IV. NHỮNG PHÁT HIỆN MỚI VỀ PHẬT SỬ QUI-TƯ
Qui-tư tuy thuộc vùng Tiểu thừa giáo, song Phật giáo Đại thừa rất có ưu thế. Gần đây, khai quật được những bản viết xưa ở Qui-tư, phát hiện thấy nhiều sử tích Phật giáo Đại thừa.
Năm 1890 Tây lịch, thượng úy Bower thu được bản viết cổ, ghi chép trên vỏ cây Hoa hình thức lá bối ở gần Kucha. Cũng từ địa phương này, Tuyên giáo sư F. Weber thu được mảnh kinh viết trên giấy. Theo kết quả nghiên cứu của R. Hoernle thì những kinh của vị trước là bản viết bằng văn Phạn, có liên quan đến kinh Khổng tước vương và dược pháp, chú pháp, bói toán…. Những thứ của vị sau là bản viết bằng văn Qui-tư, có quan hệ đến phương thuật y dược. Ông Hoernle đã phát biểu như thế trong The Bowen Manuscript và The Weber Manuscript (Jounn, Asiaticsoc, Bengal, LVII, 1, 1893). Những phát kiến ngẫu nhiên này đã khơi dậy cuộc vận động thám hiểm Trung Á. Ở đây lần lượt giới thiệu, phân biệt thành quả thám hiểm có liên quan đến vùng đất Qui-tư.
Năm 1905 đến 1907, cuộc thám hiểm lần thứ 2 của ông A. Grünwedel nước Đức (phát biểu trong Altbuddhistische Kultstätten in Chinessisch Turkistan và Alt-Kutscha). Năm 1906 đến năm 1908, lần thám hiểm thứ 2 của ông A. Stein nước Anh (phát biểu trong Serindia vol. III). Năm 1902 đến năm 1904 và năm 1908 đến 1909, cuộc thám hiểm lần thứ nhất, lần thứ 2 của ông Đại Cốc Quang Thụy người Nhật (phát biểu trong Tây Vực khảo cổ đồ phổ). Năm 1909, cuộc thám hiểm của S. Oldenburg (phát biểu trong Russkaja Turkestanskaja Ekspediclija). Năm 1913 đến năm 1914, cuộc thám hiểm lần thứ 2 của Le Coq nước Đức (phát biểu trong Diebuddhistische Spätantike Mittelasiens). Năm 1913 đến năm 1916, cuộc thám hiểm lần thứ 3 của ông A. Stein (phát
biểu ở In Central Asia). Kết quả những lần thám hiểm này, phát hiện thấy ngôn ngữ Qui-tư có liên quan đến ngôn ngữ ở Kucha và các vùng phía Tây nước Ôn Túc (Uch Tun Fam), Cô Mặc (Ahsu); ông F. W. K. Müller, Sieg, Siegling, Meillet v.v…. nhận định đây là ngôn ngữ Tocharian (Thổ-hóa-la – Tokhāni, Tochanisch, Le-Tokhanien). Trong khi ông E. Leumann, Basganisch, V. Smith lại cho là Shuplêspnache. Về sau, ông J. Kinste dựa vào trung tâm địa lý lưu hành của ngôn ngữ này, nói nó là ngôn ngữ Turfan (Tun Easnisch), nhưng ông S. Lévi lại nói là ngôn ngữ Qui-tư, Kuchean (Kautche’n), hệ thống ngôn ngữ ấy thuộc về Italo-Celtique trong ngôn ngữ Châu Âu, là khác biệt với Vu-điền ngữ tên là Spnache.
Ông P. Pelliot (Paul Pelliot) người Pháp, phát hiện thấy chứng thư thông hành viết bằng ngôn ngữ Qui-tư ở vùng gần Kucha, và trong quyển thông hành có tên quốc vương Swapnate - người trị vì lúc ngài Huyền Trang đi đến nước này. Căn cứ vào đây có thể biết, ngôn ngữ Qui-tư vẫn là ngôn ngữ thông dụng ở giữa thế kỷ thứ VII. Những kinh sách Phật viết bằng Qui-tư ngữ được phát hiện thấy có kinh Pháp cú Dharamapada (Udānavarga), kinh Đại Bát-niết-bàn Mahāparinivāna (Sakraprasna), kinh Cổ thành tỷ dụ Nagaropama-sūtra, kinh Bi hoa Karunāpundarika-sūtra, Phật đức tán thán kệ Varṇanārhavayaūanā, Thập tụng tỳ-kheo giới bản Prātimokṣa, Ba-dạ-đề Pāytai từ 71 đến 85, Thập tụng luật ba-dật-đề Prāyayascitika thứ 89 và thứ 90, và Ba-la-đề Đề-xá-ni Pnalidesániya thứ 1 và thứ 2, Thập nhị nhân duyên luận Pratīyasamutpāda-sāstra, Niệm xứ Smtyupasthāna v.v…
Theo bài tựa kinh Thiêm phẩm Pháp hoa (Thiêm phẩm diệu pháp liên hoa kinh) thì nguyên bản kinh Diệu pháp liên hoa của ngài La-thập dịch hình như là loại ngôn ngữ Qui-tư.
