Tìm kinh sách
Vần A-Z:
Nghiên cứu Phật Giáo Tây Vực

Nghiên cứu Phật Giáo Tây Vực

Tác giả: Cư sĩ Tuệ Khai, Phụ chú: Thích Tâm Nhãn. Dịch giả: Cư sĩ Tuệ Khai, Phụ chú: Thích Tâm Nhãn. Năm xuất bản: 2011. Số trang: 604.

Chương 38: II. Phật Giáo Cao Xương (Trang 383 - 402)

thống lãnh quản hạt. Từ đó trở về sau, Phật giáo Sơ-lặc bị đoạn diệt cả gốc rễ lẫn thân cành!
II. PHẬT GIÁO CAO XƯƠNG
Nước Cao Xương từ thời Hán đến thời Ngụy đều gọi là Xa Sư Tiền Quốc (hoặc gọi là Xa Sư Tiền Bộ, Xa Sư Tiền Vương Đình), thành Giao Hà trong nước ấy là Yar-Khoto ngày nay. Lãnh thổ của Cao Xương tận đến đất Turfan và bao quát cả miền Đông Pidjan ngày nay (O. Franke: Ein Chinesischen Tempelinschrift aus Idikutsahri, S. 30), núi lớn vây bốn phía, địa thế rất hiểm trở. Khí hậu ôn hòa ấm áp, thu hoạch lúa và lúa mì một năm hai vụ, thích hợp nuôi tằm, nghề trồng bông vải, đất đai phì nhiêu (Quốc hiệu Cao Xương, sách Ngụy thư quyển 100). Từ đời Hán trở lại là nơi chủ yếu giao tranh giữa dân tộc Trung Hoa và các dân tộc phương Bắc, nên vùng Xa Sư Tiền Vương Đình rơi vào khoảng giữa hai đại cường quốc là Trung Hoa và Hung Nô. Có lúc họ nghiêng về Hán, có lúc nghiêng về Hung Nô để duy trì mạng mạch của đất nước mình. Cuối cùng, đến thời Tấn lại thuộc về Trung Quốc và quy hoạch thành quận Cao Xương. Lữ Quang, Mông-tốn khi chiếm cứ Hà Tây đều đặt quan Thái thú để thống trị ở đó. Như tên Cao Xương, từ cuối đời Văn Thành Đế nhà Bắc Ngụy (năm 452-465 Tl.), dân tộc Nhuyễn Nhuyễn hưng khởi, Cao Xương bị xâm lược, trong phạm vi thế lực của mình, họ lại đổi quận Cao Xương thành ra nước Cao Xương, lập Hám Bá Châu làm vua. Đến năm Thái Hòa thứ 5, đời Hiếu Văn đế (năm 481 Tl.), Hám vương (Thủ Quy) giết vua Cao Xa là A-phục-chí-la, Trương Mạnh Minh người Đôn Hoàng lên thay làm vua, rồi lại bị người trong nước giết chết mà lập ra Mã Nhu; sau đó lại bị dân giết chết, đưa Tả hữu trưởng sử là Khúc Gia lên làm vua. Nước Cao Xương dần dần có thể đứng vững.
 
Còn nguồn gốc tên nước Cao Xương, căn cứ việc truyền lại trong Ngụy thư thì có hai thuyết: hoặc do địa thế nước ấy cao rộng, bằng phẳng, dân tộc giàu có hưng thịnh nên tên là Cao Xương; hoặc do đất này là thành lũy Cao Xương của thời Hán, mà nhân đó đặt tên. Đô thành xưa của nước này đã thành ngôi thành cũ hoang phế gần vùng Hodja, tức là di tích Idikutsahri ngày nay (O. Franke: Ein Chinesischen Tempelinschrift, S. 20). Thời Hán, lãnh địa do Xa Sư Tiền Vương Đình cai quản, gọi chung có tám thành, nhưng nay không thể khảo tra được.
Vậy việc truyền bá Phật giáo vào nước này bắt đầu ở thời nào, thật khó nói chính xác được. Nhưng khi nước ấy xưng là Xa Sư Tiền Bộ thì trong nước đã lưu hành Phật giáo rồi. Vào hạ bán thế kỷ thứ IV, Phật giáo đã trở thành quốc giáo, thời ấy nhằm năm Kiến Nguyên thứ l8 (năm 382 Tl.), vua Xa Sư Tiền Bộ là Di-đệ, khi đến triều cống Phù Tần, quốc sư nước ấy là Cưu-ma-la-bạt-đề (Kumarabhadra?) đã hiến một bộ kinh Đại Bát-nhã (bản Phạn), có thể khảo sát thấy được. (Căn cứ trong bài tựa sao kinh Ma-ha bát-la-nhã-ba-la-mật của ngài Đạo An, Xuất tam tạng ký tập quyển 8).
Việc đương thời vua Xa Sư Tiền Bộ đến triều yết Phù Tần thì truyện Phù Kiên trong Tấn thư quyển 114 chép: Năm Thái Nguyên thứ 7, đời Hiếu Võ đế (năm 382 Tl.), vua Xa Sư Tiền Bộ là Di-trí cùng vua nước Thiện Thiện là Hưu-mật-đà triều phụng chung, Phù Kiên dẫn họ đi xem ở Tây đường, Di-trí… thấy cung điện tráng lệ, dáng vẻ uy nghi, trang nghiêm, rất đáng kiêng sợ, mới xin hằng năm cống hiến. Phù Kiên thấy đường sá xa xôi cách trở, chẳng hứa cho, mà theo lệ 3 năm một lần cống, 9 năm một lần chầu, làm định chế lâu dài.
Tấn Thư đã chép chữ Trí (寘 T’in) của Di-trí — tên vị vua này cùng với chữ Đệ (第 Ti) của Di-đệ thì phải là đồng âm, thật ra là một người, mà niên đại đến chầu ở hai truyện cũng giống nhau. Hai người đó quả thật là một người, không còn hoài nghi nữa. Vậy hậu bán thế kỷ thứ IV, Di-trí làm vua nước Xa Sư Tiền quả thật là một tín đồ Phật giáo, tôn Sa-môn Cưu-ma-la-bạt-đề làm quốc sư. Kinh điển bản Phạn của ngài Cưu-ma-la-bạt-đề hiến tặng cho Phù Kiên là một bộ kinh Đại phẩm, gồm 552.475 lời. Vậy đối với việc tìm kiếm, chúng ta có thể biết đương thời Xa Sư Tiền Bộ đã lưu hành Đại thừa giáo hay không là chẳng khó.
Thời Tấn, Xa Sư Tiền Bộ mất, đổi thành quận Cao Xương, Mông-tốn từng ở đây, đặt quan Thái thú thống lĩnh cai trị đất đó. Thời Bắc Lương, có vị Sa-môn tên là Pháp Chúng ở đô thành Trương Dịch, nhân lời di chúc của Mông-tốn, ngài dịch kinh Phương đẳng đàn đặc đà-la-ni, 4 quyển (theo Xuất tam tạng ký tập quyển 2) — Khai Nguyên lục quyển 4 và trong Bảo Xướng kinh lục cho rằng, ngài dịch kinh đó ở quận Cao Xương, nhưng chưa rõ trong hai thuyết đó, thuyết nào là đúng. Lại nữa, em họ của Mông-tốn là Tự-cừ-kinh-thanh ở quận Cao Xương, từng dịch kinh Quán Di-lặc bồ-tát sinh Đâu-suất thiên, kinh Quán Thế Âm quán, mỗi kinh đều 1 quyển. Sau đó mang đến Kiến Nghiệp (Xuất tam tạng ký tập quyển 2). Hai quyển kinh này đều không nói rõ là chuyển dịch từ ngôn ngữ nào, các Kinh lục cũng chẳng rõ, đại khái là thổ ngữ ở nước Cao Xương. Theo bài ký kinh Đại niết-bàn trong Xuất tam tạng ký tập quyển 8,11 do ngài Đàm-vô-sấm dịch ở Bắc Lương, đầu tiên nhất là bản bằng tiếng Hồ (Hồ bản), gồm 5 phẩm 10 quyển, được ngài Trí Mãnh từ Ấn
 

