Tìm kinh sách
Vần A-Z:
Nghiên cứu Phật Giáo Tây Vực

Nghiên cứu Phật Giáo Tây Vực

Tác giả: Cư sĩ Tuệ Khai, Phụ chú: Thích Tâm Nhãn. Dịch giả: Cư sĩ Tuệ Khai, Phụ chú: Thích Tâm Nhãn. Năm xuất bản: 2011. Số trang: 604.

Chương 33: III. Thời Vận Thịnh Suy Của Phật Giáo Đại Nguyệt Thị (Trang 275 - 298)

Nay đem niên đại của các vua Đại Nguyệt Thị trình bày lại, vì đây là kết quả qua nhiều lần khảo chứng để chấn chỉnh cho bài này.
- Kaniṣka (Ca-nị-sắc-ca) đời thứ nhất… tức vị năm 58 trước Tl. (tại vị 28 năm).
- Huviṣka (Hồ-vi-tư-ca)… tức vị năm 31 trước Tl. (tại vị chừng 40 năm).
- Vāsudeva (Vi-tô-đặc-bà)… tức vị ước chừng năm 10 Tl. (tại vị chừng 30 năm).
- Kujula (Kujula Kadphises – Khâu-tựu-khước)… tức vị ước chừng năm 40 Tl. (tại vị chừng 35 năm).
- Wema (Wema Kadphises – Diêm-cao-trân)… tức vị ước chừng năm 75 Tl. (tại vị chừng hơn 20 năm).
- Vāsishka (Vi-tây-tư-ca)… tức vị ước chừng năm 95 Tl. (tại vị chừng 15 năm).
- Kaniṣka (Ca-nị-sắc-ca) đời thứ hai… tức vị ước chừng năm 110 Tl. (tại vị trên 10 năm).
- Vāsudeva (Ba-điều) đời thứ hai… ước chừng sinh vào giữa thế kỷ thứ III Tl..
- Kitara (Ký-đa-la)… ước chừng sinh vào giữa thế kỷ thứ V Tl..
III. THỜI VẬN THỊNH SUY CỦA PHẬT GIÁO ĐẠI NGUYỆT THỊ
Dân tộc Đại Nguyệt Thị từ khi di trú đến sông Amu Darya, cùng dân tộc Đại Hạ tiếp xúc với Phật giáo, chậm lắm là thế kỷ thứ I trước Tây lịch, quá trình kính tín phụng hành của họ đã nói rõ rồi.
Năm 58 trước Tây lịch, Kaniṣka đời thứ nhất, vua của Đại Nguyệt Thị đã có quan hệ với Phật giáo, kết quả như thế nào? Về truyền thuyết vua Kaniṣka, chủ yếu sớm nhất là từ Tây
 Vực ký của ngài Huyền Trang, thứ đến thấy rải rác trong Đại Trang nghiêm kinh luận, Mã Minh bồ-tát truyện, Bà-tẩu-bàn-đậu truyện, Phó pháp tạng nhân duyên truyện, Tạp bảo tạng kinh, Pháp Hiển truyện và Lịch sử Phật giáo Ấn Độ của Tāranlācha v.v… Nhưng chân tướng chuyện ấy rất khó nắm bắt, vả lại trong những truyền thuyết này, muốn tách biệt hai vị vua đồng tên trước sau quả là một việc khó. Hơn nữa nhân duyên nhà vua quy y Phật trong những ký thuật ấy rất tỉ mỉ rõ ràng, như Phó pháp tạng nhân duyên truyện quyển 5,34 đại khái liên hệ y cứ theo A-dục vương truyện,35 sự tích ấy cũng tường tận. Như trong ký sự của Tây Vực ký quyển 3, liên quan đến việc kết tập, rõ ràng là mô phỏng diễn bày theo truyền thuyết của lần kết tập thứ nhất. Còn những ghi chép khác đúng hay sai rất khó để chọn lấy hay bỏ đi.
Người ta khảo cứu trên đồng tiền của vua Kaniṣka đời thứ nhất có khắc hình Phật đủ chứng minh ông là tín đồ Phật giáo. Hơn nữa, tiết trước đã dẫn việc xưa về “Thuận hiện nghiệp” trong luận Đại Tỳ-bà-sa, có thể ngầm biết tình hình Phật giáo đã cảm hóa đức vua và bề tôi của vua. Tuy nhiên việc vua quy y Phật pháp hình như vào những năm cuối đời, vì những loại tiền mà nhà vua phát hành trước nhất đều có khắc tượng của các vị thần Hy Lạp, Ba-tư, Ấn Độ. Còn những tiền tệ phát hành sau cùng nhà vua mới đúc tạo hình Phật Thích-ca Mâu-ni (V. Smith: Early History of India. 2nd. ed. p. 247). Cho nên Tây Vực ký quyển 236 ghi:
 

34 Phó pháp tạng nhân duyên truyện 6 quyển, Cát-ca-dạ cùng Đàm Diệu dịch thời Nguyên Ngụy, T50n2085_p297.
35 A-dục vương truyện 7 quyển, An Pháp Khâm dịch thời Tây Tấn, T50n2042_p99.
36 Tây Vực ký 2, T51n2087_p879c15.
 
