Tìm kinh sách
Vần A-Z:
Nghiên cứu Phật Giáo Tây Vực

Nghiên cứu Phật Giáo Tây Vực

Tác giả: Cư sĩ Tuệ Khai, Phụ chú: Thích Tâm Nhãn. Dịch giả: Cư sĩ Tuệ Khai, Phụ chú: Thích Tâm Nhãn. Năm xuất bản: 2011. Số trang: 604.

Chương 62: VIII. Tịnh Xá Ngưu Giác Sơn (Trang 546 - 550)

nghe ở Vu-điền có toàn bộ kinh Hoa nghiêm bản Phạn, liền sai sứ đi Vu-điền cầu một vị Tăng nhân chép lại bản kinh Hoa nghiêm và có thể giảng thuyết được kinh này. Vua Vu-điền tuyển chọn ngài Thật-xoa-nan-đà (Śikṣānanda) mang theo bản Phạn đến Trung Quốc. Vào năm đầu niên hiệu Chứng Thánh (năm 695 Tl.), ngài Nan-đà đến Lạc Dương, Võ Hậu cho ngài ở tại Lạc Dương phiên dịch kinh Hoa nghiêm. Năm Thánh Lịch thứ 2 (năm 699 Tl.), việc dịch kinh hoàn thành, tức là bộ “Bát thập Hoa nghiêm kinh”. Ngoài kinh này, những kinh, luận mà ngài Nan-đà dịch thuật ở Trường An, Lạc Dương có đến 19 bộ, đều là sách của Đại thừa, đủ chứng minh ngài Nan-đà là người đại biểu Đại thừa giáo ở Vu-điền đi đến Trung Quốc. Tống cao tăng truyện (quyển 3)33 nói: Đầu niên hiệu Trinh Nguyên thời Đường Đức Tông (năm 786 Tl.), ngài Ngộ Không đến Bắc Đình của lưu vực Tarim (tức là Turfan ngày nay), đón mời vị Tăng Vu-điền là Giới Pháp (Sīladharma) ở chùa Hưng Long tại Bắc Đình, phiên dịch kinh Thập địa v.v… Kinh ấy là một bộ phận của kinh Hoa nghiêm, có thể biết việc truyền pháp môn Hoa nghiêm ở Vu-điền đã có rất lâu!
VIII. TINH XÁ NGƯU GIÁC SƠN
Bản văn:34
Hơn 20 dặm phía Tây nam vương thành có núi Cù-thất-lăng-già (Đường gọi là Ngưu Giác).35 Núi nhô lên hai ngọn, núi cao chất ngất, bốn phía tuyệt đường, ở khoảng hang ven núi kiến tạo một ngôi Già-lam, trong ấy tượng Phật, đèn
 

33 Tống cao tăng truyện 3, T50n2061_p721b02.
34 Tây Vực ký 12, p943c14.
35 Núi Cù-thất-lăng-già, tiếng Phạn là Gośṛnga-giri, tức là Ngưu Giác Sơn (Gośirṣa-giri). (cht. Tg)
 
đuốc sáng trưng. Thuở xưa đức Như Lai đến chỗ này, vì chư thiên, Ngài lược nói pháp yếu. Ngài huyền ký đất này sẽ kiến lập đất nước, sùng kính giáo pháp của Ngài để lại, tu tập Đại thừa. Núi Ngưu Giác có thạch thất lớn, bên trong có vị A-la-hán định tâm nhập diệt, đợi chờ đức Phật Từ Thị. Khoảng vài trăm năm, người cúng dường không suy giảm. Gần đây triền núi lở, lấp kín đường vào cửa hang; quốc vương hưng binh muốn trừ bỏ đá lở, liền có bày ong đen bay đến, chích độc mọi người, do vậy đến nay cửa đá chẳng mở. Hơn mười dặm phía Tây nam có ngôi Già-lam Địa-già-bàn-phược-na,36 bên trong có lập tượng Phật giáp trữ,37 vốn từ nước Khuất-chi đến đây. Thuở xưa trong nước này có người bề tôi bị khiển trách, cư ngụ ở nước Khuất-chi, thường lễ bái bức tượng này; về sau nhờ ơn trở lại nước cũ, từ xa hết lòng kính ngưỡng vọng bái về. Sau nửa đêm thì tượng bỗng nhiên tự đến. Người ấy bỏ nhà cửa mà kiến lập ngôi Già-lam này.
Khảo chứng:
Căn cứ lịch sử Vu-điền trong Tây Tạng truyện (Rockhill: Life of the Buddha, p. 238) thì vua Vijayavirya từng theo ngài Phật-sứ (Buddhadūta) học tập Phật pháp, xây dựng chùa Hgento-Shan ở trên núi Ngưu Đầu (Gośirṣa-giri). Ông Rockhill nói núi Ngưu Đầu trong lịch sử Vu-điền tức là núi mà ngài Huyền Trang gọi là núi Ngưu Giác, bởi ý nghĩa Ngưu Đầu giống Ngưu Giác. Ngài Na-liên-đề-lê-da-xá (Narendrayaśas) đời Tuỳ đã dịch Nhật tạng phần quyển 45
 