11 Xuất tam tạng ký tập 8, T49n2034_p60a10.
 
 Độ mang đến. Lúc ngài Trí Mãnh dừng bước ở Cao Xương, Mông-tốn từng sai sứ tìm kiếm ngài.
Theo truyện Đàm-vô-sấm trong Lương cao tăng truyện quyển 2, cho rằng nguyên bản bộ trước của kinh Đại niết-bàn được vị ấy từ nước mình là Trung Ấn Độ mang đến. Cuối cùng thuyết nào là đúng đều không phân biệt được. Phần cuối của bài ký kinh Đại niết-bàn, Tăng Hựu ghi rằng:12 “Hựu tìm bài tựa này cùng truyện của pháp sư Lãng và pháp sư Sấm thấy có bất đồng nho nhỏ, chưa rõ ai chính xác, nên lại đề xuất cả hai.” Vậy nguyên bản kinh Đại niết-bàn bộ trước gồm 10 quyển, có phải do ngài Trí Mãnh mang đến hay không vẫn còn nghi vấn.
Ngài Trí Mãnh từ Ấn Độ trở về nước, giữa đường đã dừng ở Cao Xương, việc này chắc chắn là sự thật. Lúc bấy giờ Cao Xương có một vị Sa-môn tên là Pháp Thịnh, năm 19 tuổi, tịnh tâm tu phạm hạnh, gặp ngài Trí Mãnh, nghe đủ những sự tích linh dị ở các nước Ấn Độ, liền lập chí cùng với thầy bạn gồm 29 người đi đến đất Ấn Độ xa xôi, rồi vào Bắc Lương trước tác kinh Bồ-tát đầu thân ngạ hổ khởi tháp nhân duyên 1 quyển, lại kinh ấy truyền 4 quyển (xem Danh tăng truyện sao, Khai Nguyên lục quyển 4).
Còn có ngài Pháp Lãng và ngài Tăng Tuân, đệ tử của Sa-môn Pháp Tiến (hoặc gọi là Đạo Tiến, hay Pháp Nghinh) ở Lương Châu, vốn được Mông-tốn và con ông ấy là Cảnh Hoàn tôn trọng, cũng là Cao tăng đương thời, đều là người Cao Xương. Truyện cho rằng: Lúc thiếu thời, Pháp Lãng tinh chuyên cần khổ “sáng ngầm đức giấu, người không dò được ngôi thứ của ông ấy.” Từ đời Võ đế thời Bắc Ngụy diệt Phật
 

