Tìm kinh sách
Vần A-Z:
Nghiên cứu Phật Giáo Tây Vực

Nghiên cứu Phật Giáo Tây Vực

Tác giả: Cư sĩ Tuệ Khai, Phụ chú: Thích Tâm Nhãn. Dịch giả: Cư sĩ Tuệ Khai, Phụ chú: Thích Tâm Nhãn. Năm xuất bản: 2011. Số trang: 604.

Chương 72: XIX. Nạp -Phược-BA (Trang 567 - 572)

ghi rằng: “Từ Thiện Thiện đi về phía Tây 1.640 dặm, đến thành Tả-mạt; trong thành dân cư có được 100 nhà…” Sách này viết tên thành là Tả-mạt, bởi vì Tả-mạt cùng Thả-mạt, Tự-mạt là dịch khác mà đồng âm. Xem lại tổng hợp những truyện trên, có thể biết Thả-mạt vốn là tên thành ở trong ốc đảo sa mạc; từ đời Hán cho đến thời đại Nam-Bắc triều là một thôn trấn; đến đời Đường thì đại suy, không có mấy người ở. Nhưng mà Cherchen ngày nay là trạng thái khôi phục từ đời Đường trở về sau.
XIX. NẠP-PHƯỢC-BA
Bản văn:54
“Lại đi về phía Đông bắc, hơn 1.000 dặm, đến nước cũ Nạp-phược-ba, tức là đất Lâu Lan.”
Khảo chứng: 
Cái tên Nạp-phược-ba chẳng thấy ở Chính sử Trung Quốc. Thời Hán Võ đế thông với Tây Vực gọi là Lâu Lan. Đến năm Nguyên Phụng thứ 4 đời Chiêu đế (năm 77 trước Tl.), đổi là Thiện Thiện. Thuỷ kinh chú dẫn thích thị Tây Vực ký nói rằng: “Nam hà chảy từ phía Đông Vu-điền tới phía Bắc 3.000 dặm, đến nước Thiện Thiện đổ vào biển Lao Lan”. Lao Lan cùng Lâu Lan, nếu xuất phát đồng một ngữ nguyên thì Lâu Lan hình như là do biển (tức là từ tên hồ) mà có tên nước. Biển Lao Lan là Lop Nor ngày nay, không có gì nghi ngờ nữa. Bởi Lâu Lan hoặc là từ tên xưa của Lop Nor chuyển hoá mà thành. Lop Nor xưa ở phía Bắc hồ ngày nay, nên lãnh thổ Lâu Lan nhất định là dải đất bờ Nam Lop Nor xưa.
 

54 Tây Vực ký 12, p945c14.
 
1. Nước Thiện Thiện đời Hán — Truyện Tây Vực trong Hán thư chép về Lâu Lan thời đại Võ đế:
“Nước Thiện Thiện vốn tên là Lâu Lan, nơi ngự trị của vua là thành Hãn-nê… có 1.570 hộ, gồm 14.100 nhân khẩu, binh hùng mạnh có 2.912 người… Đất đai cát mặn, ít ruộng, nên nhờ ruộng lúa nước bên cạnh. Nước sản xuất ngọc; nhiều lau lách, cây liễu, cây hồ đồng,55 bạch thảo (cỏ trắng). Dân theo nghề chăn súc vật, theo nguồn nước và cỏ. Có lừa ngựa, nhiều thứ khác.”
Thành Hãn-nê là thủ phủ của nước Lâu Lan, nhân khẩu 14.000 người, binh sĩ ước chừng đến 3.000 người. Nhân dân sống nghề du mục. Đời Hán Võ đế khuếch trương quân đội uy lực đến Tây Vực, Lâu Lan có người làm con tin (chất tử) ở Trung Quốc; đồng thời lại có một con tin ở Hung Nô; môi giới giữa hai cường quốc đều biểu lộ sự phục tùng. Đến khi quân Hán bức bách Hung Nô thì lòng họ gần với Hán mà phản Hung Nô. Năm đầu niên hiệu Chinh Hoà đời Võ đế (năm 92 trước Tl.), vua Lâu Lan chết, Hung Nô liền cho con tin về nước mà lập làm vua. Năm Nguyên Phụng thứ tư đời Chiêu đế (năm 77 trước Tl.), nhà Hán phát binh giết vua Lâu Lan, lập Uý-thự-kỳ, em của vua ấy là con tin của nhà Hán lên làm vua, đổi quốc hiệu là Thiện Thiện, đem cung nữ gã làm vương phi. Vua sợ thuộc hạ bè đảng của vua trước cùng người Hung Nô càng thêm nguy hiểm, mới xin cho binh đội Trung Quốc đến đồn trú bên trong đất nước để bảo hộ cho mình. Nhà Hán sai phái Tư mã56 một người, quan lại 40 người, đóng binh làm ruộng ở thành Y Tuần. Sau đó, Trung
 

55 Hồ đồng 胡桐: Tên khoa học Sesamum indicum, hoặc gọi cây Quỳnh nhai hải đường.
56 Tư mã 司馬: Chức quan võ, là đại thần chấp chánh quân sự.
 
