Tìm kinh sách
Vần A-Z:
Nghiên cứu Phật Giáo Tây Vực

Nghiên cứu Phật Giáo Tây Vực

Tác giả: Cư sĩ Tuệ Khai, Phụ chú: Thích Tâm Nhãn. Dịch giả: Cư sĩ Tuệ Khai, Phụ chú: Thích Tâm Nhãn. Năm xuất bản: 2011. Số trang: 604.

Chương 13: Khảo Cứu Về Thời Đại Diệt Vong Của Phật Giáo Tây Vực (Trang 119 - 124)

KHẢO CỨU VỀ
THỜI ĐẠI DIỆT VONG
CỦA PHẬT GIÁO TÂY VỰC
                                                                                                                      Trương Úy Tây
 
Phật giáo từ khi được vua Asoka (A-dục) làm hộ pháp, ngoài việc phổ cập Ấn Độ, Phật giáo còn phát triển hưng thịnh đến tận cao nguyên Iran, các vùng Trung Á, các thành ở đường phía Nam Thiên Sơn. Những Cao tăng đầu tiên đến Trung Quốc và những bản kinh được phiên dịch phần nhiều đến từ các nước An Tức, Khương Cư, Đại Nguyệt Thị, Vu-điền, Qui-tư... lần lượt có thể khảo sát được. Đến khoảng đời Tùy-Đường, Muhammad1 sáng lập ra Hồi giáo ở Đại Thực,2 dùng binh lực hành giáo, dấu chân ngựa đến đâu là Phật giáo tận diệt đến đó, tuy Ấn Độ là quê hương Phật giáo nhưng cũng không thể bảo tồn được. Từ khi nhà Đường suy vi, tuyệt lộ với Hà Niết,3 những sự kiện quan trọng này mà một chữ cũng không thấy ghi trong lịch sử Trung Quốc. Nay tạm dựa vào thời đại diệt vong của các nước mà ước lược suy tìm:
 

1 Muhammad, chuyển tự Mohammed, Muhammed… (Hán: Mục-hãn-mặc-đức 穆罕默德), giáo tổ Hồi giáo (570?-632). Nguồn gốc tên của ông không biết rõ, Muhammad là một cách gọi tôn xưng, nghĩa là “Người được ca ngợi”.
2 Đại Thực 大食: Đế quốc Ả-rập (Arab). Trong sách cổ sử Trung Quốc, “Đại Thực” là dịch âm theo tiếng Ba-tư (Persia).
3 Hà Niết 河涅, là khu vực cư trú của các bộ lạc Thổ Phồn thuộc tộc Khương, nay là thành phố Tây Ninh tỉnh Thanh Hải.
 