“Sau khi đức Như Lai Niết-bàn đến năm thứ bốn trăm, vua Ca-nị-sắc-ca đảm đương vận nước, thống lĩnh Thiệm-bộ châu, chẳng tin tội phước, khinh hủy Phật pháp”.
Lại nói:
“Nhà vua đi săn ở vùng đầm cỏ, gặp được con thỏ trắng, nhà vua đuổi theo, thỏ bỗng nhiên biến mất, thấy đứa trẻ chăn trâu ở trong rừng làm ngôi tháp nhỏ, cao chừng ba thước, nhà vua hỏi nó đang làm cái gì, đứa trẻ chăn trâu đáp, (xưa) Phật Thích-ca huyền ký (tiên đoán): ‘Sẽ có vị quốc vương ở nơi thắng địa này xây dựng ngôi tháp, xá-lợi thân ta gom tụ nhiều để trong tháp ấy’, nói rồi liền biến mất. Nhân đó, nhà vua phát đại chánh tín, thâm kính Phật pháp”.
Đầu đuôi câu chuyện xưa này hình như có quan hệ đến truyền thuyết Kaniṣka đời thứ nhất. Mục nước Phất-lâu-xa (Purushapura) trong Pháp Hiển truyện37 có nói đến vua Kaniṣka là Kế-nị-ca,38 cũng thuật nhân duyên vị vua ấy quy y Phật như lời trước, nhưng ghi về ngôi tháp vua xây dựng lúc bấy giờ rằng:
“Cao hơn bốn mươi trượng, trang sức bằng mọi thứ báu, ai đã từng thấy qua những tháp miếu tráng lệ uy nghiêm cũng không thể sánh được với ngôi tháp này, tương truyền: Tháp ở cõi Diêm-phù-đề chỉ ngôi tháp này là trên hết”.
 

37 Cao tăng Pháp Hiển truyện, T51n2085_p858b12.
38 Cao tăng Pháp Hiển truyện, p858b13: “…Thuở xưa, đức Phật cùng các đệ tử du hành đến nước này (nước Phất-lâu-sa), (lời ngài A-nan kể lại) Ngài bảo: ‘Sau khi Ta Bát-nê-hoàn sẽ có một quốc vương tên Kế-nị-ca (già) xây dựng tháp ở đây’. Sau đó, vua Kế-nị-ca xuất thế, một hôm đi du ngoạn…” (xem thêm cht. 109, tr. 231).
 
Lại tương truyền, kinh Trang nghiêm luận39 do ngài Mã Minh trước tác cũng chép:
“Ta thuở xưa từng nghe, trong dòng Câu-sa có vị vua tên Chân-đàn-ca-nị-tra, thảo phạt Đông Thiên Trúc, sau khi bình định, uy thế hiển hách, phước lợi đầy đủ. Lúc quay về bản quốc, giữa đường gặp chỗ bằng phẳng rộng rãi, nhà vua dừng nghỉ lại. Bấy giờ niềm vui duy nhất trong lòng vua chỉ lấy Phật pháp thay trang sức ngọc ngà. Ngay chỗ dừng nghỉ, nhà vua trông thấy xa xa một ngôi tháp, cho là tháp Phật, rồi cùng một ngàn người thị tùng đến chỗ tháp Phật; đi gần đến tháp, họ xuống ngựa đi bộ tới, trên đầu họ đều đội mũ Thiên bảo để trang sức, đến chỗ tháp họ quy mạng đảnh lễ.”
Chữ “Ta” trong câu mở đầu “Ta thuở xưa từng nghe…” thì Tây Tạng truyện của ngài Ma-hí-lí-chế-tra (Māṭrceṭa)40 tức Mã Minh (Aśvaghoṣa), nói hai người này là chỉ là một người mà khác tên. Tôi cho rằng, Kế-nị-ca (Kanika) cùng với Kaniṣka đời thứ hai cùng thời đại, có thể dựa vào sự ghi chép đó làm bằng chứng khảo tra được. (Tāranātha Geschichte d. Buddhismus. S. 83-92). Người gọi là Chân-đàn-ca-nị-tra (Candra Kaniṣka) thuộc chủng tộc Câu-sa (Kusān?), phải là Kaniṣka đời thứ nhất. Vậy khi vua Kaniṣka đời thứ nhất quy y Phật pháp, ngôi tháp lớn hoa lệ trang nghiêm tại đô thành Purushapura, tức nay là Peshawar 
 

39 Trang nghiêm luận kinh (Đại trang nghiêm kinh luận, Đại trang nghiêm luận kinh…) 6, T4n201_p287a22.
40 Ma-hí(điệt)-lí-chế-tra 摩咥里制吒, Skt. Mātṛceṭa, là học giả Phật giáo ở Trung Ấn Độ, sống khoảng hậu bán thế kỷ thứ II đến thứ III. Ngài có trước tác nhiều bài thơ tiếng Phạn tán dương trí đức của Phật (xem thêm cht. 172, tr. 106)… Theo thuyết Tây Tạng truyện nói, ngài và Bồ-tát Mã Minh là một người.
 