Tống cao tăng truyện quyển 326 có nói kinh văn Hồ và văn Phạn vẫn còn:
Kinh, luật Thiên Trúc truyền đến Qui-tư, Qui-tư chẳng giải được ngôn ngữ Thiên Trúc, gọi Thiên Trúc là nước Ấn-đặc-già, rồi dịch những kinh này ra tiếng Qui-tư, nếu chỗ nào dễ hiểu là do bảo tồn Phạn ngữ.
Căn cứ vào điều này có thể chứng minh là đầu thế kỷ thứ V Tây lịch, loại Phật điển này đương nhiên vẫn còn. Lại trong âm dịch của Phật điển Hán dịch, nói là viết âm tiếng Phạn, thật ra là viết âm tiếng Qui-tư. Ví dụ như: Sa-môn, tiếng Phạn là Śramaṇa, tiếng Qui-tư là Samañe. Sa-di, tiếng Phạn là Śrāmaṇera, tiếng Qui-tư là Sanmir. Ba-dật-đề, tiếng Phạn là Pāyattika, tiếng Qui-tư là Pāyti, những loại như vậy không kể hết được. Lại nữa, đối với từ ngữ dịch hai chữ “xuất gia”: tiếng Phạn là Pravrajyā, là tiến về trước, còn tiếng Qui-tư là Ostmamlalāe, hàm ý xuất gia. Còn từ “ngoại đạo”, tiếng Phạn là Mithyāelnsti, có ý là thấy sai; tiếng Qui-tư là Pannaññ, có nghĩa là ngoài. Từ “Diệt”, tiếng Phạn là Sama, Santi nghĩa là hòa, còn tiếng Qui-tư là Kes, hàm ý là dứt (dừng). Do đó những từ cú Hán dịch chẳng phải y theo nguyên bản tiếng Phạn dịch thẳng ra, mà nguyên bản tiếng Phạn dịch thành ngôn ngữ Qui-tư, hoặc thổ ngữ Trung Á trước. Thời kỳ đầu, các Cao tăng Tây Vực đến Trung Hoa truyền giáo, đã y chiếu vào Phật điển viết bằng những loại thổ ngữ này mà truyền dịch ra Hán ngữ. Nhân đó trong số Phật điển Hán dịch có nhiều kinh điển được dịch từ kinh điển tiếng Qui-tư, Vu-điền, cho đến Hồ ngữ v.v… chứ không phải dịch thẳng từ kinh điển Phạn văn. Điều này hiển nhiên là rất rõ.
26 Tống cao tăng truyện 3, T50n2061_p723c14.
Đồng thời, khi điều tra hang động, ông A. Grünwedel người Đức phát hiện thấy bích văn (văn khắc trên vách), viết bằng ngôn ngữ Tây Tạng. Quan sát bích văn ấy có thể biết đích xác những bích họa bên trong hang động từ đâu đến, vì khoảng thế kỷ thứ VIII Tây lịch, vùng đất này ngoài Phật giáo, lại có Ma-ni giáo và Mi-si-ya-pa (?) giáo truyền bá. Ngoài ra còn phát hiện nhiều thứ có quan hệ đến mỹ thuật, kiến trúc và các phương diện khác rất nhiều. Những phát hiện về ngữ văn Trung Á cổ đại ấy, không chỉ là tài liệu lịch sử quan trọng để nghiên cứu về sự phát triển của Phật giáo Tây Vực, mà còn là những tư liệu đáng giá để nghiên cứu về nhân văn địa lý học, địa lược học, ngôn ngữ học, nghệ thuật học ở vùng Trung Á, và giúp cho chúng ta hiểu rõ tình hình, thành quả hoạt động của Phật giáo vào thời kỳ trung cổ ở những địa phương ấy.