Nghiên cứu Phật Giáo Tây Vực
An Tức vốn là Ba-tư xưa, nơi bắt nguồn của Hỏa yêu giáo. Khoảng năm 100 Tây lịch, vương triều Sassanid của Ba-tư hưng khởi, tôn giáo Hỏa yêu là quốc giáo, do đó Phật giáo bị bài báng nên Hỏa yêu giáo mới hoành hành cả một dải Trung Á. Nguồn gốc của Hỏa yêu giáo rất xa xưa, nó giống với Bà-la-môn giáo ở Ấn Độ. Lúc Hồi giáo chưa hưng thịnh, chắc chắn Hỏa yêu giáo là một tôn giáo lớn ở phương Tây.
Sau khi Đại Nguyệt Thị mất, trải qua Áp-đạt,4 Tây Đột-quyết thì Tam bảo (Phật giáo) vẫn còn. Đến năm Khai Nguyên đầu đời Đường, ngài Tuệ Siêu5 đi Tây vẫn nói rằng, quốc vương, thủ lĩnh và bá tánh v.v... rất sùng kính Tam bảo, đủ chùa đủ Tăng, tu hành giáo pháp Tiểu thừa v.v... (Sau thời ngài Tuệ Siêu thì đường đi Tây bị gián đoạn, đến khi Mông Cổ Tây chinh mới khai thông lại, những nước trong vùng đã biến thành Hồi giáo hết vậy!) Nhưng lúc đó tướng Hồi là Khắc-thái-ba (Qutaibah bin Muslim) đã chiếm cứ Bộ-phược-để-da (Bokhara, Khwarizm…), do đó đã tóm thâu hết các thành nên Nguyệt Thị đất xưa của Phật giáo không còn nữa.
Khương Cư cũng thờ Hỏa yêu giáo, lúc ấy là triều đại Sassanid tại An Tức. Chỗ ngài Tuệ Siêu gọi là Tự Đại Thật (tức là Đại Thực) về phía Đông đều là nước Hồ, hầu hết thờ Hỏa yêu giáo, chẳng biết Phật pháp, duy chỉ chùa nước Khương có một vị Tăng, lại không có người hiểu biết kính trọng gì... Nhưng khi ngài Tuệ Siêu đến vẫn có chùa còn Tăng, vậy có thể thấy Phật giáo bị diệt sạch chắc từ khi Đại Thực xâm chiếm đất ấy trở về sau.
Ca-thấp-di-la ở niền Tây bắc Ấn Độ, núi non trùng điệp, tiện cho việc phòng thủ. Năm 1003 Tây lịch bị vua Hồi là Ca-tật-ninh (Mahmud của Ghazni) đánh bại. Lại hơn 20 năm vua Hồi mới chiếm cứ được nước ấy. Nhưng thời Nguyên Hiến Tông còn có đại sư nước Kế Tân là Lan-
 

4 Áp-đạt 嚈噠: Tên bộ tộc (cũng là tên quốc gia) thời cổ đại Trung Quốc. Sử Tây phương gọi là Ephthalites, hay gọi là “Bạch Hung Nô” (White Huns). Cương vực phía Đông từ Nam lộ Thiên Sơn, và phía Tây giáp Ba-tư…
5 Tuệ Siêu 慧超: Ngài Tuệ Siêu người nước Tân La, đến Trung Quốc năm 20 tuổi, thời Đường. Sau ngài sang Ấn Độ chiêm bái tất cả Thánh tích và có trước tác “Tuệ Siêu vãng Ngũ thiên trúc quốc truyện” 3 quyển.
 
ma làm Tăng thống Phật giáo (Xem bài tựa Biện ngụy lục).6 Gần đây thấy Đái-duy-tư nước Anh thống kê, Ca-thấp-di-la có tín đồ Phật giáo hai trăm ngàn người. Do nước này tiếp giáp với Tây Tạng nên Phật giáo đến nay vẫn được bảo tồn.
Kiền-đà-la, vị trí hiện nay ngay eo sông Kabul, hình thế nước ấy đối với phương Tây bắc nhỏ bé như kinh đô nước Yên Trung Quốc. Vua Hồi Ca-tật-ninh đã chiếm cứ đất ấy, rồi từ đây xuống phía Nam dày xéo Ấn Độ khoảng 17 lần. Năm 1008 Tây lịch, liên hợp quân ở Peshawar đại phá Ấn Độ, thả cho quân đốt phá tượng Phật, điện thờ Phật, thâu tóm đồ trân bảo đem đi.
Ấn Độ: Thời Tống Thái Tông, vua Hồi là Ca-bố-nhĩ (Mohammad Ghori) cát cứ Peshawar, đó là buổi đầu Hồi giáo nhập cư vào Ấn Độ. Đến năm cuối đời Nam Tống thì Bắc Ấn Độ mới rơi hết vào phạm vi của người Hồi. Đời Nguyên, vua Hồi Đài-lý là Ô-điền (Qutb-ud-din Aibak) xâm lược các châu của Nam Ấn, thu hoạch vàng ròng, đá quí đem về. Như vậy cả vùng phía Nam núi Sindh, cao nguyên Deccan đều bị Hồi giáo chiếm lĩnh. Khoảng năm Gia Tĩnh đời Minh, các vua Hồi ở tại cao nguyên Deccan hợp binh tiêu diệt tộc Nhĩ, Nhung, Tắc, đến đây thì các vị Phạm vương7 ở Nam Ấn Độ đã hết. Nhưng sự diệt vong của Phật giáo bắt đầu từ sau khi vua Giới Nhật mất, Bà-la-
 

