giáo nước này hình như rất phát triển, muốn độc chiếm Hữu bộ chẳng cho nó lưu thông.
Lại theo Tây Vực ký, sau khi vua Kaniṣka mất, chủng tộc Cật-lợi-đa phục hưng, nắm lấy chính quyền nước Ca-thấp-di-la, phá hủy Phật pháp, xua đuổi Tăng đồ. Đến sau khi đức Phật diệt độ 600 năm — vào khoảng thế kỷ thứ III Tây lịch — vua Himatala (Tuyết Sơn Hạ) nước Đổ-hóa-la, nguyên là dòng họ Thích, tôn sùng Phật pháp, dốc lòng tin phi thường, nghe hành động bài xích Phật của tộc Cật-lợi-đa rất phẫn nộ, mới chiêu tập ba ngàn người dũng sĩ trong nước cải trang làm người đi buôn bán, cất giấu quân khí trong hàng hóa, đem vào nước này. Rồi từ trong ba ngàn người này lựa chọn ra năm trăm người nhiều mưu trí dũng mãnh, đều giấu dao sắc trong tay áo, vào vương cung đem vật báu hiến dâng lên vua Cật-lợi-đa; ngay lúc ấy, vua Tuyết Sơn Hạ liền chém thủ cấp vua ấy, đuổi xua tể tướng của tộc Cật-lợi-đa dời xa đến thành khác, bình định nước Ca-thấp-di-la, kiến lập Già-lam, triệu tập Tăng đồ, Phật giáo nước này lại đến hồi hưng long.
Những truyền thuyết thuật ở trước, chúng ta không có những chứng cứ khác để phủ nhận chúng nên đại thể có thể nhận là sự thật.
III. PHẬT GIÁO CA-THẤP-DI-LA VÀO THẾ KỶ THỨ IV, THỨ V TÂY LỊCH
Thời thế kỷ thứ IV Tây lịch, nước Ca-thấp-di-la bắt đầu quan hệ với nước ngoài, đặc biệt qua lại với tôn giáo các nước ở phía Đông, sự cố ấy bởi do sự giao thông về chính trị và thương nghiệp trở nên phồn thịnh dần, Sa-môn nước ngoài muốn học tập giáo nghĩa Hữu bộ đều đến nước này. Cuối thế kỷ thứ II, ngài Pháp Thắng (Dharmasreṣthin — Đạt-ma-thi-
lợi-đế) sinh ở nước Phược-thục (ngài Huyền Trang gọi là Phược-hát, tại vùng đất Balkh ngày nay), vùng Thổ-hỏa-la (Tukhāra), trước tác A-tỳ-đàm tâm luận 4 quyển, trình bày điều cốt yếu của Đại Tỳ-bà-sa luận (căn cứ Câu-xá luận ký quyển 1 của ngài Phổ Quang), ngài từng đến nước này nghiên cứu bản luận. Tuy phong tục học tập bảo thủ, đóng kín đã trải qua thời gian rất lâu, nhưng cuối cùng cũng đến ngày tan vỡ. Kết quả chính là do tinh thần hướng ra nước ngoài truyền đạo tích cực. Vậy sau khi cử hành lần kết tập thứ tư 100 năm, một vị đại A-la-hán từ nước này đi đến Kiền-đà-la, tức là vị đệ tử của ngài Ba-nhĩ-ni (Paṇini), một đại học giả nổi tiếng ngôn ngữ, đến nước này (Kiền-đà-la) tiến hành việc giáo hóa (xem Tây Vực ký quyển 2).
Lại nữa, kinh Hiền kiếp trong Xuất Tam Tạng ký tập quyển 7 ghi chép, kinh Hiền kiếp 13 quyển, do ngài Pháp Hộ dịch vào ngày 21 tháng 7, năm đầu niên hiệu Vĩnh Khang (năm 300 Tl.), ngài có được bản kinh Phạn văn ấy là từ vị Sa-môn nước Kế Tân, nên Tăng đồ Phật giáo Ca-thấp-di-la lúc bấy giờ nhất định đã có người đi đến phương Đông truyền giáo rồi.
Lại có vị Sa-môn Tây Vực tên là Trí Sơn, được vị Tỳ-kheo-ni Trung Quốc đầu tiên là Tịnh Kiểm ở chùa Trúc Lâm thờ làm thầy, ngài cũng từng đi đến Kế Tân học thiền, cuối năm Vĩnh Gia nhà Tấn (năm 312 Tl.) đến Trung Quốc, năm đầu niên hiệu Kiến Võ (năm 317 Tl.) quay trở lại Kế Tân (Tỳ-kheo-ni truyện quyển 1).22
22 Tỳ-kheo-ni truyện 1 (Bảo Xướng soạn thời Lương, 4 quyển), T50n2063_p934c17.
Ngài Phật-đồ-trừng (Buddhacinga) có danh trong lịch sử Phật giáo Trung Quốc, vào thời kỳ đầu cũng đến Ca-thấp-di-la tu học. Theo lời ngài nói, ngài đã hai lần đến Kế Tân thọ giáo danh sư. Nhưng ngài vốn họ Bạch nên quê hương ngài đại khái là nước Qui-tư (xem Lương cao tăng truyện quyển 9). Sau đó trải qua hơn 50 năm, ngài Cưu-ma-la-thập (Kumārajiva) người nước Qui-tư, rất nổi tiếng, vào năm 352 Tây lịch, theo mẹ là Kỳ-bà (Jīva) đi đến Ca-thấp-di-la, thờ vị Sa-môn danh đức dòng dõi vương gia tên là Bàn-đầu-đạt-đa (Vandhudatta) làm thầy, học tập kinh Tiểu thừa như Tạp tạng, Trung A-hàm, Trường A-hàm v.v… rồi ngài trở lại Qui-tư, tuyên dương Đại thừa giáo, danh ngài vang dội đến những nước khác. Ngài Bàn-đầu từ xa nghe được, đem tấm thân già cả, chẳng quản đường xá xa xôi, đi đến nước Qui-tư hội ngộ với La-thập, nghe ngài La-thập nói về Đại thừa diệu thú, đến lúc đó ngài Bàn-đầu liền bỏ hết Tiểu thừa mà quay về Đại thừa (Lương cao tăng truyện quyển 2).