12 Xuất tam tạng ký tập 8, p60b1.
 
giáo trở về sau, ông đi đến nước Quy Tư, được sự ưu đãi của quốc vương, rồi sau chết ở nước ấy. Ngài Tăng Tuân cũng ăn uống đạm bạc, sống tiết hạnh, giỏi luật Thập tụng, tụng các kinh Đại thừa như Pháp hoa, Thắng Man, Kim cương, Bát-nhã v.v… Ngài lại thường dốc lòng khích lệ môn nhân siêng năng sám hối (xem Lương cao tăng truyện quyển 15: truyện Pháp Tiến, quyển 10: truyện Pháp Lãng, quyển 12: truyện Tăng Tuân).
Lại có Sa-môn Đạo Phổ, cũng là người Cao Xương. Nhân muốn cầu ngài Đàm-vô-sấm phiên dịch bộ sau kinh Đại niết-bàn, ngài Tuệ Quán ở chùa Đạo Tràng mới tâu xin vua Tống Thái Tổ Văn đế cung cấp tài dụng, lệnh cho ngài Đạo Phổ cùng 10 người (quan) Thư lại đi về phía Tây. Đi đến quận Trường Quảng, thuyền bị vỡ, chân ngài bị thương rồi bệnh mà mất. Ngài Đạo Phổ từng trải khắp các nước miền Tây Vực, tuần du lễ bái di tích di vật của đức Phật, giải được sách tiếng Phạn, thông hiểu ngôn ngữ 6 nước (xem truyện ngài Đàm-vô-sấm trong Lương cao tăng truyện quyển 2 và đồng truyện ở sách Xuất tam tạng ký tập [quyển 14]).
Ngoài những vị này, còn có Sa-môn Pháp Tự, ở Tây Thục, tinh chuyên thiền định, tụng kinh, cùng Sa-môn Trí Lâm, đệ tử của ngài Đạo Lượng trước tác Thành thật luận nghĩa sớ 8 quyển, đều là người Cao Xương.
Ngài Trí Lâm tinh ròng với Tạp tâm (luận), thời Minh đế nhà Tống, ngài đến Trường An nói pháp ở chùa Linh Cơ. Căn cứ những sự thật lịch sử này, thấy ở tiền bán thế kỷ thứ V Tây lịch, Phật giáo Cao Xương chắc chắn rất phát triển. Vả lại, Sa-môn nước ấy lại phần nhiều đi đến Ấn Độ xa xôi để tuần du lễ bái linh tích. Vậy nước ấy đối với tín ngưỡng Phật giáo không thể gọi là không thịnh hành!
Lại có hai vị Sa-môn ở Lương Châu là Đàm Học và Uy Đức,13 lúc nước Vu-điền cử hành đại hội Ngũ niên (5 năm), đã ghi chép diễn, giảng trong hội và năm Nguyên Gia thứ 22 nhà Tống (năm 445 Tl.), lại ở Cao Xương biên tập (hoặc phiên dịch) kinh Hiền ngu 13 quyển (căn cứ bài Hiền ngu kinh ký do Tăng Hựu soạn chép trong Xuất tam tạng ký tập quyển 2, quyển 9). Vậy lúc bấy giờ, Phật sự của Sa-môn ở Cao Xương thường được bảo hộ đầy đủ, điều này có thể nghĩ ra.
Khoảng năm 465 Tây lịch, sau khi bị Nhu Nhu chinh phục đổi tên là Cao Xương, Phật giáo càng hưng thịnh hơn, vì dân tộc Nhu Nhu cũng là tín đồ Phật giáo. Chương trước đã nói rõ điều này. Cao Xương đã rơi vào phạm vi thế lực của tộc ấy thì Phật giáo nhất định được họ ủng hộ, không gì nghi ngờ nữa. Nhưng ở mục nước Cao Xương trong truyện Tây Vực sách Ngụy thư (dịch giả Hán văn [Hạ Xương Quần] tra cứu là Bắc sử) viết rằng: “Tục thờ Thiên thần, tin cả Phật pháp”, có vẻ nhân dân cũng tín ngưỡng ngoại đạo rất thịnh. Năm Vĩnh Minh thứ 8, đời Tề Võ đế (năm 490 Tl.), ngài Đạt-ma-ma-đề dịch Diệu pháp liên hoa kinh Đề-bà-đạt-đa phẩm.14 Lời văn trên căn cứ trong truyện Pháp Hiến, Lương cao tăng truyện quyển 13, cho rằng: Khi ngài Pháp Hiến Tây du, thỉnh được kinh này ở Vu-điền, mà Kinh lục của ngài Tăng Hựu thì cho kinh này do ngài Pháp Hiến tìm
 

13 Xuất tam tạng ký tập 9, p67c: “…Hà Tây Sa-môn Thích Đàm Học, Uy Đức v.v… tất cả tám người, kết chí du phương tìm cầu kinh điển 河西沙門釋曇學威德等. 凡有八僧, 結志遊方遠尋經 典 …”
14 Theo Xuất tam tạng ký tập 2, p13b, Lịch đại tam bảo kỷ 6, T49n2034_p536a v.v… ghi: Diệu pháp liên hoa kinh Đề-bà-đạt-đa phẩm đệ thập nhị (nay thiên này nhập vào kinh Diệu pháp liên hoa 5 [4]), 1 quyển.
 