Quốc phái thêm văn võ quan viên rất nhiều. Năm Kiến Võ thứ 14 (năm 38 Tl.) và năm thứ 21 đời Quan Võ đế thời Hậu Hán, Thiện Thiện có qua lại với Trung Quốc. Năm Vĩnh Bình thứ 16 đời Minh đế (năm 73 Tl.), Ban Siêu đi sứ Tây Vực, đến nước Thiện Thiện, được quốc vương gặp gỡ đón tiếp nồng hậu. Vài ngày sau, sứ giả Hung Nô đến, gặp Ban Siêu nên ngưng sự thông hoà. Ban Siêu biết tình hình ấy, tức thì đang đêm đốc suất bộ hạ của mình đánh úp sứ giả Hung Nô, giết hết bọn họ. Từ đó, nước Thiện Thiện thuộc về nhà Hán.
2. Nước Thiện Thiện đời Tấn — Thời Tam Quốc, 3 nước Tiểu Uyển, Tinh Tuyệt v.v… đều thuộc nước Thiện Thiện. Năm Hoàng Sơ thứ 3 đời Ngụy Văn đế (năm 222 Tl.), nước Thiện Thiện sai sứ đến Trung Quốc; năm Thái Khang thứ 4 đời Tấn Võ đế (năm 283 Tl.), lại thông hiếu với nhau. Đến khi thế nhà Tấn suy, lánh về Giang Nam, thì lãnh địa Phù Tần bao gồm luôn các vùng đất Giang Bắc; năm Thái Nguyên thứ 7 đời Hiếu Võ đế (năm 382 Tl.), nước Thiện Thiện sai sứ tới Phù Tần. Vào năm Hoàng Thỉ thứ 2 đời Diêu Tần (năm 400 Tl.), ngài Pháp Hiển từ Trường An xuất phát, đi đến lưu vực Tarim, vào nước Thiện Thiện, ký sự57 của ngài viết rằng:
“Nước Thiện Thiện, đất nước ấy gập gềnh không màu mỡ. Phong tục, con người, y phục phần lớn giống với đất Hán, nhưng dùng dạ, vải là khác. Quốc vương nước ấy phụng pháp, có thể có hơn 4.000 vị Tăng, đều là học phái Tiểu thừa. Những người tục và Sa-môn trong nước tu hành theo pháp của Thiên Trúc, nhưng có khác nhau. Từ đây đi về phía Tây, đi qua các nước đều như thế cả. Duy chỉ ngôn ngữ Hồ của từng nước là chẳng đồng, song
 