Vào giữa thế kỷ thứ IV Tây lịch, tình hình Phật giáo Ca-thấp-di-la đạt đến cực thịnh, điều này có thể thấy trong lịch sử Trung Quốc, căn cứ Tây Vực chí do Di Thiên Đạo An soạn, ghi rằng: “Nước Kế Tân ở phía Tây của Xá-vệ, quốc vương, nhân dân đều thờ phụng đạo Phật, người thường và Sa-môn đến mùa Đông trước giờ ngọ uống một ít rượu, qua giờ ngọ chẳng ăn nữa.” (Uyên giám loại hàm quyển 316). Nói nước Kế Tân là chỉ cho Ca-thấp-di-la. Trong Tây Vực chí của ngài Đạo An lại nói: “Từ sông Tân Đầu (sông Ấn Độ) chảy qua các nước Kế Tân, Kiền-việt (Kiền-đà-la), Ma-ha-lạt mà vào Nam Hải đó vậy.” (Dẫn Thủy kinh chú quyển 2). Ở đây nói rằng nước Kế Tân ở phía Tây của thành Xá-vệ chắc là lầm, phải ở phía Tây bắc thành ấy. Lại nói, vào mùa Đông, trước giờ ngọ Sa-môn nước này được phép uống một ít rượu.
Chúng ta nên chú ý, thứ nước uống gọi là rượu này, là chưa lên hơi men, hoặc là nước ép trái cây bốc thành rượu một nửa vậy. Thứ nước cốt hoa quả này có thể sung làm đồ uống cho Tăng đồ Phật giáo, do Tỳ-kheo ở Phạt-địa (Vajji)23 chế ra sau khi đức Phật diệt độ 100 năm. Vậy căn cứ vào đoạn ký sự này để xem xét, thì vào giữa thế kỷ thứ IV Tây lịch, vương công, thứ dân của nước Ca-thấp-di-la đã nhất thể tôn sùng Phật pháp là rõ ràng! Chuyện này e rằng tin tức Phật giáo nước Ca-thấp-di-la có từ rất sớm, đã được bút ký xa xưa của Trung Quốc biên chép rồi. Lúc bấy giờ, nhất định ngài Đạo An nghe trực tiếp từ các vị Sa-môn Tây Vực đến Trường An, những điều ghi chép đó đáng được tin cậy.
Giao thông của Trung Quốc và Ca-thấp-di-la được khai thông từ đời Hán Võ đế, những sự kiện ngoại giao giữa hai nước thường có phát sinh, nhưng mối quan hệ tôn giáo so với các nước Tây Vực khác là chậm hơn, mãi đến thế kỷ thứ IV, mối quan hệ tôn giáo mới mở mang dần và đến cuối thế kỷ đó mau chóng thịnh hành. Thử quan sát, đương thời những Cao tăng từ Ca-thấp-di-la đi đến Trung Hoa như các ngài Tăng-già-bạt-trừng (Saṃghabhūti - Chúng Hiện), Tăng-già-đề-bà (Samghadeva - Chúng Thiên), Đàm-ma-tì (Dharma-priya - Pháp Lạc), Tăng-già-la-xoa (Samghakṣā - Chúng Hộ), Đàm-ma-da-xá (Dhamayasas - Pháp Minh), Phất-nhã-đa-la (Puṇyatāla - Công Đức Hoa), Ty-ma-la-xoa (Vimalākṣa - Vô Cấu Nhãn), Phật-đà-da-xá (Buddhayasas - Giác Minh), Phật-đà-thập (Buddhajīva - Giác Thọ), Đàm-ma-mật-đa (Dharmamitra - Pháp Tú), Cầu-na-bạt-ma (Guṇavarman - Công Đức Khải), Tăng thống Sư Hiền v.v… trong khoảng 40
23 Phạt-địa (Vajji): Skt. Vṛji, hay cách dịch khác, Bạt-kỳ 跋祇, Việt-kỳ 越祇…, một trong 16 nước ở Ấn Độ thời Phật tại thế, cũng là tên một bộ tộc tại Bắc bộ Trung Ấn Độ.
năm, trước sau họ đều đến Trung Quốc mang theo kinh điển Phật giáo rất nhiều, hoặc phúng tụng, hoặc phiên dịch. Đồng thời Tăng đồ Trung Quốc có chừng vài mươi người như các ngài Trí Mãnh, Pháp Dũng, Trí Nghiễm, Tuệ Lãm v.v… đi đến nước Ca-thấp-di-la, hoặc là lễ bái di tích của đức Phật, hoặc là tu học Thiền pháp, hoặc là cầu kinh… Họ đều liên tục đi về Tây.
Vào năm Kiến Nguyên thứ 17 thời Phù Kiên (năm 381 Tl.), ngài Tăng-già-bạt-trừng đến Quan Trung, miệng tụng (dịch miệng) luận Tôn-bà-tu-mật bồ-tát sở tập, kinh Bà-tu-mật 10 quyển (hoặc 12 quyển, hay 14 quyển), Tỳ-bà-sa luận 14 quyển (15 quyển, hoặc 19 quyển), kinh Tăng-già-la-sát sở tập 3 quyển (hoặc làm 5 quyển).