là do ông kiến lập. Việc ghi chép trong Tây Tạng truyện hình như trước thời vua Kaniṣka tổ chức kết tập, nhưng khảo tra sự ghi chép của Trung Quốc thì lần kết tập thứ 3 trong Tây Tạng truyện chính là lần kết tập thứ 4 mà chúng ta hay nói, đương nhiên không thể không xem là việc làm sau thời vua Kaniṣka.
Về lãnh thổ của vua Kaniṣka đời thứ nhất cai trị, căn cứ khảo sát những tiền tệ và văn khắc đã tìm kiếm được ở một số khu vực, thì ngoài Kiền-đà-la, Ca-thấp-di-la ra, phía Đông xa đến tận Muttra của sông Jumna, phía Nam đến thành Ba-la-nại (Benares) ở bờ Bắc sông Hằng, phía Bắc từ Panjab, phía Tây bắc đến miền Tây sông Ấn Độ. Nhà vua đã chiếm cứ một vùng lãnh thổ rộng lớn như thế, rồi sớm quy y Phật giáo, sự ảnh hưởng đó cũng phổ cập sâu sắc, rộng lớn. Tóm lại, vua Kaniṣka đời thứ nhất chính là Thỉ tổ của vương triều Quí-sương, đồng thời là người đầu tiên cải đổi tôn giáo quy y phụng sự Phật giáo.
Người nối dõi sau vua Kaniṣka đời thứ nhất là Huviṣka (Huska), hoặc con của Kaniṣka đời thứ nhất. Người đó thừa kế lãnh thổ của cha mình, thống lĩnh cai quản Kabul, Kashmir (kaśmira), Gaya và Muttra, kiến trúc ngôi thành Hushapura tại Kashmir, lấy tên mình đặt tên ngôi thành, lại xây dựng ngôi Già-lam rất tráng lệ. Về tiền của nhà vua, ông làm như tiên vương của mình, cho khắc tượng thần Hy Lạp, Ấn Độ, Ba-tư trên đồng tiền, nhưng tiền khắc đúc hình Phật thì tuyệt đối không thấy một đồng. Dù ông Smith có căn cứ vào sự thật này để tìm kiếm bàn luận về niềm tin của vua đối với Phật giáo thì cũng chưa chắc chắn lắm (V. Smith: Early Hist of Ind. P. 252). Nhà vua từng kiến lập Già-lam trang nghiêm, vào năm 2 trước Tây lịch, sai phái Y Tồn đến Trung Quốc xa xôi tuyên dương Phật giáo, nếu cho
rằng nhà vua ít tín ngưỡng Phật giáo thì quả thật chưa hẳn thế. Không luận là vua trước hay vua này, họ không phải là những tín đồ Phật giáo hẹp hòi mê muội, mà giống vua Asoka có tinh thần rộng rãi bao dung đối với các tôn giáo khác, vì đó là sự thật không thể nghi ngờ.
Người thừa kế ngôi vua Huviṣka là vua Vāsudeva, ông cho chạm khắc hình trâu và tượng thần Śiva41 trên mặt trái đồng tiền, hoặc là những vật liên quan đến sự sùng bái thần tượng của Ấn Độ như xích sắt,42 kích ba răng (cái chỉa ba răng) v.v… Đến như tên của vị vua này, nếu khảo sát kỹ, quả thật đồng nghĩa với thần Viṣṇu,43 có quan hệ tín phụng Bà-la-môn giáo, hình như chẳng phải người có tín ngưỡng sâu sắc Phật giáo. Đặc biệt khoảng từ năm thứ 10 đến năm 30 Tây lịch, trong tiền của nhà vua có chữ số niên đại từ 74 đến 98, mà văn trên đã từng thuật đến, và trong văn khắc Sanchi còn có chữ số niên kỷ 68. Theo sự thật này, thì thời gian nhà vua nắm giữ quốc gia ít lắm phải đến 30 năm — Phật giáo nước Đại Nguyệt Thị không những bị ảnh hưởng trở ngại đến sự phát triển, mà còn bị vua ấy ngược đãi. Nếu đúng như thuyết đó thì những tin tức từ Tây Vực đến Trung Quốc trong thời vị vua này đều mờ mịt không thể tìm được. Khu vực mà tiền tệ của nhà vua phân tán chỉ phát hiện ở vùng Tây bắc Ấn Độ; vì đến thời đại của vua Vāsudeva, phần lớn lãnh thổ của tiên vương đã mất hết, thế
 

41 Hán: Thần Thấp-bà 濕婆神 (Skt. Śiva), một trong ba vị thần chính trong Ấn Độ giáo, còn gọi là Lỗ-đạt-la (Skt. Rudra). Vị thần này mang tính cách lưỡng cực, huỷ diệt và cứu tế.
42 Hán: Luân sách 輪索, xích sắt treo bốn bên trên đỉnh tháp.
43  Hán: Tỳ-nữu thần 毘紐神, dịch Biến nhơn thiên, Biến tịnh thiên… Một trong ba vị thần giáo chủ của Ấn Độ giáo – Brahma, Vishnu (Viṣṇu), Shiva (Śiva). Thời kỳ thần thoại Phệ-đà, vị thần này được xem như một trong những vị thần Thái Dương.
 
 lực của vương quốc Quí-sương cũng bị suy yếu, như vậy đã rõ ràng!
Kujula lên ngôi khoảng năm 40 Tây lịch, chính là người khôi phục dần lãnh thổ tiên vương một thời đã mất dưới thời Vāsudeva, cũng chấn hưng lại Phật giáo một thời suy vi. Trên đồng tiền của nhà vua có khắc hình Phật, theo ông Cunningham nói, trên đó thường ghi văn tự “Sachadharmathida” (Boyer: L’epoque de Kaniṣka. J.A.1900, tome XV. P. 528). Ý nghĩa của từ đó là người bảo hộ chánh pháp, người bảo hộ Phật pháp. Nếu đúng như vậy thì Kujula thật là một tín đồ Phật giáo nhiệt tâm, chắc chắn thế, không cần nói thêm. Ngoài ra như Lương cao tăng truyện quyển 144 đã ghi, trong thời Vĩnh Bình đời Minh đế (năm 58-75 Tây lịch), Ma-đằng, Pháp Lan từ nước Nguyệt Thị đến Trung Quốc là đúng với thời đại của Kujula. Nhưng Ma-đằng có phải là người đầu tiên truyền Phật giáo vào Trung Quốc hay không, thật khó nói. Xuất Tam bảo ký tập45 ghi:
“Hán Hiếu Minh đế mơ thấy người vàng, xuống chiếu sai sứ giả Trương Khiên, Vũ lâm trung lang tướng Tần Cảnh đến Tây Vực, đầu tiên gặp Sa-môn Trúc-ma-đằng ở nước Nguyệt Thị dịch chép kinh này (kinh Tứ thập nhị chương), rồi trở về Lạc Dương”.
Lời văn trên chỉ nói, gặp Trúc-ma-đằng ở nước Nguyệt Thị, ngài Tăng Hựu (soạn Xuất Tam bảo ký tập) nhận định có việc Ma-đằng đến Trung Quốc, nhưng sách ấy lại nói: “Người truyền dịch đầu tiên là sứ giả Mĩ Du Trương
 

