Tìm kinh sách
Vần A-Z:
Nghiên cứu Phật Giáo Tây Vực

Nghiên cứu Phật Giáo Tây Vực

Tác giả: Cư sĩ Tuệ Khai, Phụ chú: Thích Tâm Nhãn. Dịch giả: Cư sĩ Tuệ Khai, Phụ chú: Thích Tâm Nhãn. Năm xuất bản: 2011. Số trang: 604.

Chương 32: II. Niên Đại Các Vị Vua Đại Nguyệt Thị (Trang 247 - 274)

II. NIÊN ĐẠI CÁC VỊ VUA ĐẠI NGUYỆT THỊ
Căn cứ vào truyện Tây Vực trong Hậu Hán thư ghi chép liên quan đến nước Đại Nguyệt Thị: Đại Nguyệt Thị di trú đến Đại Hạ, sau khi bố trí năm Hấp hầu, phân chia để cai trị các vùng đất hơn 100 năm, nước này liền phát sinh một sự kiện thay đổi lớn:
“Nước Đại Nguyệt Thị ở thành Lam-thị, Tây tiếp giáp nước An Tức, bằng 49 ngày đi đường, Đông cách chỗ ở của Trưởng sử9 6.537 dặm, cách Lạc Dương 16.370 dặm, có mười vạn hộ, gồm bốn mươi vạn khẩu, binh lính tinh nhuệ hơn mười vạn người. Đầu Tiên Nguyệt Thị bị hung nô diệt, liền dời đến Đại Hạ, chia nước ấy làm năm bộ phận Hấp hầu là Hưu Mật, Song Mĩ, Quí-sương, Hật Đốn, Đô Mật. Hơn một trăm năm sau, Hấp hầu Quí-sương là Kujula tấn công tiêu diệt bốn Hấp hầu kia, tự lập làm vua, quốc hiệu là Quí-sương vương, xâm chiếm An Tức, lấy đất Cao-phụ, lại tiêu diệt Bộc Đạt, Kế Tân. Kujula hơn tám mươi tuổi thì chết. Con là Wema lên thay làm vua, lại diệt Thiên Trúc, bố trí một vị tướng giám lĩnh ở đó. Nguyệt Thị từ đây về sau rất cường thịnh, các nước đều xưng là Quí-sương vương. Hiệu cũ của nước ấy gốc Hán gọi là Đại Nguyệt Thị...” (Hậu Hán thư quyển 18)
Tên gọi Quí-sương, thấy trong lịch sử hai nước Armenia và Arabia đều ghi “Kusān”, điều này đã thành định luật của giới học thuật, tuy không còn ai chủ trương thuyết khác, nhưng Kujula và Wema là vua của Đại Nguyệt Thị mà Hậu Hán thư đã nêu quả thật là Quí-sương vương. Nhưng tên ấy trong các truyện ký ngày nay, xét cho cùng có được ghi chép
 

9 Trưởng sử 長史: Chức quan phụ tá quan Thái thú thời Hán.
 
tương đương không? Niên đại ấy là thời nào? Đây chính là dị luận đáng phân vân. Vấn đề ấy đầu tiên xin bàn về địa danh. Kujula thống nhất các Hấp hầu, xâm lược Đại Hạ (Bactria), rồi vượt qua núi Đại Tuyết chiếm lấy Kabul, diệt tan Bộc Đạt — đất này chẳng rõ, ông Franke căn cứ Hậu Hán thư cho là miền Bắc của Arachosien (nay là phương Nam Afghanistan và một phần của Panjab), tương đương với việc ghi là Phốc-thiêu (người Hy Lạp ghi là IIaktyikh) (O. Franke: Zur Kenntnis der Türkvölker und Skythen Zentralasiens. S. 99. 73). Xem qua sự chỉ dẫn trên thì âm của hai địa danh này hình như có sự tương đồng, lại căn cứ vào việc ghi chép trước và sau để khảo sát thêm, có thể thuyết này không đến nỗi lầm lẫn. Lại nữa, lấy việc diệt Kế Tân (Vùng Tây bắc của Ca-thấp-di-la, địa phương Kiền-đà-la ngày nay) mà khảo cứu niên đại của Kujula hình như cũng có thể chứng minh được. Tên Kujula ở trên tiền tệ của vương gia Quí-sương cùng với “Kujula Kadphises” là một tên. Nói đến việc con vị vua ấy là Wema đánh diệt Thiên Trúc, danh xưng Wema thấy ở trên tiền tệ của vương triều Quí-sương giống với tên “Wema Kadphises”. Thuyết này có rất sớm là chủ trương của Cunningham, được một số học giả ngày nay công nhận. Duy chỉ có ông Specht (Ed. Specht) là phản đối Kujula không phải một người, vì cho rằng Kujula đối âm của Kaniṣka (Ca-nị-sắc-ca) là thoả đáng hơn (Ed. Specht: Les Indoscythes et l’epoque du renge de Kanichka. J. A. 1897, tome X. PP. 192-3). Nhưng thuyết của ông Specht đã bị ông Boyer bác bỏ, bởi vì vua Kaniṣka tuy đã xâm nhập vào Mathurā,10 thế lực bao trùm Ấn Độ, nhưng Hậu Hán thư cho là thời đại Kujula vẫn
 

10 Hán: Mã-đồ-lạt 馬圖剌 (Skt. Madhurā, Mathurā), tức thành Khổng Tước, ngôi thành cổ ở Ấn Độ. Cũng là vương quốc thời xưa ở Trung Ấn Độ. Vị trí hiện nay là dải Tây nam sông Châu-mộc-na (Jumna).
 
 chưa có thế lực như vậy, đến đời con ông ấy là Wema mới diệt Ấn Độ. Vậy thuyết Kujula là Kaniṣka quả thật là lầm lạc, nên vẫn gọi “Kujula” như cũ mới là chính xác (M. A. - M. Boyer: L’epoque de Kanichka. J. A. 1990. Tome XX. P. 549). Đồng thời, tiền tệ của Kujula phát hiện thấy ở Panjab, còn tiền tệ của Wema không chỉ có ở Kabul, Panjab mà còn tìm thấy khắp những vùng Allahabad và Jabalpur ở Trung Ấn Độ, có thể khớp với sự ghi chép trong Hậu Hán thư!
Nhưng điều ông Specht đề xuất ở trước là vì ông Cunningham và Lévi quá xem trọng câu “Sau hơn một trăm năm” trong Hậu Hán thư không rõ ràng, họ lấy điều này làm luận cứ duy nhất để khảo định “Kujula”, là niên đại của Kujula ở trước Tây lịch, đó là kết quả của sự ức đoán tưởng tượng. Riêng ông Boyer có căn cứ luận chứng xác thật về việc nghiên cứu niên đại của Kujula, quả thật là một thành công lớn; điểm lập cước của ông Boyer là lấy thời Ban Cố11 soạn Hán thư, mà sách không ghi gì về chuyện của Kujula thì việc của Kujula phải ở sau Ban Cố mất, tức là năm 92 Tây lịch trở về sau mới nghe đến. Nếu lúc Ban Cố còn sống thì đã biết chuyện ấy nhưng Hán thư thuật đến năm 42 Tây lịch, ông Boyer đoán là không phải có ý lược bỏ mà không thuật.
Tóm lại, đây chẳng phải là việc của năm 25 Tây lịch trở về trước, nên Kujula ước chừng là người của năm 30 Tây lịch, có sai số chút ít. Lập luận của ông Boyer là như thế (J. A. 1900. Tome XV. PP. 541-8).
Ông Franke cũng từng khảo cứu về niên đại của Kujula thống nhất Hấp hầu, chủ trương của ông giống với ông
 

11 Ban Cố 班固: Ban Cố (năm 32-39), người An Lăng Phù Phong (nay Đông bắc Hàm Dương, Thiểm Tây), thời Đông Hán, tự là Mạnh Kiên. Ông kế nghiệp cha soạn Hán thư hơn 20 năm mới hoàn thành.
 