được tại Cao Xương (Xuất tam tạng ký tập quyển 2). Còn ngài Trí Thăng nói chưa biết chính xác của ai (xem Khai Nguyên lục quyển 6), hoặc là phẩm Đề-bà-đạt-đa này từng lưu hành ở Cao Xương cũng chưa biết chừng. Nếu vậy thì nước này sớm đã có nhiều thứ kinh luận Đại thừa truyền đến.
Thời Tề, nước này có vị Cao tăng Pháp Huệ, hoằng tuyên kinh, luật, kẻ đạo người tục đều quy kính ngài. Ngài Pháp Huệ ban đầu đến nước Quy Tư xuất gia, tu học thiền, luật và trở lại Cao Xương trụ ở chùa Tiên Quật, giáo hóa dẫn đường cho dân chúng. Lại theo lời khuyên của Ni Phùng chùa Đô Lang Trung, đi đến Quy Tư, theo ngài Trực Nguyệt, ngộ đạo rồi trở lại bổn quốc theo sự nghiệp truyền giáo. Khoảng niên hiệu Vĩnh Nguyên nhà Tề (năm 499-500 Tl.), ngài thị tịch, không bệnh tật gì (căn cứ Danh tăng truyện). Vị Cao tăng Trực Nguyệt của Quy Tư tu hành pháp mà ở Trung Quốc gọi là Đạt-ma thiền. Ngài Pháp Huệ đã thọ giáo pháp ấy thì đương nhiên ngài cũng hoằng dương Thiền phong ở Cao Xương.
Vị vua Cao Xương tại vị ở tiền bán thế kỷ thứ VI cũng là người tận lực hưng long Phật giáo. Vào cuối thời Bắc Ngụy, nhà vua sai Sa-môn Tuệ Tung vào đất Ngụy học tập Phạn ngữ. Ngài Tuệ Tung theo ngài Trí Du hết lòng nghiên cứu Tỳ-đàm, Thành thật. Ngài rất thông bác nghĩa uyên áo của những luận ấy. Người đương thời gọi ngài là “Khổng Tử Tỳ-đàm”, danh tiếng lẫy lừng. Nhà vua triệu ngài trở về nước, ngài không chịu, nói rằng: “Sự bác đạt nghĩa lý của tôi chẳng phải là vốn liếng của vùng biên thùy hèn kém”, rồi chuyên tâm hoằng dương giáo pháp ở đất Nghiệp (thuộc Tây nam huyện Lâm Chương, phủ Chương Đức, tỉnh Hà Nam). Vua Cao Xương lại mời ngài về, ngài cũng không về, vua liền giết hết ba họ của ngài. Từ việc này mà thấy, tấm lòng vua Cao
Xương khao khát muốn khôi phục hoằng dương Phật giáo mãnh liệt như thế nào.
Ngài Tuệ Tung vốn là người Tiểu thừa học, nhưng cũng giảng thuyết các luận Địa trì, Thập địa…. Ngài Bảo Cung từng thỉnh ngài chỉ bảo. Sau đó ngài không trở lại bổn quốc mà dời về Từ Châu (Từ Châu ở Giang Tô), trong niên hiệu Thiên Bảo (năm 550-559 Tl.) ngài tịch ở đất ấy (tham duyệt truyện Tuệ Tung trong Tục cao tăng truyện quyển 7, truyện Chí Niệm và truyện Bảo Cung trong Tục cao tăng truyện quyển 11). Ngài Tuệ Tung chẳng đáp lại sự triệu hồi của vua nước ấy, nói rằng: “Sự bác đạt nghĩa lý của ta chẳng phải là vốn liếng của vùng biên thùy hèn kém”. Căn cứ vào lời này mà suy đoán thì lúc bấy giờ Phật giáo nước Cao Xương đối với việc giải thuyết giáo nghĩa hình như không phát triển lắm. Ngài Tuệ Tung khi chưa đi khỏi nước, sở học của ngài là Tiểu thừa giáo, nên nghiên cứu về giáo lý ở Cao Xương lúc đó phải là Tiểu thừa giáo. Do vậy mà đến năm 1902–1903, ông A. Grünwedel người Đức,  khi thám hiểm ở vùng Tân Cương gần Idikutsashri, phát hiện thấy 11 bộ kinh Tạp A-hàm bản chữ Phạn.
Thời kỳ đầu thế kỷ thứ VI Tây lịch, lúc vua Khúc-gia tại vị, như trước đã thuật, với thanh uy rất đầy đủ, lãnh thổ Cao Xương cũng rất rộng lớn, các nước chư hầu như Kucha, Yên Kỳ đều ở trong phạm vi thế lực của nước ấy; đồng thời sai sứ đi Trung Quốc cầu thỉnh Ngũ kinh, Chư sử, nỗ lực thâu nhập văn hóa Trung Hoa. Con vua ấy là Kiên, cũng tận lực khuếch trương thế lực đất nước, thâu nạp văn vật Trung Hoa, trước nhất chiếm cứ 16 thành, chẳng bao lâu lại chiếm thêm 18 thành, và trong vương thất cho treo tượng vua Lỗ Ai Công hỏi việc chính trị với Khổng Tử, “Phong tục chính lệnh của nước ấy cùng Hoa Hạ đại lược đồng nhau, binh khí có cung,
tên, đao, thuẩn, giáp, giáo dài; văn tự cũng giống với Hoa Hạ, kiêm sử dụng chữ viết Hồ, có Mao thi,15 Luận ngữ, Hiếu kinh, đặt chức Học quan đệ tử để dạy trao nhau, tuy tập đọc những sách đó nhưng đều là Hồ ngữ…. Hình pháp, phong tục, hôn nhân, ma chay cùng với Hoa Hạ tiểu dị mà đại đồng.” (truyện Cao Xương, Bắc sử quyển 97).
Vậy là chính trị, giáo dục, phong tục v.v… của nước này đều bị Hoa hóa. Do đó, năm 589 Tây lịch, vị Sa-môn Nam Ấn Độ là Đạt-ma-cấp-đa đi qua các nước vùng Bắc đạo (con đường giao thông phía Bắc) rồi đến Cao Xương, dạo thăm các chùa, cho rằng: phần nhiều Tăng lữ nước này đều học tập Hán ngôn. Ngài Cấp-đa lưu lại đây 2 năm mà chưa từng có giảng thuyết (Tục cao tăng truyện quyển 2). Có thể biết, lúc bấy giờ Tăng đồ nước ấy đều học tập tiếng Hán, ít thông Phạn ngữ. Nhưng vị đó có thể dừng lại nước này lâu đến 2 năm thì Phật giáo Cao Xương lúc bấy giờ nhất định cũng như Sơ-lặc, Quy Tư đều trong thuận cảnh, sự cúng dường sùng kính Tăng đồ rất thành kính. Năm 590 Tây lịch, Đột-quyết đến xâm lược, phá được bốn thành, người dân chạy trốn sang đất Hán, chứng cứ nói có đến hai ngàn người. Vua Kiên mất đột ngột, con là Bá Nhã lên ngôi vua. Năm Đại Nghiệp thứ 5 (năm 609 Tl.), Bá Nhã vào chầu nhà Tùy, theo Dương đế đánh Cao Ly, trở về cưới công chúa Hoa Dung (con gái của Vũ Văn Thị). Căn cứ truyện Tuệ Thừa trong Tục cao tăng truyện quyển 24, Tuệ Thừa phụng mệnh lệnh của Dương đế đi đến Trương Dịch, đặc biệt vì dòng họ Khúc, vua nước Cao Xương tức là Bá Nhã, giảng kinh Kim
 

15 Mao thi 毛詩: Học phái cổ văn Kinh thi thời Hán. Tương truyền do Mao Hanh, người Lỗ (nay vùng huyện Khúc Phụ tỉnh Sơn Đông ngày nay) và Mao Trường, người Triệu (nay là tỉnh Hà Bắc) (chú giải Kinh thi) truyền lại, nên gọi là Mao thi.
 