44 Cao tăng truyện 1, T50n2059_p322c15.
45 Xuất tam tạng ký tập 2, T55n2145_p5c17.
 
Khiên”,46 cho Trương Khiên là người đầu tiên trực tiếp phiên dịch. Cũng trong sách ấy, ngài Tăng Hựu ghi truyện 32 vị phiên dịch, nhưng tên ngài Ma-đằng và Pháp Lan bị lược bỏ, không liệt kê vào.
Tuy nhiên khảo cứu những điểm thuật trên, chắc chắn hai vị tăng Ma-đằng và Pháp Lan từng đến Trung Quốc phiên dịch kinh điển, điều này không gì khó tìm bằng chứng. Trong Tây Tạng truyện ghi, học trò của đệ tử ngài Long Thọ (Nāgārjuna) có vị sư chú thuật tên Đồ Chủng (Mātanga). Ông A. Schiefner cho rằng, ông Đồ Chủng này có thể là ngài Ma-đằng đến Trung Quốc truyền đạo, đây không phải là lời văn tưởng tượng (Tāranātha, Geschichte d. Buddhismus. S. 88, 311). Chúng ta cũng xét kỹ những gì trong Cao tăng truyện của Tuệ Kiểu, liên quan đến những truyện ký đó, rất có thể có nhiều chuyện lạ tồn tại, như việc ghi chép kinh điển do ngài Pháp Lan dịch, thuyết đó khó tin. Điểm này ông Ngốc Thị Hựu Tường đã bàn luận rồi!
Căn cứ truyện Tây Vực trong Hậu Hán thư, ở mục nước Thiên Trúc ghi:
“Đời truyền rằng: Minh đế mơ thấy người vàng, cao lớn, đỉnh có ánh sáng, nhà vua đem chuyện hỏi quần thần, có người thưa rằng: Phương tây có vị thần tên là Phật, thân hình ngài cao một trượng sáu thước màu hoàng kim. Do đó vua sai sứ đi Thiên Trúc học hỏi đạo pháp của Phật, ngay ở Trung Quốc vua cho vẽ hình tượng. Sở Vương Anh đầu tiên tin cái thuật ấy, nhân việc này Trung Quốc có nhiều người thờ phụng đạo ấy.”
 

46 Xuất tam tạng ký tập 2, p5b25: “Truyền dịch sở thuỷ, Mĩ Du Trương Khiên chi sứ 傳譯所始, 靡踰張騫之使”. 
 
Sở Vương Anh, một tín đồ Phật giáo trước nhất, là con vợ lẻ của Quang Võ đế, anh em của Minh đế. Căn cứ truyện Sở Vương Anh trong Hậu Hán thư Liệt truyện quyển 32, Minh đế chiếu chỉ cho ông rằng:
“Sở Vương tụng lời vi diệu của Hoàng Lão,47 còn thờ cúng Phù-đồ (Phật), trai giới tinh khiết ba tháng, cùng thần linh phát thệ, hiềm gì nghi gì, phải có hối hận, chuộc trở lại lỗi ấy, thết cỗ lớn khoản đãi Y-bồ-tắc, Tang-môn”.
Đó là từ năm Vĩnh Bình thứ 8 trở về trước. Y-bồ-tắc là Ưu-bà-tắc, Tang-môn là Sa-môn nhận Sở Vương Anh cúng dường, chắc chắn là vậy. Lúc bấy giờ mà thấy nghi thức Phật giáo trang nghiêm quan trọng cũng không phải là sai. Cho nên Lịch đại tam bảo kỷ quyển 4 của Phí Trường Phòng ghi, năm Vĩnh Bình thứ 7, Minh đế mơ thấy người vàng, triệu quần thần đến đoán xem, cũng không thể cho là truyền thuyết tuyệt đối khó tin. Lại như Phật tổ thống kỷ quyển 35 chép, năm Vĩnh Bình thứ 10, Phật giáo bắt đầu truyền vào Trung Quốc, đây quả thật là lầm lẫn hoàn toàn. Phật giáo truyền vào Trung Quốc ít lắm là năm Vĩnh Bình thứ 8 trở về trước. Pháp Lâm phá tà luận quyển thượng48 nói rằng:
“Từ năm Vĩnh Bình thứ 3 đời Minh đế nhà Hậu Hán mơ thấy người vàng trở lại thì thời tượng giáo lưu hành về phía Đông”.
 

47  Hoàng Lão 黃老: Hoàng Lão học phái, học phái này gộp chung Hoàng đế trong truyền thuyết với Lão Tử và tôn xưng lên hàng các vị khai sáng phái Đạo gia.
48 Phá tà luận 1 (ngài Pháp Lâm soạn thời Đường, 2 quyển), T52n2109_p467c17.
 
Thuyết này gần với sự thật hơn. Việc ghi chép của ngài Pháp Lâm đại khái là căn cứ vào Hán pháp bản nội truyện.49 Tóm lại, sự tích của Ma-đằng, Pháp Lan, không muốn tin cũng không được, bởi vì việc truyền bá Phật giáo nhất định phải nhờ vào sự thông dịch của những bậc thầy truyền đạo này. Thời Minh đế quả thật sớm đã có Tăng nhân Phật giáo ở Tây Vực đến Lạc Dương truyền giáo, chắc chắn như thế. Lúc bấy giờ, nước Đại Nguyệt Thị phải là đời của Kujula, vì Kujula là tín đồ Phật giáo nên đại đa số những bậc thầy truyền đạo cũng đến từ nước Đại Nguyệt Thị. Thời trước Tây lịch, sứ giả của vua Đại Nguyệt Thị là Y Tồn đã đến Trung Quốc truyền bá kinh Phật, nên đương thời vua Đại Nguyệt Thị tự coi mình là người bảo hộ Phật giáo, thì người nước ấy từ xa đến Trung thổ truyền giáo, không thể nói là không chính xác.
Như đoạn ký sự trong mục nước Phất-lâu-sa (Purushapura), Pháp Hiển truyện50 nói:
“Thuở xưa vua Đại Nguyệt Thị muốn lấy cái bình bát của Phật, hưng binh hùng mạnh chinh phạt, hàng phục được nước ấy. Vua Nguyệt Thị dốc một lòng tin Phật pháp, muốn đem bát đi nên tổ chức lễ cúng dường lớn. Cúng dường Tam bảo xong, mới trang hoàng con voi lớn, rồi đặt bát lên trên voi, nhưng con voi cứ phục sát xuống đất, không thể tiến tới trước được. Vua lại làm chiếc xe bốn
 

