần, chảy vào biển lớn.”
Cù-ma-đế là tên dòng sông được đơn cử thực tế. Chỉ kiều dị sĩ tập quyển 8 cũng có tên dịch của Ngưu Hà. Như trước đã dẫn, Pháp Hiển truyện từng nói: Tự viện lớn nhất của Vu-điền tên là chùa Cù-ma-đế, có 3.000 vị Tăng Đại thừa, là một ngôi chùa nổi tiếng. Tên chùa Cù-ma-đế là do dòng sông chảy dưới chân núi mà đặt tên. Hình như tên sông Cù-ma-đế và tên người Cù-ma-bà-la-hương có quan hệ với nhau. Vả lại nếu “Go” tiếng Phạn có nghĩa là trâu, thì tên Ngưu Giác Sơn cùng với tên sông (Gomati — Cù-ma-đế) e rằng cũng có liên quan. Sông Cù-ma-đế là sông Hắc Ngọc (Hắc Ngọc hà), còn Ngưu Giác Sơn thì chỉ cho ngọn núi trên bờ sông ấy. Ông Stein thám hiểm ở Hoà-điền, cho rằng núi Kohmari ngày nay, tức là núi Ngưu Giác thuở xưa. Khoảng giữa sông Hắc Ngọc và sông Bạch Ngọc có một mạch núi, phần giữa hai dòng sông chợt xuất hiện bình nguyên, đầu mối phía Bắc là núi Kohmari. Tại bờ phía Đông sông Hắc Ngọc đối diện với thôn Ujat, có một vách cắt cao 250 thước đứng sừng sững. Núi Kohmari này, từ ngoài quan sát thấy như hai ngọn núi đứng hướng về nhau, khớp với lời ngài Huyền Trang ghi “Hai ngọn núi khởi lên, núi cao ngất tuyệt lối bốn bề”. Trong hang giữa hai ngọn núi này, truyền thuyết nói là chỗ ở của tiên nhân Khōja Mahēb Khojam, có đền cổ tên Mazān, cách thủ phủ chừng 20 dặm. Lại ở đầu phía Nam ốc đảo sa mạc, chính là điều mà ngài Huyền Trang đã nói. Đời sau, kẻ tuẫn giáo (chết vì đạo) của Hồi giáo cũng ở chỗ này lập đền thờ, nên thời nay Hồi giáo ở Hoà-điền cũng rất tôn sùng núi Kohmari (Stein: Ancient Khotan, I. pp. 187, 189). Tiếng Ba-tư từ “Koh” có nghĩa là “Sơn”, từ “Mār” nghĩa là “Xà”, nên ông
Lévi cho là tên Xà Sơn, bởi dịch từ tên của Long vương “Grhapati Nāgaraja” (Lévi: Notes Chinoises sur L’Inde, p.40Nate). Nhưng tên Long vương trong Nhật tạng phần thuộc kinh Đại tập là Grhovadatta, chẳng phải Grhapati. Trong núi Kohmari, ông Grenard từng phát hiện ra hang đá được nhân dân Vu-điền sùng kính, đủ chứng minh lời ngài Huyền Trang nói rằng, núi Ngưu Giác có “thạch thất lớn” là chính xác.
Nói tóm lại, núi mà ngài Huyền Trang gọi là Ngưu Giác Sơn chính là núi Kohmari ngày nay, có thể xác định như thế. Năm 1892 Tây lịch, ở trong núi Kohmari, hai ông Dutreuil de Rhins và Grenard đã tìm thấy bản kinh Pháp cú tiếng Phạn viết bằng văn tự Kharosthi, rồi đưa về kinh đô nước Nga; kết quả nghiên cứu đã chứng minh là quyển kinh chép xưa nhất thế giới. Theo bản văn mà ngài Huyền Trang nói thì nguyên ngữ của tên Địa-ca-bà-phược-na có hai thuyết: Ông Julien cho là Dirghabhāvana (Julien: Memoires, II. 230); ông Watters cho là Tikabhavana (Watters On Yuan Chwang, II. 301). Bà-phược-na khớp với nguyên ngữ là Bhavana; nhưng từ Địa-ca chẳng phải là Dirgha của tiếng Phạn, nên thuyết của ông Julien rất khó được đồng ý. Nguyên do có tượng Phật ở bên trong chùa, trong truyền thuyết nói rằng: Quí tộc Vu-điền lưu trú ở nước Khuất-chi tạo pho tượng Phật này, giống với thuyết nói tượng Phật ở Khuất-chi đưa vào Vu-điền. Ở địa điểm mà ngài Huyền Trang chỉ định, ông Stein đã phát hiện nền hoang phế của ngôi chùa, tục truyền là nơi cư trú của vị thánh nhân Ali Pādshāh mà đến nay nhân dân còn tôn kính. Cái nền hoang phế cao chừng 20 thước, chính là nền của tự viện. (Stein: Ancient Khotan, I.225).