Boyer, cho rằng việc đó phải thuộc về năm 24 Tây lịch trở về sau; như Hán thư ghi đến năm 24 Tây lịch, tức là thời Vương Mãng (Tây Hán), có nói đến việc triều cống của các nước Khương Cư, Đại Nguyệt Thị, An Tức, Kế Tân, vậy đủ minh chứng lúc bấy giờ các nước còn độc lập, chưa bị Kujula tóm thâu. Nhưng sự thống nhất này mới bắt đầu thấy ở Hậu Hán thư, mà Hậu Hán thư là do Phạm Diệp soạn năm 44-45 Tây lịch, tuy rất là muộn về sau, nhưng truyện Tây Vực trong sách là căn cứ theo lời thuật lại của Ban Dũng,12 con của Ban Siêu13 vào năm cuối đời An đế (năm 107-125 Tl.); lấy điều này mà bàn luận thì những ký sự trong truyện Tây Vực của Hậu Hán thư đều xảy ra từ năm 25 Tây lịch, đến khi Ban Dũng vào ngục năm 127 Tây lịch thì dừng.
Lại căn cứ truyện Ban Siêu trong Hậu Hán thư: Năm 81 Tây lịch, Ban Siêu chinh phạt Khương Cư, binh lực Khương Cư hùng thịnh, Ban Siêu mới lợi dụng Nguyệt Thị ở bên cạnh Khương Cư mà họp nhau đánh bại họ. Tuy chinh phục được Khương Cư, nhưng năm 94 Tây lịch, Nguyệt Thị xin cưới công chúa nhà Hán để làm việc báo đền, Ban Siêu cự tuyệt. Nguyệt Thị oán giận sai phó vương họ Tạ đem bảy vạn binh đánh Siêu, kết quả quân của Tạ thua trận, từ đó Nguyệt Thị mới triều cống nhà Hán. Theo ý này mà bàn luận thì bấy giờ Nguyệt Thị làm quân chủ riêng một mình, thống trị toàn quốc. Nếu đúng như thế thì tìm xem, lúc này nước Nguyệt Chi do vua nào cai trị? “Kujula” cùng “Wema” đều là Quí-sương vương trước nhất, theo những điều trong Hậu Hán thư ghi chép thì hoàn toàn không có vị nào trong hai vị vua đó cả, nhất định phải từ vua “Wema” trở về sau. Vậy niên đại
 

12 Ban Dũng: Xem cht. 5, tr. 194.
13 Ban Siêu: Xem cht. 130, tr. 93.
 
Nguyệt Thị thống nhất lại nhỏ thêm một tí nữa, qua khảo sát phải là khoảng từ năm 25 đến năm 81 Tây lịch (O. Franke: Zur Kenntnis der Türkvölker Skythen Zentalasiens. S. 69-73). Hai nhà nghiên cứu lớn kia đã suy tìm theo sử liệu Trung Quốc, có thể họ phán đoán chính xác. Từ đó về sau, thuyết này đã thành định luận của giới học thuật. Ông V. Smith cũng khảo đính việc chinh phục Kabul của “Kujula Kadphises” là ở năm 60 Tây lịch (V. Smith: Early History of India. 2nd,. P. 235). Ông Oldenberg cũng minh chứng vị vua ấy là người giữa thế kỷ thứ I Tây lịch (Oldenberg: Zur Fragge Nach der Ära des Kaniṣka N. G. G. W. Phil. Hist. Kl. 1911). Các vị khác như Ed. Chavannes, Lüders, Kennedy đều đồng ý thuyết ấy.
Song ông Kennedy lại luận rõ về việc Kujula xâm lược ngoại quốc, cho rằng vào tiền bán thế kỷ thứ I Tây lịch, khi An Tức chiếm cứ một phần lớn bình nguyên Bactria, thì trong nước có loạn tranh giành đánh nhau, phản loạn liên tục, khởi lên từ năm 40 Tây lịch, khoảng thời gian 5 năm. Gotarzes và Wardanes đời thứ nhất thường dấy động can qua, thay nhau ngưỡng cầu sự viện trợ của Đại Nguyệt Thị, mà Đại Nguyệt Thị lúc thì bênh vực bên này, lúc thì ủng hộ phía kia; về sau nhân sự suy bại của nước An Tức mà đánh diệt luôn, đoạt lấy lãnh thổ ấy, bao quát cả vùng đất rộng lớn từ Bactria, Magiana đến Hyrcania, Dalas, sau cùng mới chinh phục Kabul. Lúc bấy giờ, vua Kabul chiếm cứ vùng Gondphares của Ấn Độ-An Tức (Indo-Parthian) trở ra ngoài. Năm 46 Tây lịch, đất dọc bờ miền trung lưu sông Ấn Độ, con đường trọng yếu giao thông từ Kabul đến Ca-thấp-di-la, vua Kabul đều chiếm hết. Việc Kujula chiếm lĩnh Kabul mãi đến năm 46 Tây lịch trở về sau, phải là năm 60 Tây lịch, nghĩ không sai lắm. Lời luận bàn của ông Kennedy là như thế.
(Kennedy: The Secret of Kaniṣka J. R. A. S. 1912, PP. 95-107, việc bàn luận trong bài văn này căn cứ vào bài giới thiệu của học sĩ Quật Khiêm Đức ở Đông dương học báo quyển 3).
Như trước đã thuật, căn cứ vào sự nghiên cứu của học giả Tây dương thì niên hiệu của Kujula ước chừng khoảng giữa thế kỷ thứ I Tây lịch, là một luận chứng chắc chắn. Trong Hậu Hán thư ghi, hơn 80 tuổi Kujula mới mất, đại lược năm 75 Tây lịch dù sao ông vẫn còn sống.
Tiếp theo, Wema vua Đại Nguyệt Thị, từng đánh đất Panjab, đoạt lấy miền Đông Thiên Trúc, đây là sự thật về việc ông khuếch trương lãnh thổ, rồi so sánh khảo xét những loại tiền của vua thì có thể thấy được sự tại vị lâu dài của ông ta (V. Smith: Early History of India. P. 224. N., 1). Vậy giả định là vua Kujula tại vị ước chừng hơn 20 năm thì niên đại của Wema đại khái nhất định ở cuối thế kỷ thứ I Tây lịch. Gần đây, Ông Kennedy chứng minh sự việc và niên đại của Wema mà ông đã ghi chép, tức khoảng năm 80 đến năm 100 Tây lịch, được viết trong tác phẩm “Periplus of the Erythraean”;14 trong đó nói về người Bactria tự cai trị ở Bactria, dưới sự điều hành của Quí-sương vương, có thể thấy lúc bấy giờ thế lực của Quí-sương vương đã phổ cập ở vùng đất rộng lớn Bactria rồi. Mục ký sự này giống với Hậu Hán thư, về việc Wema chinh phục Thiên Trúc, đặt một vị tướng giám sát vùng đó. Vị tướng ấy là vị vua vô danh. Ở những nơi ấy phát hiện thấy tiền tệ của vua, quan sát nét đặc trưng của chúng có thể biết những vùng đất ấy bao quát từ Kabul, 
 

14 Nguyên tác là “Periplus of the Erythraean Sea (Red Sea)”, nghĩa là “Chuyến đi vượt Hồng hải (biển Đỏ)”. Sách do một thương gia viết lại vào thế kỷ thứ I, miêu tả tuyến hàng hải và các cơ hội buôn bán dọc Hồng hải của người Ai Cập gốc La-mã cổ đại.
 
vượt qua sông Ấn Độ đến Banares, Ghazipur đều do một người thuộc họ tộc Quí-sương vương thống lãnh, mà trực tiếp lệ thuộc vua Wema (Kennedy: A Passage in the Periphus. J. R. A. S. 1913. PP. 123-30).
Vậy căn cứ vào những ghi chép ở trên và những sử liệu Trung Quốc, chúng ta thấy được niên đại của Wema đã được giải thích rõ ràng chính xác.
Ngoài cha con “Kadphises” tức là Kujula và Wema ở trên ra, chúng ta còn thấy có những vị trên tiền tệ của vương gia Quí-sương, là ba vị vua Kaniṣka, Huviṣka, Vāsudeva. Thuộc về vua Kaniṣka thì có 7 đồng tiền, chữ số của niên đại trên đồng tiền từ 5 đến 28 chữ. Thuộc về vua Huviṣka có 12, chữ số về niên đại từ 29 đến 60 chữ. Thuộc về vua Vāsudeva là 7, chữ số niên đại là 74 đến 98 chữ. Nhưng năm gần đây đã tìm ra bản văn khắc tại Mathurā và Sāchi, trên ấy ghi tên vua Quí-sương Vāsishka (Vasashka, Vasushka - Vi-tây-tư-ca), vẫn còn nhận định được. Căn cứ những khảo chứng của ông J. F. Fleet về thứ tự những niên đại ấy thì vị vua Vāsishka tiếp theo sau vua Kaniṣka, hoặc là tiếp theo sau vua Huviṣka (J. R. A. S., 1903. P. 229; 1905, P. 257). Ông V. Smith lại nhận định Vāsishka chính là Vāsudeva (V. Smith: Early Hist. of Ind. 2nd. ed. P. 253, n., 2). Trên phương diện lịch sử Ấn Độ, những vị vua Quí-sương, vua Kaniṣka là người chiếm địa vị trong lịch sử Phật giáo, nên vài mươi năm trở lại đây, các học giả Đông-Tây đã khổ tâm nghiên cứu niên đại liên quan đến nhà vua. Đến nay có trên 12 thuyết khác nhau, mà sự sai khác của mỗi thuyết đối với niên đại của vị vua ấy cũng rất mơ hồ khác lạ. Có người nói, năm lên ngôi của nhà vua sớm nhất là năm 57 trước Tây lịch, chậm nhất là năm 27 hay 28 Tây lịch. Nếu đem những thuyết về niên đại ấy mà thứ tự giới thiệu phê bình, thì có nhiều thú vị, ích lợi nhưng bài