Năm Kiến Nguyên thứ 19 thời Phù Kiên, ngài Tăng-già-đề-bà đến trường An, năm sau nhận lời mời của Sa-môn Pháp Hòa ở Ký Châu, dịch A-tỳ-đàm bát kiền-độ luận (Ca-chiên-diên A-tỳ-đàm kinh bát-kiền độ) 30 quyển (hoặc làm 20 quyển). Năm Thái Nguyên thứ 16 đời Tấn (năm 391 Tl.), theo lời thỉnh cầu của ngài Tuệ Viễn, ngài lại ở Lô Sơn dịch A-tỳ-đàm tâm 16 quyển (hoặc 13 quyển) và Tam pháp độ luận 2 quyển. Năm đầu niên hiệu Long An đời Tấn, ở Kiến Nghiệp, ngài đáp lời thỉnh cầu của Sa-môn Nghĩa Học, Tuệ Trì v.v… hơn 40 người, dịch kinh Tăng nhất A-hàm 51 quyển (hoặc 42 quyển, 32 quyển, 60 quyển) và kinh Trung A-hàm 60 quyển (hoặc 58 quyển).
Theo lời tựa kinh Bát kiền-độ A-tỳ-đàm căn kiền-độ hậu biệt ký, trong Xuất tam tạng ký tập quyển 10,24 ghi:
24 Xuất tam tạng ký tập 10, T55n2145_p73b8.
“Người ấy quên một phẩm Nhân duyên nên văn khuyết. Gần đây từ vị Sa-môn Kế Tân là Đàm-ma-ty thuộc lòng phẩm đó, đi qua Mật Xuyên, ngài Tăng-già-đế-bà dịch ra Phẩm này thì văn Bát kiền-độ mới đủ”.
Căn cứ văn trên thì năm Kiến Nguyên thứ 18, ngài Đàm-ma-ti đã hiến bản Phạn kinh Đại phẩm Bát-nhã cho quốc sư Cưu-ma-la-bạt-đề (Kumarabhadra) của Xa Sư Tiền Vương (Turfan), các Kinh lục đều cho rằng vị đó là người Ấn Độ, vậy ngài cũng là người nước Ca-thấp-di-la.
Văn trên cho rằng ngài Tăng-già-đề-bà ở Kiến Nghiệp đáp lời thỉnh cầu của ngài Tuệ Trì dịch lại kinh Trung A-hàm v.v…, lúc bấy giờ ngài Tăng-già-la-xoa là Sa-môn Ca-thấp-di-la, khẩu tụng bản tiếng Phạn kinh này (Xem Truyện ngài Tăng-già-đề-bà trong Lương cao tăng truyện quyển 1).
Niên hiệu Long An nhà Tấn (năm 397–401 Tl.), ngài Đàm-ma-da-xá đến chùa Bạch Sa ở Quảng Châu, trong niên hiệu Nghĩa Hy (năm 405-418 Tl.) ngài vào Trường An. Vì ngài giỏi tụng Tỳ-bà-sa luận nên mọi người đều gọi ngài là “Đại Tỳ-bà-sa”. Ngài Đàm-ma-da-xá ở chùa Thạch Dương tại Trường An, cùng Sa-môn Thiên Trúc là Đàm-ma-quật-đa (Dharmagupta) dịch Xá-lợi-phất A-tỳ-đàm luận 22 quyển (hoặc 20 quyển, hoặc 30 quyển), ngoài kinh này ra ngài còn dịch kinh Thiện ma 1 quyển, kinh Lạc anh lạc trang nghiêm phương tiện phẩm 1 quyển.
Ngài Phất-nhã-đa-la thông đạt đầy đủ ba tạng, rất giỏi luật Thập tụng. Ngày 17 tháng 10 năm Hoằng Thủy thứ 6 (năm 404 Tl.), ở chùa Trung tại Trường An, ngài cùng Tam tạng La-thập dịch luật Thập tụng gồm 58 quyển.
Ngài Ty-ma-la-xoa tức là Luật sư Thanh Nhãn (người nước Kế Tân) rất có tiếng tăm. Đang lúc ở Qui-tư, ngài hoằng
dương Luật tạng thì Cưu-ma-la-thập cũng theo ngài học luật, nên năm Hoằng Thỉ thứ 8 (năm 406 Tl.), ngài nghe ngài La-thập rất nổi tiếng ở Trung Quốc, mới đến Quan Trung. Sau khi ngài La-thập mất, ngài đi đến Thọ Xuân, trụ ở chùa Thạch Giản, đại hoằng dương Luật tạng, đồng thời ngài duyệt xét 58 quyển luật Thập tụng của ngài La-thập dịch, triển khai thêm 3 quyển nữa, cộng thành 61 quyển, rồi lại trước tác riêng 2 quyển Tạp vấn luật sự. Sau ngài sang phương Nam, ở chùa Trụ Tân tại Giang Lăng, xiển dương hoằng truyền luật Thập tụng.
Ngài Phật-đà-da-xá trước khi đến Trung Quốc từng lưu lại Sa-sơ (Kāshgar), nhận đầy đủ lễ ưu đãi của quốc vương nước ấy, cũng từng quen biết ngài La-thập. Sau đó, ngài muốn hội ngộ với ngài La-thập, liền đến Qui-tư, nghe ngài La-thập đã vào Trung Quốc, mới đến Cô Tạng. Vào năm Hoằng Thỉ thứ 10, ngài ở chùa Trung, Trường An dịch Tứ phần luật 60 quyển (hoặc làm 45 quyển, hoặc 40 quyển, hoặc 44 quyển). Năm Hoằng Thỉ thứ 15, ngài dịch xong 22 quyển kinh Trường A-hàm. Lại dịch Tứ phần tăng giới luật 1 quyển. Sau đó, ngài trở lại Kế Tân, lại có được kinh Hư Không Tạng bồ-tát 1 quyển, mới giao phó cho thương nhân đưa sang Lương Châu.
Ngài Phật-đà-thập chuyên tinh luật Di-sa-tắc bộ (Mahīśāsaka). Năm đầu niên hiệu Cảnh Bình nhà Tống (năm 423 Tl.), ngài đến Dương Châu, tháng 12 năm sau ở chùa Long Quang, khẩu tụng Ngũ phần luật 30 quyển (hoặc 34 quyển), Ngũ phần luật tỳ-kheo giới bổn 1 quyển, Di-sa-tắc yết-ma 1 quyển. Người chịu trách nhiệm phiên dịch những luật ấy là Sa-môn nước Vu-điền tên Trí Thắng (Xuất Tam Tạng ký tập quyển 3).