quang minh. Đương thời, Bá Nhã dùng tóc trải ra đất, thỉnh ngài Tuệ Thừa đạp lên đó mà đi, như thế có thể chứng minh được sự sùng tín Tam bảo của Bá Nhã. Thời Bá Nhã, có lẽ Phật giáo Cao Xương vì được ông ấy bảo hộ nên rất hưng thịnh.
Đầu đời Võ Đức (khoảng năm 618 Tl.), Bá Nhã mất, con là Văn Thái lên thay, cũng là người rất sùng tín Phật giáo, trong Từ Ân truyện quyển 1 có ghi lại việc đó. Khi ngài Huyền Trang Tây du, dừng ở Y Ngô, vua nghe được, lập tức nội ngày sắc chỉ sai sứ bảo vua Y Ngô đưa Pháp sư lại, đồng thời lệnh cho quý thần nghênh đón Pháp sư vào vương thành. Lúc gà gáy Pháp sư vào vương thành, vua cùng người hầu sắp xếp đèn đuốc trước sau, tự mình xuất cung đón rước Pháp sư vào hậu viện, ngồi trong bảo trướng một ngôi trùng các, rồi lễ bái hỏi han rất nồng hậu: “Đệ tử tự nghe danh tiếng của thầy, vui mừng đến quên ăn bỏ ngủ, theo đường đi lượng định, đêm nay thầy nhất định đến, nên cùng vợ con đều không ngủ, đọc kinh kính đợi thầy”. Trong giây lát thì vương phi cùng với vài mươi thị nữ lại đến lễ bái. Sáng ngày mai, nhà vua lệnh từ hậu phi trở xuống đều đến lễ bái và thăm hỏi. Nhà vua nói rằng: “Đệ tử nghĩ ngợi, đường sa mạc gian nan, hiểm trở, thầy có thể một mình đi đến, rất là kỳ lạ vậy”, rồi rơi nước mắt, ngợi khen chẳng ngớt lời.
Ngài Huyền Trang nhận sự đãi ngộ, ưu ái của nhà vua, dừng lại hơn mười ngày, rồi muốn từ giã ra đi. Nhà vua kiên quyết thỉnh ngài chớ đi Tây, nói rằng: “Định thầy đến ở nhận sự cúng dường của đệ tử cho trọn một đời, khiến cho cả nước đều là đệ tử của thầy. Mong thầy giảng giải, dạy bảo Tăng đồ, tuy ít nhưng cũng có đến vài ngàn, và sai họ giữ kinh điển sung vào thính chúng của thầy. Nguyện xin thầy nhận lấy tấm lòng nhỏ mọn của trẫm, đừng màng đến chuyện đi Tây nữa”.
Ngài Huyền Trang thành kính đa tạ hậu ý của nhà vua, nhưng nói: Việc đi này là để cầu đại pháp, thề nhất định phải đi Tây. Nhà vua vẫn cố lưu ngài lại, chẳng cho đi Tây. Ngài Huyền Trang vẫn quyết chí, nên không ăn uống ba, bốn ngày, hơi thở yếu dần. Nhà vua vừa thẹn vừa sợ, cúi đầu lễ tạ, thề để cho Pháp sư đi Tây, đồng thời khẩn cầu ngày khi trở về nước, xin thỉnh ngài ở lại nước này ba năm, nhận sự cúng dường của mình. Nếu tương lai thành Phật thì vua nguyện như vua Ba-tư-nặc (Prasenajit), vua Tần-bà-sa-la (Bimbisāra) v.v… Nhà vua xin làm đàn-việt ngoại hộ, thỉnh Pháp sư ở lại trọn một tháng để giảng kinh Nhân vương bát-nhã. Ngài Huyền Trang đều hứa cả. Mỗi khi đến buổi giảng, đích thân vua bưng lư hương, tự đến rước dẫn, đưa lên pháp tòa, nhà vua lại quỳ thấp xuống làm bậc cho Pháp sư bước lên. Giảng xong kinh, vua cho pháp sư độ bốn vị Sa-di để bổ sung làm người hầu, lại chế 30 bộ pháp phục và hơn 20 kiện, gồm mũ vải bông, áo lông cừu, đệm lông, giày ủng, bít-tất v.v…, 100 lạng hoàng kim, ba vạn tiền bằng bạc, năm trăm xấp lụa là v.v…, lại thêm 30 con ngựa, 25 người có sức mạnh, sung vào việc sử dụng cho Pháp sư đi Tây. Đồng thời sai Điện trung thị ngự sử là Hoan Tín đưa đến nha sở của Diệp Hộ Khả Hãn, lại làm 24 phong thư thông qua 24 nước, như nước Khuất-chi v.v… mỗi nước mỗi một phong thư, khẩn xin họ bảo hộ Pháp sư. Vào ngày xuất phát, vua cùng chư Tăng, đại thần, bá tánh v.v… hiệp hết cả đô thành tiễn đưa ra phía Tây thành. Nhà vua bắt đầu rơi lệ, đạo tục đều buồn bã, tạm biệt ngài. Nhà vua lệnh cho hậu phi và bá tánh v.v… trở về, tự ngài cùng hàng Đại đức trở xuống đều cưỡi ngựa tiễn đưa vài mươi dặm mới quay về.
Căn cứ sự thật này có thể biết, đương thời vua Văn Thái nước Cao Xương dốc lòng tin Tam bảo, hết sức duy trì và
ủng hộ. Theo lời nói lúc bấy giờ của vua đối với ngài Huyền Trang thì rõ ràng nước này có Tăng đồ đến vài ngàn người. Trong số ấy có người từng du học Trường An, như Thoáng pháp sư là vị Cao tăng thông hiểu pháp tướng; lại có Quốc Thống Vương pháp sư, hơn tám mươi tuổi, đều được quốc vương sùng kính. Nước này lại có vị Sa-môn tên là Huyền Giác, theo ngài Huyền Trang nghiên cứu kinh, luận, ở cung Ngọc Hoa trợ giúp ngài Huyền Trang phiên dịch Phật điển (Tống cao tăng truyện quyển 2). Tuy vua Văn Thái đem hết sức mình bảo hộ Phật giáo, nhưng nhà vua thông hiếu với Tây Đột-quyết, ngăn trở con đường các nước Tây Vực vào Đường triều cống. Năm Trinh Quán thứ 14 đời Đường Thái Tông (năm 640 Tl.), Đại tổng quản đạo Giao