năm đầu niên hiệu Hoàng Sơ đời Ngụy Văn đế, đến năm đầu niên hiệu Nghĩa Ninh đời Tùy Cung đế (năm 220-617 Tl.), gồm 397 năm, hơn 390 năm này, vùng Trung Nguyên nhiễu nhương, không rỗi đâu mà toan tính đến vùng biên thùy. Các tộc vùng hiểm yếu phía Bắc như Tiên Ti, Nhu Nhiên, Đột-quyết, Thiết Lặc trỗi dậy, vùng “Thiên sơn bắc lộ” (con đường phía Bắc núi Thiên sơn) bị bộ tộc mạnh hơn tranh giành, các nước vùng “Thiên sơn nam lộ (đường phía Nam)” đều thần phục các tộc ở Bắc lộ. Đặc biệt, các dân tộc miền biên giới phía Bắc lúc nào cũng muốn nhảy lên ngựa tiến vào Trung Nguyên, chính là giặc thù ở biên giới đất Hán. Chung cuộc, Tiên Ti xuống phía Nam lập ra các nước Yến, Tần, Nam Lương, Hậu Ngụy; sau đó nhân nhà Tấn loạn mất, diễn thành cục diện Ngũ Hồ, mười sáu nước loạn Hoa, đây chính là thời kỳ hỗn hợp lớn của dân tộc Trung Hoa. Cục diện sau đó trở nên hỗn loạn hơn, các nước Tây Vực tuy muốn giao thông với Trung Quốc, nhưng bị các tộc mạnh cản trở nên khó đạt được nguyện vọng, thời kỳ này Trung Quốc tuy kinh doanh với Tây Vực, nhưng cục diện so với thời Hán thì không như thuở xưa.
I. SỰ TRỖI DẬY CỦA CÁC DÂN TỘC VÙNG BIÊN GIỚI PHÍA BẮC: TIÊN TI, NHU NHIÊN, ĐỘT-QUYẾT V.V....
Từ khi Ban Dũng5 nhà Hán miễn quan (bị cách chức) trở về sau, tình thế Tây Vực ngày càng bế tắc, tuy hung nô
5 Ban Dũng 班勇: Người An Lăng, Phù Phong (phía Đông bắc Hàm Dương, tỉnh Thiểm Tây ngày nay), thời Đông Hán, tự Nghi Liêu, con Ban Siêu. Năm đầu niên hiệu Nguyên Sơ, An đế (năm 107), Hung Nô phản loạn, ông nhậm chức Trưởng sử Tây Vực, bình được “Xa Sư” sáu nước, lại phát động các nước đánh Hung Nô, giữ được an bình vùng biên cương. Về sau ông bị hạ ngục, cách chức và mất tại nhà.