Ngài Đàm-ma-mật-đa ban đầu đi qua nước Qui-tư, đến Đôn Hoàng, kiến lập tinh xá. Năm đầu niên hiệu Nguyên Gia nhà Tống (năm 423 Tl.), ngài lần hồi đi đến đất Thục, rồi men theo sông Dương Tử xuống phía Đông, đến Kiến Nghiệp, mới lưu lại chùa Trung Hưng, sau cư trú tại chùa Kỳ Hoàn. Năm Nguyên Gia thứ 18, ngài dịch kinh Hư Không Tạng bồ-tát thần chú 1 quyển, kinh Quán Hư Không Tạng bồ-tát 1 quyển, kinh Quán Phổ Hiền bồ-tát hạnh pháp 1 quyển, kinh Tân vô lượng thọ 2 quyển, kinh Úc-già trưởng giả sở vấn 1 quyển, kinh Quán vô lượng thọ Phật 1 quyển, Ngũ môn thiền kinh yếu dụng pháp 1 quyển, kinh Thiền bí yếu 5 quyển, kinh Phật thăng Đao-lợi thiên vị mẫu thuyết pháp 1 quyển, kinh Tượng dịch 1 quyển, kinh Chư pháp dũng vương 1 quyển, kinh Chuyển nữ thân 1 quyển v.v…. cộng lại là 17 quyển, 12 bộ. Trong số ấy phần nhiều là thuộc bộ Đại thừa Phương đẳng, điều đó không thể không làm cho chúng ta chú ý. Ngài đối với thiền pháp đã đạt đến chỗ sâu xa, thường dùng đạo thiền để dạy bảo học trò, nên nhiều người ngưỡng mộ cao phong của ngài, bất kể ngàn dặm xa xôi đều đến qui y ngài. Người xa gần đều tôn sùng ngài là Đại thiền sư.
Ngài Cầu-na-bạt-ma năm 20 tuổi xuất gia thọ giới, học hết 9 bộ kinh Đại thừa,25 lại thông đạt Tứ A-hàm của Tiểu
25 9 bộ kinh Đại thừa: 1. Tu-đa-la, dịch Khế kinh, tức là văn trường hàng…; 2. Kì-dạ, dịch Trùng tụng kệ… là lặp lại văn trường hàng bằng kệ; 3. Già-đà, dịch Phúng tụng… là không lặp lại văn trường hàng mà chỉ nói thẳng vào kệ tụng…; 4. Y-đế-mục-đa, dịch Bản sự… Như Lai nói những việc tu hành của Bồ-tát còn ở nhân địa; 5. Xà-đa-già, dịch Bổn sanh, Như Lai nói những việc tu khổ hạnh của Ngài khi còn là Bồ-tát…; 6. A-phù-đạt-ma, dịch Vị tằng hữu, đức Phật nói những việc chưa từng có; 7. Ưu-đà-na, dịch Tự thuyết, là không có người thưa hỏi Như Lai, Ngài tự dùng Tha tâm trí quán căn cơ chúng sanh mà giảng thuyết; 8. Tỳ-
thừa, đối với Thiền pháp cũng thâm hiểu diệu lý, nên người đương thời gọi là pháp sư Tam tạng. Lúc ngài 30 tuổi, vua nước Kế Tân mất, không người nối dõi, người trong nước cho rằng ngài Bạt-ma là hậu duệ của Đế thất (dòng dõi vua), vả lại tài đức cao minh nên cố mời ngài hoàn tục, nối thừa ngôi vua, nhưng ngài không nhận, chạy trốn vào vùng sơn dã. Về sau, ngài hành giáo ở nước Sư Tử (Tích-lan) và nước Xà-bà (Jawa),26 rồi theo thuyền của thương nhân tên là Trúc-nan-đề (Nandi) đến Quảng Châu. Năm Nguyên Gia thứ 8 nhà Tống (năm 431 Tl.), đáp lời thỉnh mời tha thiết của Văn đế, ngài đến Kiến Nghiệp, trụ ở chùa Kỳ Hoàn, thọ đủ sự đãi ngộ ưu ái, vì vua giảng kinh Pháp hoa và kinh Thập địa. Những kinh ngài dịch: Kinh Bồ-tát thiện kiến 9 quyển (hoặc làm thành 20 quyển), kinh Ưu-ba-li vấn bồ-tát thọ giới 1 quyển, kinh Bồ-tát nội giới 1 quyển, kinh Ưu-bà-tắc ngũ giới tướng 1 quyển, kinh Long Thọ bồ-tát vị Thiền-đà Ca-nị-sắc-ca vương thuyết pháp yếu lược 1 quyển, kinh Ưu-bà-tắc ngũ giới oai nghi 1 quyển, Sa-di oai nghi 1 quyển, Tứ phần tỳ-kheo yết-ma pháp 1 quyển, Thiện tín nhị thập giới 1 quyển, kinh Luật phần dị ký 1 quyển v.v… tổng cộng 10 bộ, 18 quyển.
Sa-môn Sư Hiền vương tộc Kế Tân, trước du hóa ở Lương châu, rồi đến Lạc Dương, nhằm giai đoạn Thái Võ đế nhà Ngụy diệt pháp, mới làm nghề y để tự che giấu, giữ đạo chẳng bỏ. Thoáng chốc Phật pháp hưng thịnh trở lại, vua sắc triệu nhậm chức làm Tăng thống, ở Trung Quốc có tên quan chức này là bắt đầu từ Sư Hiền (xem Đại Tống tăng sử lược quyển trung).
phật-lược, Phương quảng, tức chỉ kinh điển Đại thừa phương đẳng, nghĩa ấy rộng lớn; 9. Hòa-già-la, dịch Thọ ký, là Như Lai thọ ký cho Bồ-tát, Duyên giác, Thanh văn thành Phật.