36 Già-lam Địa-già-bàn-phược-na, (Phạn ngữ) Dirghabhavana-Sanghārāma. (cht. Tg)
37 Tượng giáp trữ 夾紵像: Loại tượng được đắp bằng bùn, sơn và vải. Tức lấy vải gai đắp lên tượng mẫu bằng đất, sơn lên một lớp cho chắc, rồi trải thêm một lớp vải gai nữa, phết sơn thêm cho dính, đến khi đủ độ dày và cứng thì bỏ khuôn đất ra, hoàn thành.
 
của kinh Đại phương đẳng đại tập ra Hán văn, có ghi việc đức Phật dạy các Long vương làm người thủ hộ chùa tháp các nước:
“Lại từ bên trong nước Vu-điền ở Diêm-phù-đề, trên bờ sông Thuỷ, bên núi Ngưu Đầu, gần bên cạnh bờ sông là trụ xứ của Chi-đề (tháp) Đại thánh nhân Cù-ma-bà-la-hương, phú chúc cho Long vương Cật-lợi-ha-bà-đạt-đa thủ hộ cúng dường… Chi-đề lớn của đức Mâu-ni Cù-ma-bà-la-càn-đà ở núi Ngưu Giác Phong trong nước Vu-điền….”38
Đoạn văn trên, trước gọi là Ngưu Đầu Sơn, sau thì gọi là núi Ngưu Giác Phong, có thể là đồng ngữ mà dịch khác. Cù-ma-bà-la-hương tức là ngài Cù-ma-bà-la-càn-đà (Phạn văn là Gomasala-gandha), Mâu-ni là danh xưng của Thánh nhân; kiến lập Chi-đề (Caitya) ở trú xứ của Thánh nhân này tức là tự viện, tên gọi là Cù-ma-bà-la-hương; vị trí của tự viện bên núi Ngưu Giác tại bờ sông Ngọc (Ngọc Hà). Căn cứ bản dịch Tây Tạng về Nhật tạng phần (Sūryagarbha) trong kinh Đại tập thì địa phương Địa Nhũ (Khustana, Vu-điền) ở nước Khư-sa (Khasa) có núi Ngưu Giác (Glau-ru) dài tới tận sông Cù-ma-đế (Gomati). Tại bờ sông, trên triền núi, tiên nhân Cù-ma-bà-la-hương cư trú (tham chiếu S. Lévi: Notes Chinoises Sur L’inde, 1897–1, bản đầu tiên, trang 40).
Kinh Chánh pháp niệm (xứ)39 nói rằng:
 

38 Nhật tạng phần (14) (Đại thừa đại phương đẳng nhật tạng kinh 10 quyển) - Đại phương đẳng đại tập kinh (60 quyển) 45, T13n397_p294b01.
39 Kinh Chánh pháp niệm xứ 67 (Cù-đàm-bát-nhã-lưu-chi [Trí Hi] dịch thời Nguyên Ngụy, 70 quyển), T17n721_p400c01.
 
