Tìm kinh sách
Vần A-Z:
Nghiên cứu Phật Giáo Tây Vực

Nghiên cứu Phật Giáo Tây Vực

Tác giả: Cư sĩ Tuệ Khai, Phụ chú: Thích Tâm Nhãn. Dịch giả: Cư sĩ Tuệ Khai, Phụ chú: Thích Tâm Nhãn. Năm xuất bản: 2011. Số trang: 604.

Chương 44: Phật Giáo Nước Qui-Tư - I. Giải Thích Địa Danh Qui -Tư (Trang 475 - 475)

PHẬT GIÁO NƯỚC QUI-TƯ
                                                                                                                                   Đông Sơ
I. GIẢI THÍCH ĐỊA DANH QUI-TƯ
Qui-tư là tên của một vương quốc xưa ở Tây Vực. Tiếng Phạn gọi là Kueina, tiếng Tây Tạng gọi là Kutsahiyui, xưa gọi Khưu-tư, Qui-tư, Khuất-tư, Khuất-phu, Khuất-tỳ, Khâu-tư, Câu-di, Khúc-tiên, Khổ-xoa, Khố-xa (Kucha) v.v… Từ Kueina của chữ Phạn là xuất phát từ tạp danh Phạn ngữ trong lời nói về lễ nghi của Sa-môn Qui-tư. Phiên dịch danh nghĩa tập1 dịch là “Khúc Cung 曲躬”,2 nên Qui-tư có hàm ý uốn cong (khuất khúc 屈曲), dịch âm từ Phạn ngữ Kuti. Vị trí địa hình nước này lấy Bắc bộ Đông Thổ-nhĩ-kỳ làm trung ương, Bắc dựa vào mạch núi Thiên Sơn, Nam cách sông Tarim, Bắc đến tận sa mạc Toklamakan, Đông tựa nước Kỳ-ni (Yên Kỳ), Tây tiếp giáp nước Bạt-lộc-ca (Cô Mặc).
Đại Đường Tây Vực ký quyển 13 ghi:
“Nước Khuất-chi, Đông Tây hơn 1.000 dặm, Nam Bắc hơn 600 dặm, nước lớn, chu vi đô thành 17, 18 dặm, sản vật thích hợp: Lúa tẻ, lúa mì, có thứ gạo ngon, sản xuất nhiều nho, thạch lựu, quả lê, quả mận, quả đào, hạnh
 

1 Phiên dịch danh nghĩa tập, 7 quyển, Pháp Vân biên soạn thời Tống, T54n2131_p1056.
2 Phiên dịch danh nghĩa tập 3, p1098a25: “Khuất-chi (Kuce), Tây Vực ký nói xưa gọi là Qui-tư, hoặc âm Khâu-từ 屈支,西域記云,舊曰龜玆,又音丘慈.” Phiên Phạn ngữ 8, T54n2130_p1036b15: “Nước Qui-tư dịch là Khúc Cung 龜玆國 (譯曰曲躬)”.
3 Tây Vực ký 1, T51n2087_p870a17.
 
/75
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
🙏 Trợ Lý Phật Pháp AI »