26 Hán: Trảo-oa 爪哇, E. Java (Jawa), hòn đảo của Indonesia.
Ngài Trí Mãnh vì muốn chu du Tây Vực, tuần bái Thánh tích và cầu chánh pháp nên cùng 15 vị Sa-môn đồng chí hướng, vào năm Hoằng Thỉ thứ 6 (năm 404 Tl.) xuất phát từ Trường An đi qua Nam đạo (con đường giao thông phía Nam), vượt Thông Lĩnh, qua sông Tân-đầu (Sindhu), vào nước Ca-thấp-di-la, ở hồ A-nậu-đạt (Anavataptā), gặp được đại A-la-hán, vị A-la-hán khen ngợi ngài. Ngài Trí Mãnh từng cúng dường bát của Phật, cái bát có màu sắc, ánh sáng rực rỡ, ai có phát nguyện đều linh nghiệm chẳng sai (xem Xuất Tam Tạng ký quyển 15).
Vào năm đầu niên hiệu Vĩnh Sơ nhà Tống (năm 420 Tl.), ngài Pháp Dũng cùng với 225 Sa-môn đồng chí hướng như Tăng Mãnh, Đàm Lãng v.v… xuất phát từ U Châu đi qua quận Hải Tây tỉnh Hà Nam, ra khỏi quận Cao Xương, theo Bắc đạo (con đường giao thông phía Bắc), vượt Thông Lĩnh, đến nước Ca-thấp-di-la, lễ bái bát Phật, ở lại nước này hơn một năm, học sách Phạn và ngôn ngữ Phạn, cầu tìm được một bộ kinh Quan Thế Âm thọ ký bản Phạn (Xuất Tam Tạng ký quyển 15).
Ngài Trí Nghiễm cũng vì cầu chánh pháp, Tây du các nước, đến nước Ca-thấp-di-la, vào tinh xá Ma-thiên-đà-la (Mahēndra), theo ngài Phật-đà-bạt-đà-la (Buddhabhadra - Giác Hiền) học hỏi Thiền pháp và khẩn cầu ngài cùng mình trở lại vào Quan Trung. Đến năm Nguyên Gia thứ 4 (năm 427 Tl.), ngài cùng Sa-môn Bảo Vân thu hoạch nhiều kinh điển bản Phạn ở Tây Vực rồi phiên dịch ra, tức là những kinh Vô Tận Ý bồ-tát 6 quyển, kinh Pháp hoa tam-muội 1 quyển, kinh Quảng bác nghiêm tịnh bất thoái chuyển luân 4 quyển (hoặc 6 quyển), kinh Tứ Thiên vương 1 quyển, kinh Phổ diệu 8 quyển (hoặc 6 quyển, hoặc 4 quyển), kinh Tịnh độ tam-muội 1 quyển, kinh Bồ-tát anh lạc bản nghiệp 2 quyển, kinh
Sanh 5 quyển, kinh Thiện Đức Ưu-bà-tắc 1 quyển, kinh A-na-hàm 2 quyển v.v…., cộng 10 bộ, 31 quyển. Trong số kinh điển ấy là lúc ngài ở tại nước Ca-thấp-di-la mà cầu được. Sau đó một lần nữa, ngài đi đến Ấn Độ rồi mất ở nước Ca-thấp-di-la.
Ngài Tuệ Lãm qua đời niên hiệu Đại Minh nhà Tống (năm 457-464 Tl.). Ngài từng đi Tây Vực lễ kính bát Phật ở nước Ca-thấp-di-la, theo Tỳ-kheo Đạt-ma (Dharma) học hỏi yếu chỉ của thiền. Vào năm Nguyên Gia thứ 4 (năm 427 Tl.), ngài Đạt-ma nhập định, lên cung trời Đâu-suất theo đức Bồ-tát Di-lặc (Maitreya) thọ giới Bồ-tát, về sau lại đem giới pháp trao cho ngài Tuệ Lãm. Cho nên khi ngài trên đường trở về nước Vu-điền, đã đem giáo pháp này trao cho chư Tăng của nước ấy, nhiên hậu mới về Trung thổ (Lương cao tăng truyện quyển 11, Danh tăng truyện quyển 20).
Những điều nêu trên đều liên hệ với sự thật lịch sử. Chúng ta căn cứ vào đây dễ dàng tìm được tình hình đại khái Phật giáo nước Ca-thấp-di-la trước sau thế kỷ thứ V Tây lịch. Nước này từ xưa đến này là đất của Phật giáo Tiểu thừa độc chiếm, tức đương thời Phật giáo Tiểu thừa mười phần vẫn chiếm ưu thế, nên Phật điển từ nước này truyền vào Trung thổ đều là Tiểu thừa bộ, tức là kinh luận Tiểu thừa như kinh Tứ A-hàm, luận Tỳ-bà-sa, luận Xá-lợi-phất A-tỳ-đàm, luận A-tỳ-đàm bát kiền-độ, luận A-tỳ-đàm tâm v.v…, những luật Tiểu thừa khác thuộc về Đàm-vô-đức bộ (Dharmagupta - Pháp tạng bộ), Di-sa-tắc bộ, Tát-bà-đa bộ, cũng có truyền đến.