Hà là Hầu Quân Tập đem vài mươi vạn quân đi thảo phạt Cao Xương. Vua Văn Thái nghe quân Đường đã áp sát đến dưới thành, chẳng biết toan liệu ra sao, quá sợ hãi đột ngột phát bệnh chết. Con ông là Trí Thịnh lên thay, cùng với quân Đường giao chiến, lại đại bại, xin hàng. Hầu Quân Tập chia binh sĩ bình định được 3 châu, 5 huyện, 22 thành. Vua Thái Tông bắt đầu đổi gọi Cao Xương là Tây Châu, thiết lập quận huyện, lại đặt phủ An Tây đô hộ thống trị các nước Tây Vực, phong cho Trí Thịnh làm Tả vệ tướng quân Kim thành quận công, cho em ông ấy là Trí Trạm làm Hữu võ vệ trung lang tướng Thiên sơn quận công. Như vậy, vương gia họ Khúc làm vua Cao Xương trải qua 9 đời, gồm 134 năm rồi diệt vong.
Đường thư địa lý chí chép:
Lãnh thổ thuộc Tây Châu có 5 huyện là Tiền Đình (Cựu Đường thư viết là Cao Xương), Liễu Trung, Bồ Xương, Thiên Sơn, Giao Hà, mà theo Tây Châu chí thì có 6 huyện là Cao Xương, Tiền Đình, Liễu Trung, Bồ Xương, Thiên Sơn, Giao Hà. Lại căn cứ Địa lý chí, từ biên giới
huyện Liễu Trung, đến Đinh Cốc Quật 25 dặm về phía núi Bắc Sơn có một ngôi chùa, một Thiền viện. Lại từ biên giới huyện Tiền Đình, đến Ninh Nhung Cốc 22 dặm về phía núi Bắc Sơn có một ngôi chùa, đều có Tăng chúng cư trú, cộng chung được một số người. Lại tương truyền là có tháp do vua Asoka (A-dục) xây dựng ở góc phía Đông bắc ngoài thành Châu Tử, gọi là tháp “Thánh nhân”. Thời Đường, đất này là đất giao lưu của văn hóa Đông, Tây. Tăng chúng Trung Quốc và Tăng chúng Ấn Độ phần nhiều ra vào ở đây. Căn cứ báo cáo của ông Le Coq, phía Bắc Karakhodja, trong thôn Murtuq, vị trí nằm ngang dưới chân núi Thiên Sơn, có một ngôi chùa Phật cổ tên là Bäzäklik, chỗ cửa vào bên phải dưới hành lang ngôi chùa ấy có vẽ tượng 12 vị Tăng sĩ Phật giáo Trung Quốc, đều mặc pháp phục màu lam đen, trên đầu họ đội khăn trắng, trên viết tên họ của từng vị, đều là văn Uighur (Duy-ngô-nhĩ) — theo nghiên cứu của Müller, văn Uighur trên bức họa ấy đều là âm vận nhà Đường. Nên biết, việc vẽ tượng Tăng Trung quốc mới là sản vật của đời Đường — chỗ cửa vào bên trái dưới hành lang ấy lại có 12 vị Tăng mặc pháp phục màu vàng, danh tánh của họ viết bằng Phạn văn. Nhìn chung tượng vẽ 24 người này, có thể là những vị Tăng tuyên giáo, chịu trách nhiệm quản lý khi xây dựng ngôi chùa này (Le Coq: Expedition to Turfan, J. R. A. S. 1909, trang 316). Thậm chí muốn biết rõ văn hóa thù dị ở đất này lúc đương thời, nơi tập hội các giống người Đông-Tây, phải dựa vào những quyển kinh còn sót viết bằng văn tự cổ Tocharian (Tokharian, Thổ-hỏa-la), Sogdiana (Túc-đặc), Ba-tư, Syrian, Phạn, Tây Tạng, Mông Cổ, Trung Quốc v.v… do những đội thám hiểm Đông-Tây gần đây khai quật được ở vùng đất này.
Truyện nước Cao Xương trong Tống sử16 quyển 490 ghi:
“Loạn An Sử (An Lộc Sơn) nước này bị tàn phá mất, lại bị quốc ngữ nói lầm, kêu rằng Cao Sưởng, và đất ấy có lắm người Hồi Cốt, nên cũng gọi là Hồi Cốt.”
Hồi Cốt tức là chủng tộc Uighur, dòng dõi xa của Hung Nô, thời Hậu Ngụy hiệu là Thiết Lặc, đầu nhà Đường xưng là Đặc Lặc, về sau gọi là Hồi Hột (Cốt), cư trú ở Cam Châu trở về phía Tây, Cáp Một và Turfan. Từ niên hiệu Trinh Quán trở về sau, họ vẫn triều cống nhà Đường. Đầu niên hiệu Chí Đức (chừng năm 756 Tl.), đáp lời mời của vua Túc Tông, Hồi Cốt ra quân bình loạn An Sử, từ đó trở đi uy lực lớn mạnh, lấy Turfan làm căn cứ địa, thế lực khuếch trương về hướng Đông và Tây. Trong dân tộc Hồi Cốt cũng rất thịnh hành Phật giáo, tháng 11 năm Càn Đức thứ ba (năm 965 Tl.), Hồi Cốt Khả Hãn ở Tây Châu từng sai vị Tăng tên là Pháp Uyên hiến tặng răng Phật, lưu ly, chén hổ phách.
Năm đầu niên hiệu Ung Hi (năm 984 Tl.), Vương Diên Đức từ Cao Xương (nhà Tống lại đổi tên Tây Châu là Cao Xương) trở về, hiến dâng “Hành ký” (ghi chép cuộc hành trình) của ông cho triều đình. Theo lời nói đó thì bấy giờ Cao Xương còn hơn 50 ngôi chùa Phật, đều được triều Đường sắc tứ hoành phi. Trong chùa có đủ Đại tạng kinh. Lại có chùa Ma-ni (giáo), trong chùa đều có Tăng đồ Ba-tư (truyện nước Cao Xương trong Tống sử ). Cũng tháng năm ấy, vị Tăng Bà-la-môn Hồi Cốt ở Tây Châu là Vĩnh Thế cùng với vị Tăng ngoại đạo Ba-tư là A-lý-yên đến triều cống (truyện Hồi Cốt trong Tống sử). Vậy là lúc bấy giờ Phật giáo Cao Xương còn hưng thịnh, mà Ma-ni giáo cũng thịnh hành, rõ ràng vậy.
 