49 Hán pháp bản nội truyện: Hay gọi là Pháp bản nội truyện, gồm 5 quyển, được soạn vào thời nào và ai soạn không rõ. Sách này nói việc Phật giáo lúc mới du nhập Trung Quốc khoảng năm Vĩnh Bình (58-75 Tl.) đời Minh đế nhà Hậu Hán… Đến nay bản hoàn chỉnh của sách này vẫn không thấy lưu truyền, chỉ thấy rải rác trong Quảng hoằng minh tập quyển 1, Pháp uyển châu lâm quyển 18 v.v…
50 Cao tăng Pháp Hiển truyện 1, T51n2085_p858b21.
 
bánh để chở bát, tám con voi chung sức kéo, cũng không thể tiến tới, nhà vua biết nhân duyên với bát chưa đến, rất thẹn thùng. Tại chỗ này ông liền dựng tháp và Tăng Già-lam, đồng thời để lại người trấn thủ cúng dường đủ thứ.”
Vậy vua Đại Nguyệt Thị thật là người nào? Theo kiến giải của tôi, đại khái vị vua này là Kujula, như Hậu Hán thư đã ghi là Kujula (Khâu-tựu-khước) lấy đất Kabul, lại diệt Bộc-đạt, Kế Tân, và nếu chúng ta nghiên cứu thêm từ trên tiền cổ thì chính xác nhà vua là tín đồ Phật giáo. Vậy vua Kujula tín phụng Phật giáo, và đối với di vật của đức Phật, tôn trọng bát của Phật, chắc chắn là việc đương nhiên.
Vua Nguyệt Thị kế sau Kujula là Wema, tuy từng diệt Thiên Trúc nhưng trên đồng tiền thời vua Wema thường cho đúc văn tự tín ngưỡng Đại tự tại thiên (Mahésvara),51 còn khắc tượng thần Śiva (Thấp-bà), vậy vua Wema là người tin thần Śiva, chẳng phải tín đồ Phật giáo. Nhân đây có thể biết, đối với bát Phật, vua Wema không có sự kính trọng. Hai vị vua Kaniṣka tuy là người đại bảo hộ Phật giáo, nhưng họ từng định đô ở Purushapura, là đất sở tại của bát Phật thì việc mang bát Phật đi khỏi đất này thật không thể có. Căn cứ vào sự khảo sát này, vua Đại Nguyệt Thị trong Pháp Hiển truyện tức chỉ Kujula, điều này đương nhiên có lý do. Nếu quả thế thì tại sao Kujula dốc lòng tin Phật pháp? Tại sao tôn trọng di vật của đức Phật v.v…? Chắc chắn có nhiều chỗ nghiên cứu. Vì muốn lấy bát Phật mà hưng chiến, là biết được sự tận lực của vị vua này đối với Phật giáo, và Phật giáo có sự hưng long là kết quả đương nhiên. Do đó lúc bấy
 

51 Đại tự tại thiên 大自在天: Skt. Maheśvara, Pāli. Mahissara, dịch âm Ma-hê-thủ-la, theo truyền thuyết là thân phẫn nộ của thần Lỗ-nại-la (Skt. Rudra). Vị trời này cũng là Chủ thần Thấp-bà của Bà-la-môn giáo.
 
 giờ Phật giáo ở nước Đại Nguyệt Thị cực kỳ phát triển, còn sai phái những vị đại sư đến các nước xa xôi truyền đạo.
Mâu Tử lý hoặc luận52 ghi lại rất nhiều kết quả việc vua Minh đế sai phái sứ giả, mà niên đại của việc sai sứ cho thấy Phật giáo bắt đầu vào Trung Quốc rất sớm; như Lịch đại tam bảo kỷ53 đã chép, là năm thứ 7 niên hiệu Vĩnh Bình, chính là khoảng năm 65, trong giai đoạn Tây Vực và Trung Quốc cách tuyệt giao thông được ghi trong truyện Tây Vực Hậu Hán thư. Năm 65 là khoảng năm Vĩnh Bình thứ 16, kể từ lúc Vương Mãng cướp ngôi đến lúc Ban Siêu trở lại với Tây Vực. Lại nữa, nếu việc Minh đế sai phái sứ giả là năm Vĩnh Bình thứ 16 trở về sau, mà không phái sứ giả khác thì không cần qua sự nghe thấy của Ban Siêu và mọi người sao? Nếu không có chuyện ghi chép việc sai phái sứ giả khác để tra cứu, thì trong truyền thuyết xưa của Phật giáo do Tây Vực truyện truyền lại, cũng có một đoạn ghi chép sau đây, sách Tịnh độ tam bộ kinh âm nghĩa tập54 (Sa-môn Tín Thụy biên tập năm Gia Trinh thứ 2) quyển 1 viết:
“Đông Cung thiết vận ghi: Quách Tri Huyền nói, kinh là linh điển cổ; kinh có nghĩa là kinh vĩ, Thích Thị nói rằng, kinh còn có nghĩa là dây tơ bện nhờ máy dệt thành, Tiết Tuân nói, kinh là kinh pháp, sách của Thánh vương (kinh Phật, kinh Thánh…), hoặc nghĩa kinh là thường pháp
 

52 Mâu Tử lý hoặc luận 牟子理惑論: Hay gọi là Mâu Dung biện hoặc, 1 quyển, do Mâu Tử (người quận Thương Ngô, sống cuối đời Đông Hán, họ Mâu tên Dung) soạn vào cuối thế kỷ II đầu thế kỷ III, thu vào Hoằng minh tập quyển 1, T52n2102_p01.
53 Lịch đại tam bảo kỷ 2, 4, T49n2034_p29b9, p49b6.
54 Tịnh độ tam bộ kinh âm nghĩa tập 淨土三部經音義集, 4 quyển, T57n2207_p383. Bộ này chú giải những câu, chữ, danh tướng v.v… khó hiểu thuộc Phạn ngữ trong ba bộ kinh Tịnh độ.
 