Nước Ca-thấp-di-la tuy có các bộ luật Tiểu thừa lưu hành, nhưng trong đó có thế lực nhất vẫn là Tát-bà-đa bộ. Tát-bà-đa bộ là bộ giá trị nhất trong các phái Tiểu thừa, biểu lộ sự
hơn hẳn, nên Phát trí luận do ngài Ca-chiên-diên soạn và việc chú thích Đại Tỳ-bà-sa luận của ngài đương nhiên không có gì dị nghị nghi ngờ. Sách của ngài Ca-chiên-diên là những trước tác rất có tổ chức trong các luận mà giải thuyết cực kỳ minh triết, nên sách ấy là bảo điển cho hàng học giả Phật giáo sau này. Thế kỷ thứ III Tây lịch, đại học giả của nước Đát-xoa-thỉ-la tên Đồng Thọ (Kumāralabdha - Cưu-ma-la-đa),27 là vị đại sư về Kinh học (Sautrantika) lúc bấy giờ — Huyền Sướng Ha-lê-bạt-ma truyện, Tam luận huyền nghĩa quyển thượng cho ngài Đồng Thọ là học giả Hữu bộ, mà Đại thừa huyền luận quyển 5 lại nói sở học của ngài xuất phát từ Đàm-vô-đức bộ. Nhưng Tây Vực ký quyển 3, Ấn Độ Phật giáo sử của Kalhaṇa (trang 78) và Duy thức luận thuật quyển 2, đều cho ngài là bậc thầy của Kinh học, đương nhiên là sự thật. Nhưng đệ tử là Ma-hê-bạt-ma (Harivarman) từng đem Phát trí luận của Ca-chiên-diên truyền trao cho chúng Tăng, vì luận này bao hàm các kinh, là mục quan trọng của ba Tạng, cũng có thể biết được giới Phật giáo nước ấy rất tôn trọng bộ luận này. Đồng thời, Đại Tỳ-bà-sa luận được biên soạn tại nước Ca-thấp-di-la, dưới sự bảo hộ nhiệt tâm của Kaniṣka đời thứ hai, đã tập đại thành giáo nghĩa của Hữu bộ, và đối với Hữu bộ coi như là một sự phát triển thuận lợi vi mô. Cho nên tại nước này có nhiều vị đại sư xuất thân từ Hữu bộ mà ra. Như ngài Đồng Thọ tuy là người nước Đát-xoa-thỉ-la, nhưng học được giáo nghĩa ấy ở nước Kế Tân, đương nhiên có thể là nhân vật thuộc giới Phật giáo Ca-thấp-di-la. Căn cứ sự truyền lại của ngài Huyền Trang thì thuở nhỏ ngài xuất gia, nghiên cứu chuyên sâu Phật giáo, lấy việc “phá tà hiển chánh” làm nhiệm vụ của mình, trước thuật vài mươi bộ
27 Cưu-ma-la-đa 鳩摩羅多: Hay gọi là Câu-ma-la-la-đa. (Tây Vực ký 3, T51n2087, p885a01).
— Duy thức luận thuật ký28 quyển 2 cho rằng, Luận sư Đát-xoa-sí-la kinh bộ là Cưu-ma-la-đa đã tạo ra Cửu bách luận, Dụ man luận;29 vậy gọi là Cưu-ma-la-đa này đương nhiên tức là Đồng Thọ. Nhưng Duy thức luận thuật ký lại cho rằng ngài là người của thời 100 năm sau khi đức Phật diệt độ, đây rõ ràng là nhầm lẫn (tham duyệt Phật giáo niên đại khảo, trang 174-176). Thanh danh của ngài vang dội khắp năm nước vùng Ấn Độ, là Thái sơn, Bắc đẩu của phương Bắc, cùng với ngài Mã Minh phương Đông, ngài Đề-bà phương Nam, ngài Long Thọ phương Tây, sáng ngời chói rọi lẫn nhau. Về sau, vua Vô Ưu của nước Khiết-bàn-đà (nay là Sarikol) hâm mộ thịnh đức của ngài, dùng vũ lực bức bách rước ngài từ nước Đát-xoa-thỉ-la về nước mình (Tây Vực ký quyển 12, nước Khiết-bàn-đà).
Lại đến giữa thế kỷ thứ V Tây lịch, có vị Luận sư Ngộ Nhập (Skandhila - Sách-kiền-địa-la) đã tận lực tuyên dương Hữu bộ, trước tác Nhập A-tỳ-đạt-ma luận 2 quyển (ngài Huyền Trang gọi là Chúng sự phận Tỳ-bà-sa luận), cũng là bậc thạc học của Ca-thấp-di-la. Đang lúc này, ngài Thế Thân (Vasubandhu) ở nước Kiền-đà-la đến nước này học giáo nghĩa của Hữu bộ, nghiên cứu rộng Tỳ-bà-sa luận, và sau khi về nước, phản đối thuyết của Hữu bộ mà theo Kinh bộ để giải thích yếu chỉ của Tỳ-bà-sa luận, trước tác Câu-xá luận 30 quyển mà đệ tử của ngài Ngộ Nhập là Chúng Hiền (Samghabhadra - Tăng-già-bạt-đà-la) mới tạo ra Câu-xá bạc luận (một tên khác là Thuận chánh lý luận) gồm 80 quyển để đả phá. Sau đó nước này vẫn thuần thành phụng hành thuyết
28 Duy thức luận thuật ký (Thành duy thức luận thuật ký, 20 quyển, Khuy Cơ soạn thời Đường) 2, T43n1830_p274a08.
29 Theo Câu-xá luận ký (Câu-xá luận quang ký) 2, T41n1821_p35c03, nói ngài Cưu-ma-la-đa trước tác luận Dụ man, Si man và Hiển liễu.
của Hữu bộ. Rồi có luận sư Vô Cấu Hữu (Vimalamitra - Tỳ-mạt-la-mật-đa) xuất hiện, thông hiểu rộng hết các kinh, nghiên cứu tận cùng các dị luận, chu du năm nước vùng Ấn Độ, tu học ba tạng, thanh danh vang khắp nơi, sau khi học nghiệp thành tựu mới trở về bổn quốc, giữa đường tuần bái tháp của Luận sư Chúng Hiền, trần tình chí nguyện của mình, thề sẽ tuyệt diệt danh xưng Đại thừa, tiêu diệt tên tuổi Thế Thân mà đến nỗi phát điên. Vậy sau khi Luận sư Chúng Hiền mất, nước này nhất định vẫn thịnh hành giáo nghĩa của Nhất thiết hữu bộ là rõ ràng vậy!