 
viết này không phải chuyên nghiên cứu về vấn đề vua Kaniṣka, nên dự định giới thiệu hai, ba học thuyết có sức thuyết phục và trình bày sơ lược những kiến giải thấp kém của cá nhân mà thôi.
Giới học thuật phương Tây gần đây đã đặt niên đại của vua Kaniṣka ở trước kỷ nguyên, kỷ nguyên Vikrama,15 bởi vì lấy số niên đại của vua mà tính thì hầu như là một ý kiến có sức thuyết phục. Đầu tiên, ông Cunningham chủ trương lấy niên đại lên ngôi của vua Kaniṣka là kỷ nguyên Vikrama (năm 57 trước Tây lịch) (Cunningham: Reports, ii, 68, notes; iii, 30, etc), nhưng thuyết này rất khó chấp nhận nên ông đã bỏ. Ông lại khảo chứng niên đại của vua Quí-sương là kỷ nguyên Seleucidan,16 cho là niên đại tức vị của vua Kaniṣka phải là năm 80 Tây lịch (Book of Indian Eras. P. 42). Sau đó, ông Franke cũng căn cứ vào sự  ghi chép của sách Ngụy lược, cho là năm thứ 2 trước Tây lịch, nước Nguyệt Thị đã có người truyền đạo Phật, mà vua Kaniṣka là người cải đổi tôn giáo trước nhất. Vậy vua Kaniṣka phải ở sau Kujula cùng Wema. Nếu nói Kaniṣka ở trước hai vị vua đó thì đất đai vua Kaniṣka chiếm lĩnh một thời tiêu tán, và Kujula và Wema phải một lần nữa khôi phục. Vậy trên tiền tệ của Kaniṣka, người ta thấy rõ số niên đại của nhà vua, từ 5 chữ trở xuống là thuộc kỷ nguyên Vikrama, nên chắc chắn phải lấy đó làm tiêu chuẩn mà tính (O. FranKer: Zur Kenrtnis S. 91-9). Lại
 

15 Kỷ nguyên Vikrama (Vikrama Era), là khi vua Vikramāditya (Siêu Nhật vương) tấn công bộ tộc Sakas chiếm lại Ujjain (năm 57 [58] trước Tl.), thiết lập một kỷ nguyên mới, nhân đó lấy tên vua đặt tên cho kỷ nguyên để kỷ niệm cuộc chiến thắng đó.
16 Kỷ nguyên Seluecidan (Seluecidan Era), là do danh tướng Seleucus I Nicator thời Alexander đại đế đặt ra, kỷ niệm năm ông lên ngôi tại Babylon năm 312 trước Tây lịch, đánh dấu năm thành lập vương quốc Seleukos.
 
có thuyết cho vua Kaniṣka không phải là người nối dõi sau Kujula và Wema, mà kỳ thật hai vua ấy mới là người thừa kế sau Kaniṣka. Thuyết này là tuyên ngôn của ông Fleet, nhưng ông chưa trình bày gì để làm luận cứ cả (J. R. A. S 1903 P. 334).
Việc vua Kaniṣka ở trước vua Kujula và Wema chỉ có ông Franke đề xuất luận cứ, nhưng lý do của ông cũng chưa đủ sức thuyết phục. Người ta từng nghiên cứu vùng Đại Hạ, vào khoảng thế kỷ thứ I trước Tây lịch, Phật giáo đã lưu hành. Năm trước Tây lịch, vua Đại Nguyệt Thị ở đất này từng sai sứ đến Trung Quốc truyền bá Phật giáo, nhưng nếu vội vàng cho là vua Kaniṣka thì không có một chút lý do. Vả lại, trong tiền tệ rất xưa của vua Kujula, có dòng chữ văn tự Kharosthi17 khắc đúc tên quan Thổ-nhĩ-cổ “Jabgu” (Zabgu), tức là hiệu xưng “Yavugasa” hoặc “Yaüsasa”, tương đương với hiệu Hấp hầu. Trong ấy còn thấy hình vua Graeco-Bactria tối hậu, có thể biết thế lực của Hy Lạp vào thời kỳ đầu của vị vua này chưa tiêu diệt, đến thời bản đồ của Nguyệt Thị phát triển lớn hình như mới kết thúc hoàn toàn. Sau đó trong tiền tệ của Quí-sương vương không thấy khắc hiệu xưng “Yavagasa” nữa, mà khắc lời tôn xưng đế vương là “Đại vương” (Mahārāja), hoặc “Vua của các vua” (Rājatirāja). Vậy bất luận thế nào cũng không thể không công nhận Kujula là vị vua thống nhất các Hấp hầu, lại là người đầu tiên khuếch trương lãnh thổ ấy. Thẩm xét như vậy thì thuyết của ông O. Franke đương nhiên lấy tiền cổ này để quan sát khảo tra, lẽ nào không rơi vào sai lầm, tương phản chăng? Cốt yếu là luận chứng của ông O. Franke, chứng minh vua Kaniṣka là ở trước cha con vua Kadphises, thật có nhiều chỗ hoài nghi.
 

17 Hán: Khư-lô-sắt-để. Xem cht. 53, tr. 65.
 
Nhưng theo ý kiến phát biểu của ông Kennedy vào tháng 10 năm rồi và ông Fleet vào tháng giêng năm nay, liên quan đến niên đại vua Kaniṣka, thì quả thật vua Kaniṣkara trước đời cha con vua Kadphises, lại còn đưa nhiều chứng cứ có sức thuyết phục (Kennedy: The Secret of Kaniṣka. J. R. A. S., 1912, October; J. F. Fleet, The question of Kaniṣka. J. R. A. S., 1913, January).
Thuyết của ông Kennedy được học sĩ Quật Khiêm Đức giới thiệu tỉ mỉ rõ ràng rồi, ở đây không nói nhiều thêm phiền mà lược thuật qua thôi. Ông Kennedy y cứ vào sự ghi chép trong truyện Tây Vực Hậu Hán thư, có nói Kế Tân và Arachosien lưu hành tiền tệ bằng vàng, hợp với sự thật đương thời Quí-sương vương đúc tạo tiền tệ bằng vàng lưu hành ở Ấn Độ. Việc này có thể chứng minh trong sử tích vương quốc Ấn Độ Quí-sương vào thế kỷ thứ I Tây lịch.
Lại nữa, thời kỳ thế kỷ thứ I trước Tây lịch, việc buôn bán tơ lụa ở Trung Quốc và vùng Syrian rất thịnh hành, nhưng vùng đất buôn bán qua lại phải thông qua Vu-điền, Tây bắc Ấn Độ, Kabul, vịnh Ba-tư... những nơi ấy trở thành chỗ môi giới giao dịch thì mới có tiền tệ của vua Kaniṣka đúc tạo. Văn tự trên tiền tệ tuy là văn tự Hy Lạp, nhưng đến thế kỷ thứ II Tây lịch, ở vùng châu Á Afghanistan, ngôn ngữ Hy Lạp hầu như hoàn toàn tiêu mất, Bắc Ấn Độ cũng không còn tàn dư. Cho nên từ Kaniṣka đến Vāsudeva, chúng tôi chắc chắn có lý do nói Quí-sương vương phải trước Kujula, niên đại của vua Kaniṣka phải năm 50 trước Tây lịch, gọi là kỷ nguyên Vikrama. Do đó mới kỷ niệm lần kết tập thứ 4 và làm ra kỷ nguyên tôn giáo cho sự định chế mới của vua Kaniṣka, đây là chủ trương của ông Kennedy. Đầu tiên ông bàn luận về nước Ấn Độ Quí-sương vương thế kỷ thứ I trước Tây lịch, cùng thế kỷ Trung Quốc, và việc buôn
bán tơ lụa qua lại vùng Syrian, với đồng tiền liên quan với vua Kaniṣka đúc kết thành những nét đặc trưng. Nhưng vì sao vua Kaniṣka nhất loạt đúc tạo tiền bằng vàng theo hình thức mới ở Ấn Độ? Vì sao văn tự tiền ấy không theo văn tự tiền Ấn Độ như trước đã dùng mà chỉ dùng ngôn ngữ Hy Lạp? Vì sao những tiền này sử dụng văn tự Hy Lạp, hoàn toàn không sử dụng thể thảo thư của tiền tệ Ấn Độ? Trọng lượng đặc thù của những tiền tệ này như thế nào?... Những điều này đều được ông giải thích mạch lạc, quả thật là những kiến giải sáng tạo độc đáo của ông, mà những luận cứ chủ trương của ông rất có sức thuyết phục.
Song từ trên những nhận thức thông thường mà luận bàn thì không thể không nghi vấn. Tuy nhiên, nếu loại trừ văn tự trên tiền tệ ra, quả thật là không còn chứng cứ nào để chứng minh vua Kaniṣka từng sử dụng ngôn ngữ Hy Lạp. Vậy văn tự Hy Lạp khắc trên tiền vua Kaniṣka chưa hẳn không khớp với chữ La-mã khắc trên tiền phương Tây hiện hành, đều là cách mô phỏng theo lối cũ, không có ý vị gì. Ý kiến này tuy của ông Lüders, Tarn đưa ra, nhưng thuyết của ông Kennedy vẫn có chỗ nghi ngờ. Do đó tháng giêng năm nay, trên tạp chí Hiệp hội Anh quốc Asia, ông Kennedy một lần nữa lại phát biểu, trình bày, xác thực niềm tin về quốc vương Kaniṣka đã từng sử dụng ngôn ngữ Hy Lạp (Kennedy: Kaniṣka’s Greek. J. R. A. S., 1913 January). Sự giải thích của ông, ở đây không vội giới thiệu, nhưng từ sự tỉnh lược và lý do đề xuất của ông ta chắc chắn có nhiều chỗ chúng tôi tán đồng. Nếu vua Kaniṣka là người kiến thiết vương quốc Quí-sương, thì chúng ta theo thuyết của ông Kennedy là điều tự nhiên, lấy kỷ nguyên Vikrama làm năm chỉ định vua Kaniṣka qui y Phật và kết tập, không theo năm kỷ nguyên vua thống trị của ông Fleet.
Thêm nữa, sau sự khảo chứng của ông Fleet, và thuyết của ông Kennedy, lại được một tư liệu xác thật, đó là trong văn khắc Mānikiāla ở vùng Rawaipenda tại Panjab đã ghi niên đại: “Vào năm 18 đại vương Kaniṣka...”. Từ đó trở đi đối với vấn đề này đều ức đoán, ông Fleet cho đây là quá sai lầm, nghĩa là trùng lặp với ý nghĩa câu: “Vào năm 18 (tính toán niên đại chẳng rõ), đại vương Kaniṣka, người khuếch trương tộc Quí-sương (Gushana), tướng quân Lạt-lạt (Lala) kiến lập Tốt-đổ-ba này”. Ông cho là câu “người khuếch trương tộc” (Vamsa-Samvardhaka), nhất định là tướng quân Lạt-lạt, người thân thuộc tộc Quí-sương, mà phần nhiều là con cháu thân thích của đại vương Kaniṣka.
Lại nữa, văn khắc ở Rawaipenda, vào thời kỳ năm 50 Tây lịch trở về sau, là biểu thị sự phục hưng của vương hệ Kaniṣka đại vương. Những vật cùng thời với văn khắc mà có thể khảo định là tiền của các vua Quí-sương và tiền của La-mã. Căn cứ vào báo cáo của ông Kennedy, có một cái ống bằng vàng, ở giữa cất giữ bốn đồng tiền bằng vàng của vua Kaniṣka. Bao quanh bên ngoài cái ống là một cái ống bằng bạc, có bảy đồng tiền La-mã, tức là đồng tiền của Julius Caesar,18 Mark Antony,19 và những đồng tiền khác có thể biết là của Augustus;20 số còn lại không rõ, đại khái là vật của
 