“Lại có dòng sông thứ 2 tên là Cù-ma-đế, do có nhiều trâu nên gọi là Ngưu Hà. Sông thứ 2 này rộng nửa do-tuần, dài 300 do-tuần, chảy vào biển lớn.”
Cù-ma-đế là tên dòng sông được đơn cử thực tế. Chỉ kiều dị sĩ tập quyển 8 cũng có tên dịch của Ngưu Hà. Như trước đã dẫn, Pháp Hiển truyện từng nói: Tự viện lớn nhất của Vu-điền tên là chùa Cù-ma-đế, có 3.000 vị Tăng Đại thừa, là một ngôi chùa nổi tiếng. Tên chùa Cù-ma-đế là do dòng sông chảy dưới chân núi mà đặt tên. Hình như tên sông Cù-ma-đế và tên người Cù-ma-bà-la-hương có quan hệ với nhau. Vả lại nếu “Go” tiếng Phạn có nghĩa là trâu, thì tên Ngưu Giác Sơn cùng với tên sông (Gomati — Cù-ma-đế) e rằng cũng có liên quan. Sông Cù-ma-đế là sông Hắc Ngọc (Hắc Ngọc hà), còn Ngưu Giác Sơn thì chỉ cho ngọn núi trên bờ sông ấy. Ông Stein thám hiểm ở Hoà-điền, cho rằng núi Kohmari ngày nay, tức là núi Ngưu Giác thuở xưa. Khoảng giữa sông Hắc Ngọc và sông Bạch Ngọc có một mạch núi, phần giữa hai dòng sông chợt xuất hiện bình nguyên, đầu mối phía Bắc là núi Kohmari. Tại bờ phía Đông sông Hắc Ngọc đối diện với thôn Ujat, có một vách cắt cao 250 thước đứng sừng sững. Núi Kohmari này, từ ngoài quan sát thấy như hai ngọn núi đứng hướng về nhau, khớp với lời ngài Huyền Trang ghi “Hai ngọn núi khởi lên, núi cao ngất tuyệt lối bốn bề”. Trong hang giữa hai ngọn núi này, truyền thuyết nói là chỗ ở của tiên nhân Khōja Mahēb Khojam, có đền cổ tên Mazān, cách thủ phủ chừng 20 dặm. Lại ở đầu phía Nam ốc đảo sa mạc, chính là điều mà ngài Huyền Trang đã nói. Đời sau, kẻ tuẫn giáo (chết vì đạo) của Hồi giáo cũng ở chỗ này lập đền thờ, nên thời nay Hồi giáo ở Hoà-điền cũng rất tôn sùng núi Kohmari (Stein: Ancient Khotan, I. pp. 187, 189). Tiếng Ba-tư từ “Koh” có nghĩa là “Sơn”, từ “Mār” nghĩa là “Xà”, nên ông
Lévi cho là tên Xà Sơn, bởi dịch từ tên của Long vương “Grhapati Nāgaraja” (Lévi: Notes Chinoises sur L’Inde, p.40Nate). Nhưng tên Long vương trong Nhật tạng phần thuộc kinh Đại tập là Grhovadatta, chẳng phải Grhapati. Trong núi Kohmari, ông Grenard từng phát hiện ra hang đá được nhân dân Vu-điền sùng kính, đủ chứng minh lời ngài Huyền Trang nói rằng, núi Ngưu Giác có “thạch thất lớn” là chính xác.
Nói tóm lại, núi mà ngài Huyền Trang gọi là Ngưu Giác Sơn chính là núi Kohmari ngày nay, có thể xác định như thế. Năm 1892 Tây lịch, ở trong núi Kohmari, hai ông Dutreuil de Rhins và Grenard đã tìm thấy bản kinh Pháp cú tiếng Phạn viết bằng văn tự Kharosthi, rồi đưa về kinh đô nước Nga; kết quả nghiên cứu đã chứng minh là quyển kinh chép xưa nhất thế giới. Theo bản văn mà ngài Huyền Trang nói thì nguyên ngữ của tên Địa-ca-bà-phược-na có hai thuyết: Ông Julien cho là Dirghabhāvana (Julien: Memoires, II. 230); ông Watters cho là Tikabhavana (Watters On Yuan Chwang, II. 301). Bà-phược-na khớp với nguyên ngữ là Bhavana; nhưng từ Địa-ca chẳng phải là Dirgha của tiếng Phạn, nên thuyết của ông Julien rất khó được đồng ý. Nguyên do có tượng Phật ở bên trong chùa, trong truyền thuyết nói rằng: Quí tộc Vu-điền lưu trú ở nước Khuất-chi tạo pho tượng Phật này, giống với thuyết nói tượng Phật ở Khuất-chi đưa vào Vu-điền. Ở địa điểm mà ngài Huyền Trang chỉ định, ông Stein đã phát hiện nền hoang phế của ngôi chùa, tục truyền là nơi cư trú của vị thánh nhân Ali Pādshāh mà đến nay nhân dân còn tôn kính. Cái nền hoang phế cao chừng 20 thước, chính là nền của tự viện. (Stein: Ancient Khotan, I.225).
/75
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
🙏 Trợ Lý Phật Pháp AI »