16 Tống sử 宋史: Tên bộ sử, ghi lại sự kiện đời Tống khoảng 317 năm, do Thác Khắc Thác v.v… phụng sắc soạn, gồm 496 quyển.
 
Gần đây, tại vùng đất này phát hiện thấy tàn sót quyển kinh Ma-ni giáo bằng ngôn ngữ Uighur, đó là lý do Ma-ni giáo hưng thịnh. Lại căn cứ truyện Hồi Cốt trong Tống sử nói: Năm Cảnh Đức thứ tư (năm 1007 Tl.), thời Dạ-lạc-hột của Hồi Cốt ở Cam Châu, sai vị Ni tên là Pháp Tiên v.v…. đến Tống triều yết kiến, dâng hiến ngựa, cho phép Pháp Tiên dạo chơi Ngũ Đài Sơn. Lại có vị Tăng tên là Địch Nhập cũng từng vào triều yết kiến, hiến dâng ngựa, rồi xây dựng chùa ở kinh thành để chúc thánh thọ, đồng thời xin sắc tứ hoành phi, song chưa được hứa cho.
Như trên đã luận bàn, vùng dân tộc Hồi Cốt đều phụng thờ Phật giáo, kinh Phật của họ phần nhiều đã được dịch ra ngôn ngữ Hồi Cốt. Gần đây nhất, những người thám hiểm Đông, Tây phát hiện thấy ở đây có nhiều mảnh kinh Phật bằng tiếng Hồi Cốt, nguồn gốc là từ đây. Nhưng những kinh Phật bằng tiếng Hồi Cốt đó, phần nhiều là kinh Đại thừa và kinh Mật tông, như:
Kinh Kim quang minh tối thắng vương,
kinh Phương quảng đại trang nghiêm,
kinh Diệu pháp liên hoa,
kinh Quán vô lượng thọ,
kinh Di-lặc hạ sinh,
kinh Phật đảnh tôn thắng đà-la-ni,
kinh Thiên địa bát dương thần chú,
kinh Phật thuyết đại bạch tản cái tổng trì đà-la-ni v.v... điều này dễ gây nhiều người chú ý đến. Vậy xứ Hồi Cốt đều là tín đồ Đại thừa giáo.
Đến với Phật điển ngôn ngữ Hồi Cốt, điều mà khiến chúng ta chú ý chính là những kinh Phật này, từ kinh Phật Hán dịch rồi dịch lại. Việc dịch chồng này có thể căn cứ văn
dịch của kinh điển tiếng Hồi Cốt để chứng minh. Ông Müller đã dịch quyển kinh Kim quang minh còn sót lại bằng văn Hồi Cốt, có âm dịch hai chữ “Đại thừa” là “Taising”, âm dịch hai chữ “Tiểu thừa” là “Sivsing” (Uigurica, I. S. 12-13). Ông Vũ Điền Hanh dịch trong kinh Thiên địa bát dương thần chú, có từ “Lịch nhật” bằng Hán ngữ, âm Hồi Cốt dịch là “Likzin”. Ông Quất Thụy Siêu dịch những mảnh kinh Pháp Hoa văn Hồi Cốt, Phẩm Đề-bà-đạt-đa, có âm dịch từ “Liên hoa”, Hán ngữ là “Linqu”. Những kinh khác do ông Mô-nạp dịch, nhiều quyển kinh Phật tàn sót bằng tiếng Hồi Cốt, như dịch tên mục của Thập nhị nhân duyên là Tavranmaq (hành), altï qaĕiy orunlar (lục nhập xứ), Täginmäk (thọ), Amranmaq (ái) v.v… rõ ràng chẳng phải là âm dịch của Phạn ngữ, đó là chứng tích của Hán ngữ. Những bằng chứng chính xác khác mượn từ Hán ngữ thì không thể nêu sao cho hết (Uigurica, II. S. 13–4, 81-3). Vào khoảng giữa thế kỷ thứ X, từ thời Satuk Kara Khan trở về sau, chủng tộc Tây bộ Hồi Cốt tuy là phụng thờ Hồi giáo (Ros: Heart of Asia, P.100, n.), nhưng ở miền Đông Hồi Cốt về sau vài trăm năm đều tin Phật giáo. Năm Chí Nguyên thứ 3, nhà Nguyên (năm 1332 Tl.), trong truyện Tỳ-kheo-ni Bát-cáp-thạch (Chân Tịch Diệu Huệ đại sư) mất năm 64 tuổi, nói rằng: “Sư húy là Xá-lam-lam, người Cao Xương, đất ấy lệ thuộc Bắc Đình, đất ấy ưa thích Phật giáo, nên người làm Bí-sô nhiều.” (Phật Tổ lịch đại thông tải17 của Niệm Thường, quyển 36), mà việc Bát-cáp-thạch từng dùng vàng viết kinh tạng chữ Phiên,18 tức là Phật điển tiếng Tây
 

17 Phật Tổ lịch đại thông tải, hay gọi Phật Tổ thông tải, Thông tải. Niệm Thường trước tác thời Nguyên, 22 quyển (36 quyển) (T49n2036). Truyện Tỳ-kheo-ni Bát-cáp-thạch: Phật Tổ thông tải 22, p 734c01.
18 Chữ Phiên, Hán: Phiên tự 蕃字; hoặc gọi Phiên thư, Phiên văn, Tây Hạ văn.
 