18 Julius Caesar (13 tháng 7 năm 100 trước Tl. - 15 tháng 3 năm 44 trước Tl.) là một lãnh tụ quân sự và chính trị của La-mã, một trong những người có ảnh hưởng lớn nhất trong lịch sử thế giới.
19 Mark Antony (khoảng 14 tháng 1 năm 83 trước Tl. - 1 tháng 8 năm 30 trước Tl.) là một chính trị gia, một thống chế La-mã, cũng là người ủng hộ trung thành với Julius Caesar.
20 Augustus là hoàng đế đầu tiên của Đế quốc La-mã, trị vì La-mã từ 27 trước Tây lịch. Ông được người chú vĩ đại của mình là Julius Caesar nhận làm con nuôi và thừa hưởng mọi di sản của Caesar sau khi ông bị ám sát năm 44 trước Tây lịch.
 
thời đại cộng hòa. Có bốn cái là vật của năm 43 trước Tây lịch trở về trước. Phần trong ống bạc là cái ống bằng đồng, có tám đồng tiền trong thạch khám và chung quanh cái ống ấy có bốn đồng thuộc về vua Kaniṣka, một đồng là của Kujula, một đồng là của Wema; xét kỹ thạch khám, trên đỉnh của thạch khám có 4 đồng tiền bằng đồng, ba đồng là của vua Kaniṣka, một đồng là của Wema. Theo sự khảo sát của ông Kennedy rất chú trọng đến trọng lượng bốn loại tiền của đại vương Kaniṣka giữa cái ống ấy. Còn những vật khác đều là vì kỷ niệm nhà vua và vì danh dự của vương tộc mà để lại phụng thờ, đến như những đồng tiền La-mã, chẳng qua cũng là đồ quí hiếm, hiếu kỳ giữ lại.
Về sau, đến thời cha con Kadphises và đại vương Kaniṣka thì hợp lại thành một loại tiền lưu hành phổ biến. Cho nên xây dựng tháp vào năm phục hưng thành công vương hệ của vua Kaniṣka, tức là biểu thị cho năm thứ 18 Wema. Nếu quả đúng như đây thì kiến giải của ông Fleet đối với văn khắc Mānikiāla là không lầm lẫn. Vả lại trọng lượng của tiền tệ ấy, nếu đúng với sự giải thích của ông Fleet thì đại vương Kaniṣka ở trước cha con vua Kadphises, có thể công nhận là chứng cứ có hiệu lực. Vậy việc ghi chép trong Hậu Hán thư liên quan đến sự tích cha con vua Kadphises kiến thiết vương quốc Quí-sương, trong khoảng thời gian đó, đất đai do vua Kaniṣka, tổ của vua Quí-sương chiếm giữ có lần bị mất, đến khi Kujula và Wema xuất hiện mới khôi phục lại, xem ra cũng rõ ràng.
Nhưng đang khi vấn đề thảo luận về vua Kaniṣka của tôi không thể xem nhẹ, thì năm rồi mấy lần ông Kennedy phát biểu ý kiến, và ông Lüders cùng đề xướng những luận chứng về Kaniṣka, mỗi vị có thuyết riêng (s. d. k. p. A. d. w., 1912, S. 824-31). Ông Lüders căn cứ văn khắc Ara của R. D.
Banerji đã công bố — Ara ở miền là Bắc lãnh địa vương quốc Quí-sương, cách Bagnilale hai dặm. Văn khắc phát hiện thấy trong cái giếng cổ ở Ara, do dùng văn tự Kharosthi viết lại — nhận định là sau đại vương Kaniṣka, còn có sự tồn tại của một vua Kaniṣka. Trong bài văn khắc ấy ghi “Maharajasa... Kanishkasa Sambatsaraē ekachapar [isaē] sam 20 20 1 :” (Đại vương... vào năm thứ 41 của Kaniṣka). Ông Lüders nói, không thể nhận định năm 41 là năm thống trị của vua Kaniṣka, mà phải hiểu rằng: năm đó là năm thứ 41, kể từ khi đại vương Kaniṣka sáng lập, và năm đó ông đã mất rồi. Vì trong văn khắc là chỉ cho Kaniṣka đã dẫn ở văn trên (tức là đại vương), rõ ràng văn tự bày tỏ sự tôn kính người cha mình là Vāsishka, cùng Vajheṣhka — ông Banerji đọc chữ đó là Vasishpa — được xem là cùng một tên, nên Kaniṣka đệ nhị phải là con của Vāsishka, hoặc là người nối dõi của ông ấy.
Như vậy có thể khảo định được niên đại của Quí-sương là: Kaniṣka đời thứ nhất là Vāsishka, Kaniṣka đời thứ hai là Huviṣka và Vāsudeva. Nhưng niên đại năm 41, Kaniṣka nhị thế đã có, mà Huviṣka kế tiếp đời ấy cũng có niên đại trước sau năm 41 — niên đại liên quan đến Huviṣka ở trên văn khắc Wardak là năm 51, nhưng trong văn khắc Barahmi tìm thấy ở Mathurā lại là năm 33, ngoài ra còn có ba, bốn loại ghi chép so ra thì sớm hơn năm 41 — niên đại của hai vị vua ấy trở nên mâu thuẫn nhau! Ở vấn đề này, ông Lüders từng giải thích, cho là từ Vāsiskha trở về sau, vương quốc Quí-sương bị chia cắt, Kaniṣka đời thứ hai chỉ giữ miền Bắc nước ấy, lãnh thổ chính của Huviṣka có cả đất ở Ấn Độ; về sau, trước năm 51, Huviṣka lại chiếm miền Bắc. Thuyết ấy rắc rối, khó có khả năng.