Lại căn cứ truyện30 của ngài Huyền Trang, có Luận sư Bố-lạt-noa (Pūrṇa - Viên Mãn) ở Già-lam Thương Lâm, cách vương thành nước này về phía Tây bắc hơn 200 dặm, trước tác Thích Tỳ-bà-sa luận, ngài cũng là người của Hữu bộ. Ngài Huyền Trang lại ghi có vị Luận sư Phật-địa-la (Bodhila), xưa ở tại ngôi Già-lam của Đại chúng bộ, cách vương thành 140 hay 150 dặm phía Tây, trước tác Đại chúng bộ tập chân luận. Có thể biết, thời ngài Huyền Trang trở về trước, giáo nghĩa Đại chúng bộ ở nước này cũng thịnh hành. Các học phái Tiểu thừa khác như Pháp tạng bộ, Hóa địa bộ, cũng từng lưu hành, trong số ấy chỉ có học phái Hữu bộ là chiếm thế lực nhiều nhất.
Điều chúng ta đáng chú ý là việc đương thời các vị Sa-môn từ nước này đến Trung thổ, đa số thông hiểu Thiền đạo. Như các ngài Đàm-ma-da-xá, Đàm-ma-mật-đa-la và Cầu-na-bạt-ma đều thuộc hạng Cao tăng tinh thông thiền pháp, hơn nữa đều đem thiền pháp dạy trao cho học trò. Như Phật-đà-bạt-đà-la (Buddhabhadra) theo ngài Trí Nghiễm đến Trung Thổ, cùng người bạn học là ngài Tăng-già-đạt-đa (Samghadatta) từ nước
30 Tây Vực ký 3, T51n2087_p888a05.
Ca-duy-la-vệ (Kapilavastu) đi đến Kế Tân, dùng pháp thiền hành giáo, thanh danh nhờ đó mà vang xa. Ngài đã cống hiến rất nhiều cho sự phát triển Thiền tông Trung Quốc. Ngài Tuệ Quán đem những điều nghe được về ngài Phật-đà-bạt-đà-la viết ở bài tựa kinh Tu hành địa bất tịnh quán.31 Trong bài ấy trình bày rất rõ ràng vị giáo chủ của thiền pháp nước Kế Tân, xin viết lại sau đây:
“Một bộ kinh điển tên là Cụ túc thanh tịnh pháp trường, truyền pháp này đến nước Kế Tân, chuyển đến ngài Phú-nhã-mật-la. Ngài Phú-nhã-mật-la cũng lậu tận, đầy đủ lục thông, sau đến đệ tử là Phú-nhã-la cũng đắc Ứng chơn (A-la-hán). Hai người này ở trong nước Kế Tân, là đệ nhất giáo chủ. Ngài Phú-nhã-mật-la qua đời đã hơn 50 năm, vị đệ tử qua đời hơn 20 năm. Ngài Bồ-tát Đàm-ma-đa-la cùng ngài Phật-đà-tư-na đều chung học hỏi được Pháp bảo cao thắng tuyên hạnh. Ngài Phật-đà-tư-na hành hóa ở Kế Tân là Đệ tam huấn thủ (bậc trưởng giáo huấn), có người gần gũi với ngài, theo ngài nghe dạy pháp giáo, lúc ngài Niết-bàn có di giáo rằng: Số người được ta giáo hóa rất nhiều, học trò nhập đạo có đến 700 người. Người được ngài Phú-nhã-la dạy làm giáo sư là 15, 16 người, như ngày nay ở trong Tây Vực ghi việc giáo hóa hưng thịnh, người thọ học đông.”
Xem qua đoạn văn này thì Đệ nhất giáo chủ nước Ca-thấp-di-la phải là ngài Phú-nhã-mật-la (Puṇyamitra), đệ tử của ngài là Phú-nhã-la (Punyara), là Đệ nhị giáo chủ, ngài Đàm-ma-đa-la (Dharmatrāta - Đạt-ma) và ngài Phật-đà-tư-na (Buddhasena - Phật Thái Tiên), là Đệ tam giáo chủ. Cho nên trong truyện Phật-đà-bạt-đà-la nói ngài Phật Thái Tiên trao
31 Xuất tam tạng ký tập 9, T55n2145_p66c20.
giáo pháp cho đại thiền sư Phật-đà-bạt-đà-la, là người truyền thiền pháp cho Đông độ. Lại căn cứ di ngôn của vị ấy, số người của ngài giáo hóa lúc sinh thời rất đông, học trò vào đạo là 700 người. Ngài Tuệ Quán cũng nói rằng: “Có người đến với ngài, gần gũi theo ngài thọ giáo pháp, thấy ngài Niết-Bàn”. Căn cứ lời văn bài tựa này thì biết, lúc này Phật-đà-bạt-đà-la đến Trung Quốc hình như ngài Phật-đà-tư-na đã nhập diệt rồi. Vậy năm mất của ngài phải ở năm 400 Tây lịch trở về trước. Vả lại ngài chẳng phải trọn đời làm khách ở Kế Tân mà từng đến Vu-điền hành hóa. Lúc bấy giờ, ngài Tự-cừ-kinh-thanh ở ngôi chùa lớn (đại tự) Cù-ma-đế (Gomatī) tại Vu-điền, theo vị đó thọ giáo. Căn cứ Thiền yếu bí trị bịnh ký (chép trong Xuất tam tạng ký tập quyển 9), cho rằng ngài Phật-đà-tư-na thiên tài trác tuyệt, một mình đi các nước, có thể tụng nửa ức kệ Phật, kiêm tinh thông thiền pháp, dung hợp rộng trong ngoài, không sách gì chẳng hiểu, người đời đều tôn xưng ngài là sư tử trong loài người. Có thể biết đương thời trong giới giáo hóa vị ấy nhất định có thế lực. Và đương thời, ngài Đàm-ma-đa-la cũng được giới giáo hóa tôn ngưỡng như vị ấy. Sau khi ngài Phật-đà-tư-na tịch, ngài Đàm-ma-đa-la tận lực với Phật giáo Ca-thấp-di-la.