6 Biện ngụy lục 5, T52n2116_p776a25. Năm Chí nguyên 28 (1291), ngài Tường Mại vâng sắc lệnh vua Thế tổ nhà Nguyên, soạn bộ lục này (gồm 5 quyển) để bác bỏ ngụy thuyết của Đạo giáo, .
7 Phạm vương 梵王, có thể danh từ này gọi chung cho những vị vua Ấn Độ, hoặc có liên quan đến Phật giáo. Như chùa viện gọi Phạm vũ 梵宇, Ấn Độ gọi là Phạm độ 梵土, hay một thời người ta gọi Tăng sĩ từ Tây Vực, Ấn Độ đến Trung Quốc truyền giáo là Phạm tăng 梵僧 v.v…
 
môn lại phục hưng, tức nay gọi là Ấn Độ giáo (hiện thời tín đồ Ấn Độ giáo là mười triệu hai ngàn người, tín đồ Hồi giáo là bảy mươi triệu người), thời ấy tương đương với thời Đường họ Lý (Lý Uyên cao tổ nhà Đường).
Sơ-lặc: Tiếng Hồi gọi là Kāshgar. Năm Khai Bảo thứ tư đời Tống Thái Tổ, hậu duệ của cháu ngoại Muhammad là Tháp-bố-lạp-lý-tư đánh lấy Kāshgar, xưng là Pasha.8 Đó là Hồi giáo đầu tiên vượt Thông Lĩnh xâm chiếm Sơ-lặc.
Vu-điền: Đương thời người Hồi đã chiếm cứ Sơ-lặc, Vu-điền chống đỡ họ, khổ chiến lâu đến 24 năm, sức cùng lực kiệt, cuối cùng bị diệt vong. Tăng đồ nước ấy không chỗ nương tựa chạy trốn sang Tây Tạng. Sự việc xảy ra sau đức Phật diệt độ khoảng 1600 hay 1700 năm.
Qui-tư: Ngài Tuệ Siêu ghi là nước Qui-tư đủ chùa đủ Tăng, tu hành theo pháp Tiểu Thừa, ăn thịt và hành tỏi v.v... Tăng người Hán tu hành theo pháp Đại thừa. Xem đây thì biết nước ấy cũng bị diệt vong, tương đương cuối thế kỷ thứ X Tây lịch!
Cao Xương: Ở con đường phía Nam núi Thiên Sơn, cũng gọi là Hồi Bộ, thuần là đất của tám vị vua Hồi. Bởi từ năm thứ 25 đời Nguyên Thuận Đế, vua nối dõi của Mông Cổ ở Cáp-thập là Thác-hòa-lạc-hãn cải đổi theo Hồi giáo, sai Hòa-trác-diệt, Mã-mộc... chia nhau đến các thành truyền giáo, từ Turfan trở lên đều bị cuốn theo đạo đó hết. Đó là đầu tiên con đường phía Nam thông hành Hồi giáo. Nhưng xem lịch sử đời Minh thì năm Vĩnh Lạc thứ 6, ngài Tăng Thanh đưa đồ đệ là Pháp Tuyền triều cống, Thành Tổ
 

8 Pasha (Hán: Phách-hạ 帕夏), Pasha là chuyển ngữ từ tiếng Thổ-nhĩ-kỳ (Turkish) “paşa”, nghĩa là “chúa tể”.
 
 ban hiệu là Từ Tuệ Viên Trí Quốc Sư, cùng bảy người đồ đệ làm Tăng cương9 ở Turfan. Vậy là thời Minh, Cao Xương còn lưu hành Phật giáo. Đến nay Phật giáo đã mất hết dấu vết.
 

9 Tăng cương 僧綱: Quan Tăng quản lý Tăng, Ni
 
/75
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
🙏 Trợ Lý Phật Pháp AI »