 
Vậy đối với niên đại của vương triều Quí-sương, ông Lüders tìm tòi nghiên cứu như thế nào? Theo ông nhận định, xưng hiệu của Kaniṣka đời thứ hai trong văn khắc Ara là “Đại vương” (Mahārāja), “Vua của các vua” (Rājatirāja), “Thiên tử” (Devaputra), bởi vì tên chẳng trùng hợp nên ông cho rằng nếu đọc là Kaisara — Ceasar — mà đem năm thứ 41 của Kaniṣka đời thứ hai hoán đổi là kỷ nguyên Vikrama thì là năm thứ 16 trước Tây lịch, thời gian này nắm chủ quyền Trung Á và Ấn Độ, đương nhiên lúc đó không thể xưng hiệu của Ceasar. Chúng ta xem trong Ngụy thư Minh đế bổn kỷ ghi, “Quý Mão tháng 12 năm Thái Hòa thứ ba (năm 239 Tây lịch), vua Đại Nguyệt Thị là Ba-điều sai sứ phụng hiến, vì Điều là vua Đại Nguyệt thân Ngụy”. Ba-điều đối âm của “Vāsudeva”, có thể biết, từ năm 229 Tây lịch chính là niên đại của Vāsudeva (năm 74 đến năm 98). Vậy kỷ nguyên của vương triều Quí-sương, sớm nhất phải là năm 130 Tây lịch, chậm nhất là năm 168 Tây lịch, có thể khẳng định chắc chắn như thế.
Người mà Ngụy thư gọi là Đại Nguyệt Thị Ba-điều, đối âm với từ “Vāsudeva”, tuyệt đối không lầm lẫn. Tên của Vāsudeva chữ Hy Lạp ghi là Bazaho hoặc Bazoho. Chữ Hồi giáo ghi là Basdeo, âm xưa của chữ này là Po-dien, chính là âm tương xứng với “Ba-điều”. “Ba” là âm “Vā” của Ba-la-nại-tư (Vārāṇasī), “Điều” là âm “deva” của Điều-đạt (Devadatta). Vậy âm gốc của Ba-điều là Vāsudeva, sự việc rõ ràng như thế. Nếu nói Ba-điều chính xác là vua Quí-sương Vāsudeva tại vị từ năm 74 đến năm 98, thì Kaniṣka đời thứ nhất phải giữa thế kỷ thứ II Tây lịch, thứ đến là Wema lên làm vua Đại Nguyệt Thị. Nếu xác định như thế thì việc ghi chép trong Hậu Hán thư về sự tích của Kujula tương đương với việc cha con Kadphises làm vua Đại
Nguyệt Thị. Thế lực của họ đã xâm phạm đến phía Đông núi Thông Lĩnh, nhưng vì sao không viết ra tên của đại vương Kaniṣka? Nghi vấn này giải đáp dễ dàng. Phải biết là từ năm Nguyên Gia thứ 2, đời Hoàng Đế thời Hậu Hán (năm 152 Tl.) trở về sau, Trung Quốc đã hoàn toàn mất thế lực của mình tại Tây Vực, nên tin tức vua Kaniṣka tại vị lúc bấy giờ không truyền vào Trung thổ được. Cho dù Ngụy thư chép, Ba-điều vì thừa kế Huviṣka mà lập Vāsudeva, quả thật không một chút lý do nào để căn cứ, vì sau đó còn có vua Đại Nguyệt Thị cùng tên vị này. Ông Lüders đã chủ trương, khoảng từ năm 130 đến năm 168 Tây lịch là khởi đầu kỷ nguyên vương triều Quí-sương, cũng không trùng khớp với kỷ nguyên đã có ở Ấn Độ và Trung Á từ xưa đến nay. Vả lại, đại vương Kaniṣka nếu tiếp sau Wema thì sự phát triển bản đồ vương quốc Đại Nguyệt Thị là nhờ đến sự thành tựu của tiên vương. Nếu cho rằng vương triều Quí-sương mở ra kỷ nguyên mới, chúng ta gọi là vua Kaniṣka, chi bằng gọi là Kujula hay Wema thì hơn. Vì nếu tân kỷ nguyên là do vua Kaniṣka lập, thì lẽ nào thời ấy không có đại sự của quốc gia sao?! Nói tóm lại, đây quả thật là luận chứng chẳng xác thật, muốn đả phá những khảo chứng của ông Kennedy và ông Fleet chắc chắn không thể được.
Song, ông Lüders căn cứ văn khắc Ara phát biểu: Kaniṣka là hai người. Luận điểm ấy cũng được nhiều người đồng ý như ông Fleet v.v... (Fleet: The Question of Kaniṣka. J. R. A. S., 1913, January). Nhưng ông Fleet phản đối việc ông Lüders đem tên cha của Kaniṣka đời thứ hai đọc thành Vajheṣhka. Vì Vasishpa đọc khác, tuyệt đối không thể xem đồng với Vajheṣhka. Vả lại, Kaisara là một trong những hiệu xưng của Kaniṣka đời thứ hai, đây là một cách đọc e rằng có khả năng vay mượn từ đế quốc La-mã. Danh hiệu này qua
một lần sử dụng, từ đó trở về sau các vị vua nối tiếp nhau sử dụng nó, ngày nay xem lại những ghi chép về Vajheṣhka và Vasishpa đều không được ghi, thì Kaniṣka đời thứ hai không thể không ở sau Vasishpa. Lại có người nói, Kaisara là hiệu xưng của Caesar, mới bắt đầu từ Julius Caesar. Việc ấy là phỏng theo quốc vương La-mã sử dụng, có vào thời đại Hadrian,21 tức là khoảng từ năm 117 đến năm 138 Tây lịch, từ đó trở đi mới dùng làm tiếng tôn xưng quốc vương, rồi di chuyển đến người thứ hai thừa kế vương vị, và phải từ năm 125 Tây lịch trở về sau mới không có người sử dụng từ tôn xưng hoàng đế đó. Nếu theo ông Lüders xác định, về văn khắc Ara tình thế không thể đi ngược đến năm 170 Tây lịch trở về trước, cách gọi Caesar là để tôn xưng hoàng đế La-mã từ lâu đã bỏ không dùng, mà vua Quí-sương lại bắt chước cách dùng của hoàng đế La-mã để tôn xưng vương hiệu mình, há chẳng mâu thuẫn nhau ư? Nếu Kaniṣka đời thứ hai có hiệu xưng là Kaisara, thì việc chọn dùng kia chậm nhất không thể ở năm 125 Tây lịch trở về sau. Đây là kết luận của ông Fleet, nhưng thật ra là dựa vào kiến giải của ông Lüders mà tìm lại.
Những vấn đề liên quan đến vua Kaniṣka ở trên, đã được các giới học thuật gần đây phê bình và đưa ra các lý thuyết mới mẻ! Nay phần tôi, trước tiên căn cứ những kết quả nghiên cứu của các học giả phương Tây thuật ở trên, mà trình bày đưa ra ý kiến. Tôi thừa nhận thuyết vua Kaniṣka là hai người, đồng ý với những kiến giải của ông Lüders và ông Fleet. Nhưng vua Quí-sương từ Kaniṣka đời thứ nhất đến Vāsudeva là phải đặt ở trước cha con vua Kadphises, và
 

21 Hadrian (Publius Aelius Traianus Hadrianus) là hoàng đế La-mã từ năm 117-138 sau Tl., người kế vị của hoàng đế Trajan.
 
Kaniṣka đời thứ nhất là người của thời kỳ giữa thế kỷ thứ I trước Tây lịch, lấy kỷ nguyên Vikrama làm kỷ nguyên sáng lập của ông ta. Điểm này đồng với thuyết của ông Kennedy và ông Fleet. Tôi lại tán thành chủ trương của ông Fleet, cho Kaniṣka đời thứ hai là vị vua Vāsudeva trở về sau.
Chúng ta căn cứ sự ghi chép của văn khắc Ara, bất luận như thế nào cũng không thể không thừa nhận thuyết Kaniṣka là hai người. Thuyết này chắc chắn rõ ràng, và so ra có giá trị hơn. Trong Tây Tạng truyện cũng ghi đến Ca-nị-sắc-ca (Kaniṣka) và Ca-nị-ca — Ca-nị-ca là lược âm của Ca-nị-sắc-ca, nhưng hai vị vua Ca-nị này tuyệt đối không phải là một người, phải công nhận là hai người. (Tāranātha Geschichte d. B. S., 58. ff. 89-90). Và trong Phật điển ghi chép vua Kaniṣka là hai người, chúng ta cũng không phủ nhận. Ngài Huyền Trang dịch Đại Tỳ-bà-sa luận, bộ luận này được kết tập thời vua Kaniṣka. Tây Vực ký của ngài Huyền Trang và Tây Tạng ký đều nói đến vấn đề đó. Từ đó đến nay, tín đồ Phật giáo Bắc phương đều tin là chính xác, chẳng ai nghi ngờ gì.
Nhưng trong Đại Tỳ-bà-sa luận quyển 114,22 có đoạn thuyết giảng về “Thuận hiện nghiệp”, xin trích ra như sau:
“Thuở xưa vua Ca-nị-sắc-ca nước Kiền-đà-la, có một người huỳnh môn (người bị hoạn) thường giám sát nội sự, vừa mới ra khỏi thành, thấy có bầy trâu trên năm trăm con, đi vào trong thành. Người huỳnh môn hỏi người lùa trâu: Làm gì mấy con trâu đó? Đáp rằng: Dẫn trâu đi khử bỏ giống (thiến). Người huỳnh môn nghĩ ngợi: Ta do ác nghiệp đời trước nên phải chịu tấm thân nam chẳng ra nam, nay nên dùng của cải để cứu bầy
 