Trong Danh tăng truyện nói: Ngài Huệ Lãm ở nước Kế Tân thọ thiền pháp với ngài Đạt-ma-đạt (Lương cao tăng truyện gọi là Tỳ-kheo Đạt-ma) — e rằng cùng Đàm-ma-đa-la là một người — vào năm Nguyên Gia thứ 4 (năm 427 Tl.), ngài Đạt-ma-đạt nhập định thấy Bồ-tát Di-lặc, theo chỉ dạy của Bồ-tát, liền đi sang nước Ni-kiều-ha-la (ngài Huyền Trang gọi là Na-yết-la-hạt - Nagarahāra) thọ Bồ-tát giới. Trong bài tựa của ngài Tuệ Quán đã dẫn ở trước, nói rằng: “Ngài Đàm-ma-la từ Thiên Trúc đem pháp yếu đó truyền cho ngài Bàn-đà-la”, hình như ngài đó không phải là người Kế
Tân mà là người Ấn Độ đến đây tu học pháp thiền. Thuyết này nói là đem pháp yếu truyền cho Phật-đà-bạt-đà-la, không giống trong Lương cao tăng truyện ghi chép, không biết đâu là chính xác. Song pháp truyền trao cho Đạt-ma cùng Phật Thái Tiên hình như thuộc hệ Phú-nhã-mật-la. Trong bài tựa của ngài Tuệ Quán cho rằng những vị đó thọ pháp với ngài Phú-nhã-la, nhưng trong thiên đầu kinh Đạt-ma-đa thiền đã ghi chép, sau khi đức Phật diệt độ, những vị tôn giả truyền đăng từ ngài Đại Ca-diếp cho đến tôn giả Bất-nhã-đa-la (Phú-nhã-mật-la), ở đầu thiên ghi rằng: “Ta nay đem điều được nghe ấy mà nói lên nghĩa đó”, thì tác giả kinh Đạt-ma thiền nhất định đã trực tiếp thọ pháp với ngài Phú-nhã-mật-la, không có gì nghi ngờ (tham khảo bài Đạt-ma của tiến sĩ Tùng Bản Văn, tiết thứ 5).
Vậy ngài Phú-nhã-la đương nhiên chẳng phải là thầy của các vị đó, hình như là bậc tiền bối trong đồng môn phái. Căn cứ trong bài tựa của ngài Tuệ Quán mà tra khảo thì người thọ giáo với ngài Phú-nhã-la mà thành giáo sư có 15, 16 người, khoảng năm 400 Tây lịch, đều đi đến các nước Tây Vực hoằng dương, giáo hóa, học trò rất nhiều. Nhưng hơn 20 năm trước, ngài Phú-nhã-la với ngài Đạt-ma và ngài Phật Thái Tiên đắc pháp bắt đầu làm giáo chủ, mà ngài Phú-nhã-mật-la đã qua đời hơn 50 năm thì thời kỳ hoạt động của ngài Phú-nhã-mật-la đối với giới Phật giáo Ca-thấp-di-la phải trước, hoặc sau thế kỷ thứ IV Tây lịch, và thời kỳ hoằng pháp của ngài Phú-nhã-la phải khoảng giữa thế kỷ thứ IV.
Do đó, nước Ca-thấp-di-la sớm được ân huệ dạy bảo của các đại Thiền sư, mà đương nhiên thời đại Đàm-ma-đa-la, Phật-đà-tư-na là trung tâm Thiền giáo của các nước Tây Vực, đó là từ thế kỷ thứ V trở về sau. Trong các Sa-môn từ nước này đi đến Trung Quốc, người tinh thông Thiền đạo quả thật
cũng không ít. Thiền pháp nước này chắc chắn rất hưng thịnh, đồng thời đối với việc nghiên cứu và thực hành luật cũng nhiều hơn, những vị từ nước này đến Trung thổ như ngài Phất-nhã-đa-la, Ty-ma-la-xoa, Phật-đà-da-xá, Phật-đà-thập v.v… đều là những vị thanh tịnh Tăng, trì giới kham khổ đã tiếp nối đến Trung Quốc tuyên truyền các bộ luật. Tăng truyện quyển 3 của ngài Tuệ Kiểu khen rằng: “Nước kế Tân xuất hiện nhiều bậc Thánh đạt”, điều đó là có.
Chúng ta lại có thể chú ý đến thời kỳ đầu thế kỷ thứ V Tây lịch, số sách Phật từ nước Ca-thấp-di-la truyền đến Trung thổ, kinh, luật thuộc về Đại thừa bộ đa số là từ bộ Đại thừa phương đẳng. Từ đây quan sát tìm hiểu, hình như lúc bấy giờ nước này cũng ít nhiều có lưu hành giáo lý Đại thừa. Nhưng từ lúc ngài Tam tạng Đàm-vô-sấm người Thiên Trúc đến Trung Quốc trở về trước, ngài đã mang theo những kinh điển Đại thừa như bộ kinh Đại Niết-bàn 10 quyển và kinh Bồ-tát giới, Bồ-tát giới bổn v.v… đến nước Kế Tân, lúc đó nước Kế Tân phần nhiều học Tiểu thừa, chẳng tin Niết-bàn, ngài Đàm-vô-sấm liền từ giã đi đến nước Qui-tư. Có thể thấy Phật điển Đại thừa dù có truyền đến cũng chẳng có ai học tập, vì Tiểu thừa giáo chiếm thế lực rất lớn.
Thế nên Tây Tạng truyện ghi:
“Ban đầu nước Ca-thấp-di-la hoàn toàn không có Đại thừa giáo, nhưng từ thời ngài A-tăng-già (Asaṅga – Vô Trước) và em ngài (Thế Thân) thì Đại thừa bắt đầu lưu truyền chút ít. Đến thời ngài Samghadāsa mới lưu hành nhiều. Ngài Samghadāsa là đệ tử của ngài Thế Thân, đã nhiều năm truyền giáo ở Vaderasana, được sự thỉnh mời của Turuṣka-Mahāsammata, là vua nước Ca-thấp-di-la, mới đến nước này, kiến lập hai ngôi Già-lam