(thường thấy, thường có). Lại nữa, lời dạy của văn tịch gọi ‘kinh’ là lời dạy của đức Phật lưu lại. Hán Minh đế đêm mơ thấy người vàng hơn một trượng, triệu quần thần nghị bàn, quần thần quả quyết rằng: Nước Tây Trúc sinh ra vị Thánh nhân người Hồ, gọi là Phật. Sau đó vài tháng, nước Tây Trúc hiến Phật, ngựa trắng chở kinh đến vậy.”55
Theo ông Ngốc Thị nói, Sa-môn Tín Thụy là Gian Nguyên Thị Thiện, văn từ soạn Đông Cung thiết vận là của ông ấy. Ông Đằng Nguyên Tá Thế người Nhật Bản, xem trong mục lục thư tịch thời triều đại Bình An thấy có nhiều bản in (viết) tốt, nay lại tuyệt truyền, mà phần nhiều từ Trung Quốc truyền vào Nhật Bản. Nói như thế bởi vì nguyên lai lúc bấy giờ việc ghi chép của Nhật Bản cho rằng do Trung Quốc truyền đến Nhật Bản, có bản khắc tinh tế trân quí. Nếu thuyết này không sai thì trong văn gọi nước Tây, đại khái chỉ Đại Nguyệt Thị mà nói.
Vấn đề ấy trước tiên tôi xin nêu lên một ý, trong đồng tiền của Wema (Wema Kadphises) có khắc tượng thần Śiva, lại cầm cái chỉa ba biểu thị cho tín ngưỡng Śiva (Wieson: Antiquities and Coins of Afghanistan PP. 354–355), chắc vị vua ấy không phải tín đồ Phật giáo. Nhưng năm thứ 18, nhà vua lên ngôi, nhân kỷ niệm việc vương gia phục hưng, tướng quân Lala vương tộc Quí-sương cho kiến lập tháp, do đó có thể biết trong vương tộc này phải có tín đồ Phật giáo, chắc chắn như thế. Thứ nữa, vị vua lên ngôi kế Wema phải thuộc về Vāsishka, nhưng những đồng tiền thời ông ta vẫn chưa tìm
 

55 Nguyên đoạn văn trên, Dịch giả y theo nguyên bản trong “Tịnh độ tam bộ kinh âm nghĩa tập” 1, (T57n2207_p383c28) dịch lại, vì trong nguyên tác trích dẫn có nhiều chữ nhầm lẫn. 
 
thấy, nên luận về tín ngưỡng của nhà vua không biết căn cứ vào đâu để phán đoán. Và sự tích của vua cũng không biết được điều gì, không thể khảo sát được, chỉ biết Kalhaṇa là người kiến tạo thành Jushkapura. Tên Jushka (Rājataranginī. 169) có thể là chuyển sai của tên Vāsishka. Lại nữa, ngài Huyền Trang đã nghỉ qua đêm ở chùa Hộ-sắt-ca-la (Huviṣkāra) tại nước Ca-thấp-di-la, căn cứ tên chùa này mà xét, hình như nó cũng do nhà vua tạo dựng (Từ Ân tự truyện quyển 2).56
Tiết trước đã bàn luận tỏ tường việc vua ấy khôi phục lãnh địa cũ của vua Kaniṣka đời thứ nhất, tái phục hưng vương gia Quí-sương, tự khai sáng Wema tân kỷ nguyên, tuy vua ấy có làm như thế nhưng không phải người tín ngưỡng Phật giáo, là giáo đồ Bà-la-môn. Thời đại của nhà vua là cuối thế kỷ thứ I Tây lịch. Phật giáo Đại Nguyệt Thị lúc này đang trong tình trạng không chấn hưng được. Nếu đúng thế thì từ thời Minh đế nhà Hậu Hán, Tăng sĩ Phật giáo nước Đại Nguyệt Thị đã vào Trung Quốc hoằng pháp truyền giáo cho tới nay. Lúc đó, Trung Quốc và Tây Vực giao hảo qua lại về chính trị rất thịnh, nhưng sự giao lưu Phật giáo ở hai vùng đất ấy hoàn toàn đoạn tuyệt rất lâu đến 80 năm. Đời vua Vāsishka cai trị cũng ở trong thời kỳ gián đoạn này, nên có lẽ Vāsishka cũng không phải người để tâm đến Phật pháp.
Nhưng đến giữa thế kỷ thứ II Tây lịch, tức là năm Kiến Hòa thứ 3 đời Hoàn đế (năm 149 Tl.), Tăng sĩ Phật giáo Nguyệt Thị là Chi-lâu-ca-sấm đến Lạc Dương, rồi từ đây về sau, Sa-môn, cư sĩ Tây Vực liên tục đến Trung Thổ giáo hóa, truyền đạo. Song, sự giao thông Phật giáo của hai vùng
 

56 Từ Ân tự truyện (Đại Đường Đại Từ Ân tự tam tạng pháp sư truyện) 2, T50n2053_p231a12.
 
đất này cũng không phồn thịnh lắm. Do đâu mà tín đồ Phật giáo Tây Vực được đến Trung Thổ? Do con Vāsishka là Kaniṣka đời thứ hai sau khi lên ngôi, tận lực hưng long Phật pháp. Vả lại, nhà vua không chỉ khôi phục lại lãnh thổ cũ của tiên vương chiếm cứ, mà theo sự ghi chép của ngài Huyền Trang thì cả vùng đất Thông Lĩnh trở về phía Đông đều là khu vực trong thế lực của vua ấy. Ông Stein, Smith đều nói, các vùng đất Kāshgar, Yarkand, Khotan cũng ở trong phạm vi thế lực của vua Kaniṣka. Kinh Tạp bảo tạng quyển 757 chép, nhà vua từng vượt Thông Lĩnh chinh phạt phương Đông mà chưa thỏa chí — Lại căn cứ vào Mã Minh bồ-tát truyện58 và Phó pháp tạng nhân duyên truyện quyển 5,59 có nói ẩn ý, hoặc trình bày rõ việc nhà vua từng chinh phục Trung Thiên Trúc. Những truyền thuyết này không có sự khảo chứng xác thật nên cũng như không. Tóm lại, nhà vua không những kế thừa lãnh thổ của tiên vương mà còn khuếch trương rộng lớn ra nữa, điểm này quả thật không còn gì bàn cãi nghi ngờ nữa. Và hình như nhà vua cũng từng định đô ở thành Purushapura tại Kiền-đà-la.
Theo Tây Tạng truyện ghi, nước Ca-thấp-di-la có vị vua tên Sư Tử (Siṃha), sau xuất gia làm Tăng đổi tên là Thiện Kiến (Sudarsana), đắc quả A-la-hán, truyền bá Phật giáo rộng khắp nước Ca-thấp-di-la. Vua Chiên-đàn Ca-nị-sắc-ca (Candra Kaniṣka) nghe danh tôn giả Sư Tử Thiện Kiến liền đến nước Ca-thấp-di-la xin qui y, nghe giảng pháp và lễ bái tất cả tháp (caitya, Chi-đề) ở phương Bắc.
 