22 A-tỳ-đạt-ma đại tỳ-bà-sa luận 114, T27n1545_p593a15.
 
trâu này. Ông liền đền bù giá trị bầy trâu ấy, giúp chúng được giải thoát. Do nghiệp lực thiện mà người huỳnh môn ngay ngày hôm ấy trở lại thân nam, lòng rất vui mừng. Ông trở về nội thành, đứng mãi ở cửa cung, nhờ người tâu lên vua, xin vào hầu hạ, vua lệnh cho gọi vào, hỏi việc lạ do đâu. Người Huỳnh môn tâu đầy đủ việc trên, nhà vua nghe kinh ngạc hoan hỷ, ban cho nhiều của cải trân quý, trao cho chức quan cao, lệnh cho coi sóc việc bên ngoài. Như vậy nghiệp thiện cần tương tục mới thọ quả báo”.
Nếu kỳ kết tập này khởi sự vào thời vua Kaniṣka thì tuyệt đối không ghi là: “Thuở xưa vua Ca-nị-sắc-ca nước Kiền-đà-la”. Theo từ nói “Thuở xưa”, có thể biết sự kiện ấy đã cách kỳ kết tập lúc đương thời ít lắm là vài mươi năm, hoặc trăm năm trở lên, chắc chắn như vậy; theo câu chuyện ghi lại này quả thật chẳng lầm. Nếu đương thời vua Kaniṣka không kết tập Đại Tỳ-bà-sa luận, thì chắc chắn chúng ta không suy đoán được khoảng về trước có sự tồn tại của vua Kaniṣka, nếu như phủ nhận nó thì không còn cách nào giải thích về ký sự đó.
Cho nên người sau tạm gọi là Kaniṣka đời thứ nhất, người trước gọi là Kaniṣka đời thứ hai. Nhưng hai vị vua này đều là tín đồ Phật giáo — khảo chứng vấn đề ấy xin đợi những cuộc luận bàn tiếp — Đời sau những truyền thuyết liên quan đến vua Kaniṣka, người ta thường đem chuyện của hai vị vua này qui kết thành một, đó cũng là xu hướng tự nhiên vậy. Ở cuối lời bạt trong Đại Tỳ-bà-sa luận của ngài Huyền Trang và Tây Vực ký quyển 323 đều nói thời gian ra đời của vua Kaniṣka là sau khi đức Phật Niết-bàn 400 năm; điều ấy trong Tây Vực ký
 

23 Tây Vực ký 3, T51n2087_p886b22.
 
quyển 624 tuy có nêu lên bốn thuyết về niên đại đức Phật diệt độ, nhưng trong sử liệu của lịch sử Đông-Tây đều nhất trí theo thuyết “Chúng Thánh điểm ký”.25 Nếu theo niên đại của Phật diệt độ mà tính, thì phải bắt đầu từ năm 485 trước Tây lịch. Ngài Huyền Trang cho năm của vua Kaniṣka là năm 85 trước Tây lịch, năm này cùng với năm lên ngôi của Kaniṣka đời thứ nhất (năm 58 trước Tây lịch) gần nhau.
Vậy việc ghi chép về vua Kaniṣka thấy không khớp với việc vua Kaniṣka kết tập Phật điển. Vì sự ghi chép về ông ta, là lấy sự tích của vị vua trước hỗn hợp với sự tích của vị vua sau. Nếu vậy thì niên đại ra đời của vị Kaniṣka đời thứ hai có quan hệ với Đại Tỳ-bà-sa luận, phải chứng minh như thế nào đây? Đối với vị vua này, tôi chỉ ghi chép duy nhất là kỷ nguyên năm thứ 41, giống với năm kỷ nguyên vua thống trị mà ông Lüders đã nhận định. Nhưng ông Lüders giải thích là kỷ nguyên Vikrama, tôi lại có ý kiến khác. Như ông Fleet luận bàn, Kaniṣka đời thứ hai gọi là Caesar thì rõ ràng phải ở sau Vāsudeva. Nhưng sau Vāsudeva là cha con Kadphises, nên sự xuất hiện của Kaniṣka đời thứ hai tất nhiên không thể không ở sau Wema. Do đó, tôi cho năm thứ 41 phải là kỷ nguyên của
 

24 Tây Vực ký 6, p903b23.
25 Chúng Thánh điểm ký 衆聖點記: Sau khi đức Phật nhập diệt, ngài Ưu-ba-li kết tập Luật tạng, vào ngày 15 tháng 7 năm đó (năm đức Phật nhập diệt), Tăng chúng tự tứ xong, dùng hương hoa cúng dường tạng Luật, rồi ghi một chấm ở bìa tạng Luật. Về sau, hằng năm chúng Thánh nương theo pháp đó, cứ mỗi năm chấm một chấm, biểu thị số năm đã trôi qua. Đến năm thứ 8 niên hiệu Vĩnh Minh thời Nam Triều Tề (năm 490 Tl.), truyền được 975 chấm. Đây là tư liệu nghiên cứu quan trọng về niên đại đức Phật nhập diệt. Nếu theo đây tính ngược lại thì năm đức Phật nhập diệt là năm 486 trước Tl.. Nhưng việc cúng dường tạng Luật của ngài Ưu-ba-li có đúng bắt đầu vào năm đức Phật nhập diệt hay không đến nay vẫn chưa rõ.
 
 Wema lên ngôi. Việc Wema từ khi sáng lập tân kỷ nguyên, tuy bằng chứng sử tịch không có gì, nhưng căn cứ việc khảo chứng của ông Fleet về năm 18 đã ghi trong văn khắc ở Mānikiāla, chính là năm 18 của Wema tức vị, bởi vì năm đó bắt đầu niên đại tức vị của vua ấy, lại một lần nữa việc kiến lập tân kỷ nguyên rõ ràng hơn. Từ đây cũng có lý do tương đương để thuật lại, chúng ta biết sự thật lãnh thổ cũ của vương gia Quí-sương một thời trước đây đã mất đi, đến thời đại khác mới dần dần khôi phục hoàn toàn, nên năm thứ 18 vua ấy mới tức vị; để kỷ niệm sự phục hưng vương hệ của đại vương Kaniṣka nên mới kiến lập tháp, cải đổi kỷ nguyên sáng lập mới, đây là việc không chút gì quái lạ cả. Nếu chúng ta xác định đây là niên kỷ sáng lập mới của Wema thì từ đây trở về sau các học giả đối với niên đại của Kaniṣka (đời thứ nhất) có nhiều thuyết khác nhau, không còn gì để định liệu luận bàn lại. Đến như Vāsishka — vị vua có niên hiệu 24 và 28, cũng là vị vua trước Kaniṣka đời thứ hai, tức là vua cha của vua ấy. Nếu chúng ta y cứ theo kiến giải của ông Lüders thì sự ghi chép trong văn khắc Ara, trước Kaniṣka đời thứ hai, phụ vương vua ấy tên là Vāsishka, cùng âm đọc với tên vua Vājneshka. Tuy nhiên, âm đọc của chữ này từng bị ông Fleet phản đối, nhưng thuyết của ông Fleet chưa chắc là không lầm lẫn. Nếu quả đúng như vậy thì Kaniṣka đời thứ hai phải là người lên ngôi vua sau Wema và Vāsishka. Cho nên, năm lên ngôi của Wema ước chừng khoảng năm 100 đến năm 120 Tây lịch, có thể quyết đoán như thế. Lại nữa, chúng ta có đủ bằng chứng để làm sáng tỏ sự thật lịch sử đó.
Bài tựa trong kinh Tăng-già-la-sát sở tập26 nói vua Kiền-đà-việt là vua Chân-đà-kế-nị của nước Kiền-đà-la — Chân-đà
 