57 Cao tăng Pháp Hiển truyện 1, T51n2085_p857a19.
 
người xuất gia đều học tập sách Thiên Trúc, ngôn ngữ Thiên Trúc. Ngài trụ ở nước này một tháng.”
Thời ngài Pháp Hiển, nước Thiện Thiện có 4.000 vị Tăng Tiểu thừa, đủ thấy sự lưu hành của Phật pháp vậy.
3. Nước Thiện Thiện thời đại Hậu Ngụy — vào khoảng năm đầu niên hiệu Thái Diên, đời Thái Võ đế nhà Hậu Ngụy (năm 435 Tl.), đến năm Đại Thống thứ 8 nhà Tây Ngụy (năm 542 Tl.), nước Thiện Thiện sai sứ tới Ngụy 6 lần. Lạc Dương già-lam ký nói rằng “Lãnh thổ của con trai thứ vua Thổ-cốc-hồn, dân tộc Mông Cổ có cả nước Thiện Thiện”, đó là khoảng năm 430 hoặc 440 Tây lịch, nước Thiện Thiện ở dưới thế lực Thổ-cốc-hồn. Trong niên hiệu Thái Bình Chân Quân nhà Hậu Ngụy, Tự-cừ-an-châu chinh phạt Thiện Thiện, quốc vương là Tỷ Long sắp qui hàng thì may mắn có sứ giả đất Hán đi qua Thiện Thiện, liền viện trợ để chống cự An-châu, mới được tạm thời thoát khỏi. Thế tử của Tỷ Long lại theo An-châu làm phản Ngụy. Năm Thái Bình Chân Quân thứ 6 đời Thái Võ đế (năm 455 Tl.), Vạn Độ Qui đem 5.000 binh chinh phạt Thiện Thiện, bắt vua nước ấy rồi trở về. Sau đó nước Thiện Thiện trở thành nước bảo hộ của nước Ngụy.
Lời người dịch bản Hán (Kỷ Bân dịch từ Nhật sang Hán):
Trong các nước vùng Tây Vực, Vu-điền là quốc gia có quan hệ mật thiết nhất với Trung Quốc. Đất ấy chính là con đường giao thông thông suốt giữa Đông và Tây, đồng thời cũng sớm hấp thu ba nền văn hoá khác nhau: Ấn Độ, Iran và Trung Quốc. Rồi hình thành một thứ văn minh mới, trở thành trung tâm văn hoá Tây Vực, như cửa ải chính cho hai nền văn hoá Đông-Tây giao lưu nhau.
Phật giáo ở Bắc Ấn Độ, một khi truyền vào Vu-điền liền hình thành một chiếc cầu nối, giúp cho Phật giáo phát triển ra bên ngoài một cách toàn diện; từ nước này mà phổ cập tới các nước Tây Vực, rồi lại truyền vào lãnh thổ Trung Quốc và các dân tộc phương Đông. Kinh điển Đại thừa bản Phạn hiện hành như Bát-nhã, Hoa nghiêm v.v… phần nhiều là từ Vu-điền. Cho nên trước tác của các học giả Đông-Tây liên quan đến nghiên cứu Vu-điền rất nhiều.
Trên vấn đề nghiên cứu Vu-điền, chung qui chia làm hai phái: một là do ông Stein người Anh làm đại biểu, chú trọng đến khảo cổ học, tìm tòi những cổ vật; một phái khác do ông Quật Khiêm Đức người Nhật làm đại biểu, chuyên nghiên cứu những thư tịch, sách vở xưa và kinh điển Hán dịch, rồi thêm vào những phát hiện về khảo cổ học, thành loại nghiên cứu so sánh tổng hợp. Trước tác nổi tiếng của ông Stein là Cổ Vu-điền sử, trước tác nổi tiếng của ông Quật Khiêm Đức là Giải thuyết Tây Vực ký.
Vào năm Minh Trị thứ 45, ông Quật Khiêm Đức đem kết quả nghiên cứu liên quan đến Vu-điền, diễn giảng tại buổi họp thường lệ ở hội Sử Học Nhật Bản (ngày 23 tháng 3); cùng năm đó ông đăng bài “Vu-điền khảo” trong Sử học tạp chí số thứ 5, thiên thứ 23. Về sau ông bổ sung thêm, rồi đưa vào tác phẩm Giải thuyết Tây Vực ký, là bài thứ 15 “nước Cù-tát-đán-na” (trong Đại Đường Tây Vực ký quyển thứ 12, trang 992-1054). Thiên khảo luận trên là dịch từ tác phẩm ấy. Vì muốn làm nổi bật ý nghĩa nội dung nên đổi là Khảo cứu nước Vu-điền.
Thể tài sách Giải thuyết Tây Vực ký của ông Quật Khiêm Đức là phép chia cắt giải thích, tức là đem nguyên văn Tây Vực ký của ngài Đường Huyền Trang cắt ra thành từng đoạn, rồi theo đó mà giải thích và khảo chứng nên mỗi đoạn đều có 3 phần: a. bản văn, b. giải thích, c. khảo chứng. Xét ra thì phần khảo chứng là ý kiến chính diện của Tác giả, tức là một phần tinh hoa; bản văn là bày ra văn bản để Tác giả căn cứ phát biểu ý kiến; hai điều này khó cắt bỏ. Duy chỉ phần giải thích là Tác giả đem nguyên văn Tây Vực ký dịch ra Nhật văn, để tiện cho độc giả người Nhật xem, còn đối với độc giả Trung Quốc thì rất bình thường. Cho nên ngoại trừ những chỗ quan trọng thì chú thích dịch vào, còn lại đều san định bỏ đi.
                           Hoàn tất bản dịch Việt ngữ vào buổi chiều, ngày 25 tháng 2 năm 2003.
                                                             Nghinh phong Tiểu Các
                                                               Mạnh xuân Quí Mùi
                                                                 Tuệ Khai Cư sĩ

 
            Ban biên tập “Pháp tạng Phật giáo Việt Nam”
    hiệu chỉnh xong lần cuối, ngày 17 tháng 10 năm 2010
               (ngày mùng 10 tháng 9 năm Canh Dần)
/75
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
🙏 Trợ Lý Phật Pháp AI »