57 Kinh Tạp bảo tạng 7 (Cát-ca-dạ và Đàm Diệu dịch thời Nguyên Ngụy, 10 quyển), T4n203_p484b15.
58 Mã Minh Bồ-tát truyện, Cưu-ma-la-thập dịch thời Hậu Tần, 1 quyển, T50n2046_p183a26.
59 Phó pháp tạng nhân duyên truyện 5, T50n2058_p315b5.                   
 
 Sa-môn bốn phương đều đến cúng dường tôn giả. (Tāranatha: Geschichte d. Budd. S, 58-4). Truyền thuyết này rất giống trong kinh Tạp bảo tạng quyển 760 nói rằng:
“Vua nước Nguyệt Thị tên là Chiên-đàn-kế-ni-tra, nghe nước Kế Tân có tôn giả A-la-hán tên là Kỳ-dạ-đa rất nổi tiếng; nhà vua muốn gặp mặt ngài liền dời xa giá, cùng các quần thần tùy tùng đến nước Kế Tân. Đi giữa đường nhà vua trộm nghĩ, ta nay là vua, vua đối với thiên hạ, tất cả nhân dân đều kính phục ta, và ta là người có đức lớn thì làm sao có ai đủ sức thọ sự cúng dường của ta được? Tuy nghĩ vậy nhưng vẫn tiến về phía trước, qua đến nước kia.…  Quốc vương Nguyệt Thị đến trú xứ của vị Tăng ấy, nhìn thấy uy đức tôn giả Kỳ-dạ-đa, nhà vua càng kính tín, đến trước cúi đầu vái chào, rồi lùi về đứng một bên. Nhằm lúc tôn giả muốn nhổ nước dãi, quốc vương Nguyệt Thị vội bước đến trước trao ống nhổ, tôn giả Kỳ-dạ-đa nói với quốc vương: ‘Bần đạo chưa đủ sức làm ruộng phước cho nhà vua, cần gì mà nhà vua phải đích thân khuất tất thần giá?’ Vua Nguyệt Thị quá hổ thẹn: ta hướng về ngài trộm sinh ý niệm nhỏ mà ngài biết được lòng ta, nếu ngài chẳng phải thần đức thì làm sao có thể biết được? Một lần nữa nhà vua tỏ lòng cung kính. Tôn giả Kỳ-dạ-đa vì nhà vua lược nói giáo pháp: ‘Khi vua đến thì đạo tốt, khi đi như khi đến’. Nghe giảng pháp xong, nhà vua tạ từ trở về nước.”
Vị A-la-hán Kỳ-dạ-đa ở Ca-thấp-di-la, có lẽ cùng với ngài Sư tử Thiện Kiến ghi trong Tây Tạng truyện là một người. Câu chuyện cũ này có quan hệ với Kaniṣka đời thứ
 