26 Kinh Tăng-già-la-sát sở tập, 3 quyển, Tăng-già-bạt-trừng… dịch thời Phù Tần, T4n194_p115.
 
rõ ràng đồng âm với từ Chân-đàn của Chân-đàn-ca-nị-tra trong kinh Đại trang nghiêm quyển 6.27 Theo thuyết của Tùng Bản Văn, gọi Chân-đàn là sự chuyển hóa của “Chandra” trong Tây Tạng truyện, dịch âm của “Jālamdhara”. Đây là tục ở miền Bắc Panjab, lấy địa danh đặt trước tên của vua — tức cùng thời đại với vua Kaniṣka. Căn cứ trong truyện thì vua ấy phụng thờ Tăng-già-la-sát (Saṃgharakṣa) làm thầy. Lúc ngài An Thế Cao đến Trung Quốc năm Kiến Hòa thứ hai đời Hậu Hán (năm 148 Tl.), dịch Đạo địa kinh (Tăng-già-la-sát tạo), gọi Tăng-già-la-sát là Tam tạng. Còn Đạo An và Pháp Hộ gọi ngài là Sa-môn, có thể thấy chưa từng dùng từ tôn xưng La-hán hoặc Bồ-tát. Tiếp cận với Cao tăng thời An Thế Cao, ngày nay có nhiều tư liệu để khảo tra, cùng thời với vua Kaniṣka tức là thời An Thế Cao, hoặc cách nhau không nhiều năm lắm. Từ vấn đề này có thể suy đoán, Kaniṣka đời thứ hai sinh vào thời kỳ đầu thế kỷ thứ II Tây lịch, không có điểm nào nghi ngờ. Vì việc khảo chứng này có được chứng cứ xác thật. (tham khảo sách Phật giáo niên đại khảo của ông Tiểu Dã Huyền Diệu, trang 126). Lại nữa, mục nước Ca-tất-thí (Kapisa) trong Tây Vực ký28 của ngài Huyền Trang có ghi:
“Phía Đông đại thành cách ba, bốn dặm, bên dưới núi Bắc Sơn có ngôi Già-lam lớn (trong Từ Ân truyện ghi tên ngôi Già-lam là Sa-lạc-ca),… nghe những người xưa ghi chép rằng: Uy của vua Ca-nị-sắc-ca (Kaniṣka) trùm cả lân quốc, cảm hóa hòa hiệp tận phương xa, binh lực sửa trị vùng đất rộng, đến tận phía Đông Thông Lĩnh, bên cõi lân bang ở sông phía Tây sợ uy dũng của nhà vua nên
 

27 Đại trang nghiêm kinh luận (15 quyển - Bồ-tát Mã Minh tạo, Cưu-ma-la-thập dịch thời Hậu Tần) 6, T4n201_p287a21.
28 Tây Vực ký 1, T51n2087, p873c23.
 
 đưa con tin29 đến. Vua Ca-nị-sắc-ca được con tin rồi thì đặc biệt gia thêm lễ mệnh, đổi quán dịch cho họ theo thời tiết nóng lạnh, mùa đông thì ở các nước vùng Ấn Độ, mùa hạ trở về nước Ca-tất-thí, xuân thu dừng ở nước Kiền-đà-la. Nên chỗ ở ba thời (mùa) của con tin đều kiến lập Già-lam. Nay ngôi Già-lam này được kiến lập tại chỗ ở mùa hạ vậy. Do đó những bức vẽ con tin trên vách phòng ốc, dung mạo phục sức rất giống người Đông Hạ. Những con tin ấy về sau được trở về bản quốc, lòng vẫn nhớ nơi ở cũ, tuy cách trở núi sông mà chẳng bỏ việc cúng dường. Cho đến nay, Tăng chúng mỗi khi vào mùa an cư, hay giải chế an cư đều đại hưng pháp hội, vì các con tin cúng cầu phước, gieo trồng việc thiện, nối tiếp nhau chẳng dứt, cho đến ngày nay”.
Truyện Tây Vực trong Hậu Hán thư cũng ghi:
“Trong niên hiệu Nguyên Sơ đời An đế, vua Sơ-lặc là An Quốc, do cậu là Thần Bàn có tội nên theo về với Nguyệt Thị, vua Nguyệt Thị thương yêu ông. Về sau An Quốc chết, không con, mẹ nắm quốc chính, cùng với người trong nước muốn lập con người em cùng mẹ của Thần Bàn là Di Phúc làm vua Sơ-lặc. Thần Bàn nghe việc đó xin với vua Nguyệt Thị: An Quốc không con, vốn người bạc nhược, nếu lập theo họ mẹ, tôi là thúc phụ của Di Phúc, tôi phải làm vua. Nguyệt Thị mới sai binh lính đưa trở lại Sơ-lặc. Người trong nước vốn kính ái Thần Bàn lại kinh sợ Nguyệt Thị, liền đoạt lấy ấn tín của Di Phúc, nghênh đón Thần Bàn lập lên làm vua.”

 
 

29 Hán: Chất tử 質子, là con vua hoặc quí thần của vua bị đưa sang nước lân bang hùng mạnh làm con tin.
 
Nếu đem hai đoạn ghi chép trên đối chiếu nhau thì tên của ngôi Đại Già-lam kia là Sa-lạc-già. Theo kiến giải của ông Marquarht, ý nghĩa danh từ Trung văn này chẳng phải là “Serica”, bởi Sơ(Sa)-lặc (疏[沙]勒) tức là đối âm của Salak (a). Người mà Hậu Hán thư gọi là vua Nguyệt Thị tương đương với vua Ca-nị-sắc-ca (Kaniṣka) trong Tây Vực ký; người mà Hậu Hán thư gọi là Thần Bàn đồng với con tin (chất tử) trong Tây Vực ký. Vậy tìm hiểu xác định vua Kaniṣka chính là người ở tại vương vị lúc niên hiệu Nguyên Sơ đời An Đế (năm 114–119 Tl.). (Marquarht: Erānsahr. S. 281 ff). Khảo chứng này cũng giúp cho ý kiến tôi có được một chứng cứ xác thật về niên đại vua Kaniṣka đời thứ hai. Lại có người thẳng thắn nói vua Kaniṣka đời thứ hai là người tại vương vị khoảng thời kỳ đầu và giữa thế kỷ thứ II Tây lịch, từ năm Vĩnh Bình đời Minh đế, nước ấy bắt đầu có Tăng nhân đến Trung Thổ; vì khoảng thời gian 80 năm, tin tức Phật giáo bị ngăn cách gián đoạn. Mãi đến giữa thế kỷ thứ II Tây lịch trở về sau, Tăng đồ nước Đại Nguyệt Thị mới bắt đầu trở lại Trung Thổ, sau đó Tăng đồ các nước An Tức, Khương Cư cũng tiếp tục đi đến Trung Quốc truyền đạo. Kết quả đó là nhờ vua Kaniṣka đời thứ hai tận lực hoằng truyền Phật pháp; có thể giải thích rõ ràng như thế.
Như trước đã trình bày, việc khảo định niên đại vua Kaniṣka, trong Chính sử của Trung Quốc phát sinh nhiều vấn đề khó khăn. Từ đời Võ đế thời Tiền Hán trở về sau, đến năm Nguyên Gia thứ 2 đời Hoàn đế (năm 123 Tl.), thời gian ấy tuy là lúc thanh uy của nhà Hán có thịnh có suy, sự quan hệ về chính trị lúc thông lúc tuyệt, nhưng thế lực nhà Hán chắc chắn lan rộng ra xa đến tận Tây Vực. Thời này nếu vua Kaniṣka đã ra đời thì vì sao mối liên quan đến sự tích của vua
trên Chính sử Trung Quốc không mảy may lưu lại? truyện Tây Vực trong Hậu Hán thư30 nói chung rằng:
“Phong thổ tập tục nhân dân các nước mà Ban Cố ghi đều rõ ràng đầy đủ ở sách trước, nay chỉ chọn lựa những sự việc khác với trước đó, từ đời Kiến Võ trở về sau. Truyện Tây Vực là những ghi chép của Ban Dũng ở cuối đời An đế”.
Năm đầu niên hiệu Vĩnh Sơ (năm 107 Tl.), Ban Dũng bắt đầu thảo phạt Quân Tư Mã ở Tây Vực. Sau đó, năm Diên Quang thứ 2 (năm 123 Tl.), Ban Dũng được cất nhắc lên làm Trưởng sử Tây Vực, đồn trú tại Liễu Trung (Luktin), đến năm cuối đời An đế (năm 125 Tl.) đều ở tại Tây Vực. Lúc này, nếu vua Kaniṣka ra đời thì nhất định Ban Dũng nghe phong thanh tên vị vua ấy, vì sự tích Wema còn thuật lại, mà ngược lại không ghi chép gì về vua Kaniṣka. Việc này phải giải thích như thế nào? Do đây mà suy tìm thì vua Kaniṣka đời thứ hai phải ra đời sau năm 125 Tây lịch, luận chứng như vậy tương đối chắc chắn.
Như đã thuật ở trước, vua Nguyệt Thị có quan hệ với Thần Bàn nước Sơ-lặc, nếu chính là vua Kaniṣka thì lúc đó Ban Dũng đã đi khỏi Tây Vực vài năm trước rồi. Tuy vua Kaniṣka đã ra đời, nhưng thật sự Ban Dũng có biết việc ấy hay không cũng không phán đoán thêm được. Tóm lại, thời vua Kaniṣka ra đời, chính trong khoảng thời gian Trung Quốc và Tây Vực giao thông nhau, chắc chắn có thể khảo định được. Về điểm này tuy Chính sử Trung Quốc đã trình bày chi tiết nhưng chưa lần nào đề cập đến tên của vua Kaniṣka; như vậy sự thật Chính sử Trung Quốc liên quan
 