Tạng như Bát-nhã bát thiên tụng, Ngũ hộ đà-la-ni hơn 10 bộ, và Phật điển Hán văn như Hoa nghiêm, Lăng-nghiêm, hai bộ Phật điển bằng văn Uighur là kinh Pháp hoa, kinh Kim quang minh. Tham khảo những quyển còn lại phát hiện thấy gần đây, như kinh Pháp hoa, kinh Kim quang minh, thì biết ở vùng dân tộc Hồi Cốt, những kinh điển Đại thừa này nhất định rất phổ biến. Đồng thời, từ thời đại này trở về trước, người Hồi Cốt đối với sự nghiệp phiên dịch cũng rất thịnh.
Truyện Thổ-lỗ-phiên (Turfan) trong Minh sử quyển 329 chép là: Vào năm Vĩnh Lạc thứ 6 (năm 1408 Tl.), có vị Tăng nước Cao Xương là Thanh Lai, cùng đệ tử là Pháp Tuyền v.v… đến triều cống, muốn xin truyền giáo ở Thổ-lỗ-phiên, nên vua Minh Thành Tổ ban cho ngài Thanh Lai pháp hiệu “Từ Tuệ Viên Trí Phổ Thông Quốc Sư”, và nhà vua đãi ngộ ưu ái cả 7 vị đồ đệ của ngài, còn phong làm Tăng cang ở Turfan. Từ đó về sau, đồ đệ của vị ấy ngày càng nhiều.
Ông Quật Khiêm Đức cho rằng Phật tăng từ ngài Thanh Lai trở về sau hình như là giáo đồ Lạt-ma giáo19 (Giải thuyết Tây Vực ký, trang 35). Khảo sát đất Cao Xương, vùng dân tộc Hồi Cốt, thời Nguyên đã có Lạt-ma giáo lưu hành vì thông giao với Tây Tạng rất thịnh (tham khảo Phật giáo sử học thiên thứ nhất, số thứ nhất, bài “Tân văn tự Mông Cổ Phạ-khắc Ba-lạt-ma” của ông Tự Bản Uyển Nhã), vậy những người đó nhất định là Lạt-ma giáo, không nghi ngờ gì.
Đến năm Vĩnh Lạc thứ 17, sứ nhà Minh là Trần Thành, đi đến Turfan, 13 năm mới trở về nước. Trong “Ký hành” của ông ghi rằng:
 

19 Lạt-ma giáo 喇嘛教: T. Bla-maḥi bstan-pa, E. Lamaism, dịch Vô thượng giáo, là giáo phái Phật giáo thịnh hành nhất ở Tây Tạng và chủ yếu truyền bá sang Tạng tộc ở Trung Quốc, Mông Cổ v.v…
 
“Phía Tây bắc thành nước ấy cách một trăm dặm có núi Linh Sơn rất lớn. Người bản xứ nói rằng: đây là chỗ 10 vạn vị La-hán Niết-bàn. Gần núi có đài cao, chùa cạnh bên suối đá, cây rừng. Từ đây vào núi đi hai mươi dặm, đến một mỏm núi, phía Nam có một ngôi tiểu thất bằng đất. Theo phía Nam ngôi nhà đi lên sườn núi, đến ngôi thạch thất thờ 5 pho tượng Phật nhỏ, phía trước có cái ao, phía Đông ao, đá núi xanh đen, trông xa rậm rạp như lông tóc. Người bản xứ nói: đây là chỗ mười vạn vị La-hán gội đầu, cạo tóc. Men theo mỏm núi đi về phía Đông nam chừng 6, 7 dặm, leo lên mép núi cao, bên dưới mép núi là những núi nhỏ chồng lên nhau lớp lớp, ngọn núi nhọn đâm lên cao vót. Bên dưới núi ấy, đá trắng chất thành đống giống như ngọc, ngó mỏng manh mà không thể vỡ. Trong đống đá hình như xương người, màu nhuận sáng nhẵn bóng, người bản xứ nói: đây là linh cốt của mười vạn vị La-hán. Lại đi xuống phía Đông triền đá thì gặp những mụt măng đá, mọc ra như tay chân, hơi chếch về Nam. Đến sườn núi thì đá lại trong suốt, thuần khiết như ngọc, người bản xứ nói: đây là chỗ Bích-chi Phật Niết-bàn…”.
Lại còn ghi, đương thời người nước này phần nhiều phụng thờ Phật, có chùa Tăng (Uyên giám loại hàm, quyển 236, mục nước Thổ-lỗ-phiên). Vậy cho đến thời kỳ đầu thế kỷ XV, Phật giáo ở đất Cao Xương vẫn còn thịnh hành là rõ ràng. Sau đó, đến thời nào Phật giáo nước này vẫn còn mạng mạch, tuy không biết chính xác nhưng căn cứ báo cáo của ông Pelliot nói: Ông Malov người Nga đã tìm thấy toàn bộ kinh Kim quang minh bằng văn Hồi Cốt, được viết vào khoảng năm 1687-1688 Tây lịch, ở trong núi phía Nam Túc Châu, tỉnh Cam Túc (Pelliot: Un fragment du Suvarṇaprabhāsa-sutra,
trang 5). Theo ý đó để suy tìm vấn đề thì có lẽ từ giữa thế kỷ XVII Tây lịch trở về sau, trong bộ tộc Hồi Cốt vẫn còn có người tin theo Phật giáo.
 
/75
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
🙏 Trợ Lý Phật Pháp AI »