30 Hậu Hán thư quyển 88, Tây Vực truyện 78, thời Võ đế.
 
đến Tây Vực dù là “mẻ lưới lớn tung bắt tất cả” thì vẫn có chỗ thiếu sót. Việc ghi chép ấy chẳng qua là một phần nhỏ mà thôi. Do đó những điều ghi chép trong Chính sử Trung Quốc không đủ lý do làm bằng chứng, nên phải theo lý luận những đoạn văn trên mới có sức luận chứng vĩnh cửu với thời gian.
Vậy từ vua Kaniṣka đời thứ hai trở về sau, người nào làm vua Đại Nguyệt Thị? Liên quan đến điểm này thì sử liệu Đông-Tây đều trống rỗng, khiếm khuyết, mà tin tức về sau lại không có dấu vết để khảo tìm. Nhưng vào khoảng năm 229 Tây lịch, đoạn văn trong Ngụy thư đã dẫn ở trước, người tên “Ba-điều” tức là Vāsudeva, chính xác là người từng lên ngôi vua Đại Nguyệt Thị, vua này trùng tên với vua Đại Nguyệt Thị Kujula, chắc chắn là một người, không cần nói nữa. Song khoảng năm Chánh Thỉ – năm Gia Bình thời Ngụy (năm 240-253 Tl.), truyện Tây Nhung trong Ngụy lược của Ngư Hoạn có đưa ra thuyết: “Nước Kế Tân, nước Đại Hạ, nước Cao-phụ, nước Thiên Trúc đều phụ thuộc Đại Nguyệt Thị”. Vậy nối dõi đời làm vua của Vāsudeva nhất định kế tiếp kéo dài rất lâu, và về sau có thể gồm thâu các nước. Theo thuyết của ông V. Smith, Vāsudeva tại ngôi vua ước chừng khoảng từ năm 185 đến năm 215 Tây lịch, sau khi Vāsudeva chết, vẫn còn đúc tạo tiền mang tên ông ta (V. Smith: Early History of India. 2nd. ed. pp. 254, 259). Loại tiền này đại khái là vật thuộc về Vāsudeva nhị thế. Ông V. Smith lại căn cứ vua Quí-sương ở Panjab và Kabul mà biết thế lực vua ấy rất lâu dài. Đó là nhờ khảo sát các đồng tiền có được. Vả lại, đến thế kỷ thứ V Tây lịch, vương triều Quí-sương ở Kabul mới mất về tay Bạch Hung Nô (White Hun), tức là Áp-đạt (Ephthalite). Nên việc vua ấy bảo trì lâu được thế lực là không nghi ngờ gì. (Early History of India. 2 nd. P. 255). Trong Ngụy thư ghi
chép, đến đầu thế kỷ thứ V Tây lịch, Đại Nguyệt Thị đã di dời vào Đại Hạ rồi. Mục nước Đại Nguyệt Thị (của Ngụy thư) ghi rằng:
“Nước Đại Nguyệt Thị đóng đô ở thành Lô-giám-thị, phía tây Phất-địch-sa, cách chừng 14.500 dặm. Nước này tiếp giáp với Nhuyễn Nhuyễn, vài lần bị xâm phạm liền dời đến phía Tây, đóng đô ở thành Bạc-la, cách Phất-địch-sa 2.100 dặm. Vua nước ấy là Ký-đa-la rất vũ dũng, ông hưng binh vượt qua Đại Sơn đi về phía Nam, xâm chiếm Bắc Thiên Trúc, từ nước Càn-đà-la cho đến năm nước phía Bắc đều thuộc về ông cả. Thời Thế Tổ, người nước ấy buôn bán đến tận Kinh sư (kinh đô đế vương Trung Quốc)”.  
Lại nữa, cũng sách trên, trong mục Tiểu Nguyệt Thị nói:
“Nước Tiểu Nguyệt Thị đóng đô ở thành Phú-lâu-sa. Vua nước ấy vốn là con của Ký-đa-la, vua nước Đại Nguyệt Thị. Ký-đa-la bị Hung Nô đuổi đi, sau khi dời về phía Tây, ra lệnh cho con mình giữ ngôi thành này, nhân đó xưng hiệu là Tiểu Nguyệt Thị”.
Từ đây có thể thấy, thời đại Ngụy Thế Tổ (năm 424 – năm 452 Tl.), vua Đại Nguyệt Thị tên là Ký-đa-la (Kitara), bị Nhuyễn Nhuyễn tức Nhu Nhiên tấn công, liền bỏ Đại Hạ, dời về phía Tây, đóng đô ở thành Bạc-la (đất thượng nguồn sông Oxus). Vì vua thành ấy vũ dũng liền chiếm lấy bắc Ấn Độ. Vậy thủ đô của Đại Nguyệt Thị là thành Lô-giám-thị, hoặc thành Bạc-la của nước Đại Hạ, ở phương Bắc núi Đại Tuyết v.v… Nên từ thế kỷ thứ V trở về trước, Đại Nguyệt Thị vì mất vùng đất Càn-đà-la (Gandhāra), mà chiếm cứ hết vùng đất từ núi Đại Tuyết trở về phía Bắc là rõ ràng. Rồi

 
hậu duệ của Ký-đa-la mới xưng là Tiểu Nguyệt Thị, chiếm thành Purushapura là Peshawar, thành lập riêng một vương quốc Nguyệt Thị. Nhưng đầu thế kỷ thứ IV Tây lịch trở về sau, quả thật vương triều Cấp-đa (Gupta) đang thời thịnh thế ở Ấn Độ, Nguyệt Thị đã mất thế lực của mình, không thể giữ được lãnh địa, do đó di dời trở lại đất cũ của Turkestan, từ núi Đại Tuyết trở về Nam. Nhất thời hiện rõ một tình trạng vô chính phủ, Nguyệt Thị phương Bắc cũng bị sự áp bức của Nhuyễn Nhuyễn phương Đông, rồi tiến dần vào Ba-tư, lại xung đột cùng Sassan,31 thế lực không thể duỗi thẳng về phương Tây, một lần nữa chạy vào Ấn Độ. Lúc này mạng mạch nước Tiểu Nguyệt Thị như treo trên sợi chỉ, sau đó đánh nhau với Áp-đạt, cuối cùng cũng đến ngày mạt lộ. Theo lời Tống Vân32 ghi, lúc ngài đi qua nước Càn-đà-la vào năm đầu niên hiệu Chánh Quang (năm 520 Tl.), thì Áp-đạt diệt Càn-đà-la, lập Tegin làm vua trở lại, trải qua hai đời (Lạc Dương già-lam ký quyển 5).33 Nước Càn-đà-la bị Áp-đạt diệt là nước Tiểu Nguyệt Thị. Nước Nguyệt Thị mất bởi Áp-đạt phải cách năm 520 Tây lịch, trước hai đời, ước chừng khoảng năm 470 đến năm 480 Tây lịch.
 

31 Sassan (Tát-san 薩珊, Sassanian hay đế quốc Sassanid, 224 – 651) là triều đại tiền Islam cuối cùng của đế quốc Ba-tư. Đây là một trong hai đế quốc hùng mạnh nhất vùng Tây Á trong vòng 400 năm.
32 Tống Vân 宋雲: Người Đôn Hoàng, Bắc Ngụy, năm sanh và năm mất không rõ. Tháng 11 năm đầu niên hiệu Thần Qui, Hiếu Minh đế, ngài phụng mạng Hồ Thái hậu cùng Sa-môn Pháp Lực, Tuệ (Huệ) Sinh v.v… qua Tây Vực cầu kinh. Khởi hành từ Lạc Dương qua Xích Lãnh, Thổ-cốc-hồn, Thiện Thiện… rồi đến Ấn Độ. Năm 521 trở về Lạc Dương, mang theo 170 bộ kinh Đại thừa tiếng Phạn và ngài có soạn bộ “Tống Vân hành ký” (Xem thêm cht. 6, tr. 126).
33 Lạc Dương già-lam ký 5, T51n2092_p1020c9.
 
/75
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
🙏 Trợ Lý Phật Pháp AI »