60 Tạp bảo tạng kinh 7, p484a12, (93) nhân duyên vua nước Nguyệt Thị diện kiến A-la-hán Kỳ-dạ-đa.
 
nhất đúng hay không tuy chưa thể biết, nhưng kinh Tạp bảo tạng cho ngài Kỳ-dạ-đa là người khoảng 700 năm sau khi đức Phật diệt độ, có lẽ ngài là vị Cao tăng cùng thời với Kaniṣka đời thứ hai. Nếu truyền thuyết này bao hàm tính đáng tin bao nhiêu, thì từ đây có thể tìm biết lòng nhiệt thành cầu đạo của nhà vua bấy nhiêu.
Lại nữa, Tây Tạng truyện ghi chép về thời đại Ma-điệt-lí-chế-tra, cho rằng thời ấy cách đời vua Crichandra đã nhiều năm; đồng thời có vị vua thiếu niên tên là Ca-nị-ca (Kanika), thống trị nước Tili và Malava, ông ta phát hiện thấy 28 mỏ đá quí, trở nên giàu có, kiến tạo bốn ngôi Già-lam lớn ở bốn phương, cúng dường ba vạn chúng Tỳ-kheo Đại thừa và Tiểu thừa (Tāranātha: Geschichte d. Budd S. 89). Việc xây dựng bốn ngôi Già-lam lớn, trong Tây Vực ký  quyển 1 nói rằng:
“Vua Ca-nị-sắc-ca từng theo thời tiết nóng lạnh mà dời chỗ ở của mình, mùa Đông cư trú tại các nước vùng Ấn Độ, mùa Hạ đi đến nước Ca-tất-thí, mùa Xuân mùa Thu lưu trú nước Kiền-đà-la, ở chỗ cư trú theo khí hậu ba mùa này đều xây dựng Già-lam”.
Hình như điều này giống với ký sự trước. Vậy người trong Tây Tạng truyện gọi là Ca-nị-ca có thể là Kaniṣka đời thứ hai, bởi vì nhà vua từng kiến lập những ngôi Già-lam lớn ở bốn phương, cung phụng hậu đãi Sa-môn rất nhiều. Vào lúc rảnh rang việc triều chính, nhà vua thường nghiên cứu kinh Phật, mỗi ngày mời một vị Tăng vào cung thuyết pháp, thường thực hành tu tập, đồng thời tạo chùa xây tháp, cúng dường Phật sự, bày tỏ tấm lòng sùng kính Tam bảo. Sự nghiệp lớn nhất trong đời ông là cống hiến cho Phật giáo, như lần kết tập thứ 4 về việc biên tập bộ Đại Tỳ-bà-sa luận. Nhà vua vì sự nghiệp lớn này đã triệu tập từ Hiếp tôn giả
 (Pārśva) cho đến vài trăm đại đức để hoàn thành sự nghiệp kết tập tại nước Ca-thấp-di-la. Liên quan đến mục nghiên cứu này xem “Phật giáo nước Ca-thấp-di-la”. Vua Kaniṣka kết tập lần này có liên quan đến các vị đại đức Mã Minh, Thế Hữu, Ca-chiên-diên, Bà-tu-mật v.v… nhưng xin tỉnh lược không bàn luận.
Nói tóm lại, như trước đã luận, Kaniṣka đời thứ hai đã chi phối một vùng lãnh thổ rộng lớn như thế là do sự nhiệt tâm nỗ lực bảo hộ Phật giáo của nhà vua, nên sự ảnh hưởng của ông cũng sâu rộng cùng khắp, việc này xác thật, chắc chắn. Hay nói rõ hơn là Phật giáo thời Kaniṣka đời thứ hai ở Đại Nguyệt Thị đã đạt đến sự hưng thịnh “Vô tiền khoáng hậu”. Về số năm nhà vua thống trị đất nước, trong vòng 41 năm, bớt đi 28 năm trị vì của vua Kaniṣka (Ca-nị-sắc-ca)61 (đời thứ nhất), phải ở con số 10 năm trở lên. Về niên đại của nhà vua tuy không có gì để khảo sát phán đoán, nhưng dựa vào sự khuếch trương lãnh thổ của nhà vua và Phật pháp hưng long thì có thế biết nhà vua tại vị ước chừng khoảng năm 50-60 Tây lịch.
Từ vua Kaniṣka đời thứ hai trở về sau, tên và cuộc đời của các vị vua đều không có để khảo sát, do đó tình hình Phật giáo ở nước Đại Nguyệt Thị về sau hoàn toàn không rõ ràng. Nhưng căn cứ vào sự ghi chép văn thư cổ Clemens ở thành Alexander, thời kỳ đầu thế kỷ thứ III Tây lịch, lúc bấy giờ Đại Nguyệt Thị đã bị Đại Hạ xâm chiếm, Sa-môn đối với triết học đều đã đạt đến chỗ thâm trầm, phồn vinh v.v… (Lassen: Ind Alterthumskunde II. S. 1706). Lại nữa, qua sự khảo sát của tôi, những vị như Chi-cương-lương-tiếp, Chi
 

61 Trong bản nguyên tác, có thể Tác giả (Vũ Khê Liễu Đế) viết nhầm, hoặc do ông Hạ Xương Quần dịch nhầm là Vi-tây-sắc-ca 韋西色迦.
 
 Pháp Độ, Chi Đạo Căn v.v… đều là người nước Nguyệt Thị, ở giữa thế kỷ thứ III Tây lịch trở về sau, họ đến Trung Quốc theo việc phiên dịch kinh điển. Đến đầu thế kỷ thứ 4 Tây lịch, sách Eutebius (Du-đề-tỷ-tư) ghi “Nước Đại Hạ có vài ngàn Bà-la-môn” - ông Lassen khảo chứng, Bà-la-môn tức là Sa-môn (Lassen: Ind. Alterthumskunde. S. 1956). Năm 373 Tây lịch, lại có Ưu-bà-tắc Chi Thí Luân đi qua nước này, từng đến Lương Châu truyền bá phiên dịch kinh điển Phật giáo. Sau đó chừng 10 năm, lại có Đàm-ma-nan-đề (Dharmanandi) từ nước này đến Trường An truyền dịch kinh, luận. Căn cứ vào những điều này có thể biết, nước Đại Nguyệt Thị từ vua Kaniṣka đời thứ hai, đến cuối thế kỷ thứ IV Tây lịch là thời kỳ Phật giáo thịnh hành nối tiếp nhau.
Năm 402 Tây lịch, ngài Pháp Hiển vào Bắc Ấn Độ, chu du qua các nước Udyāna, Swat, Gandhāra, Takshasila, Purushapura, ghi lại tình hình Phật giáo ở những địa phương này. Như trước đã thuật, lúc bấy giờ Đại Nguyệt Thị đã mất thế lực ở vùng Bắc Ấn Độ, lại chiếm cứ vùng đất Turkestan, từ Kush trở về Bắc xây dựng kinh đô, còn miền Bắc Ấn Độ thì bị vương triều Cấp-đa (Gupta) chi phối. Theo sự ghi chép trong Pháp Hiển truyện, hình như lúc ấy nước Đại Nguyệt Thị không có quan hệ với Phật giáo. Sau hơn 30 năm, xuất hiện vua Ký-đa-la vũ dũng, chinh phục Bắc Ấn Độ, đến khoảng năm 480 Tây lịch, Đại Nguyệt Thị bị Áp-đạt xâm nhập, con cháu của vua Ký-đa-la mới chiếm cứ thành Purushapura, lập ra nước Tiểu Nguyệt Thị. Nên lúc bấy giờ, tình hình Phật giáo ở vùng đất này không thể không đặt ra nhiều câu hỏi. Mục nước Ô-trường (Udyāna) trong Pháp Hiển truyện62 chép: “Phật pháp rất thịnh, trong Già-lam đều
 

62 Cao tăng Pháp Hiển truyện 1, T51n2085_p858a20.
 
có chúng Tăng ở, có đến 500 Già-lam Tăng, đều học Tiểu thừa. Nếu có khách Tỳ-kheo đến, đều cúng dường cho ba ngày, ba ngày qua rồi mới để cho họ tự tìm sự sinh sống”. Lại ở mục nước Túc-ha-đa (Swat) ghi: “Nước ấy Phật pháp cũng thịnh”. Mục nước Kiền-đà-vệ (Gandhāra) ghi:
“Khi đức Phật làm Bồ-tát cũng ở nước này, đem mắt bố thí cho người, nước ấy cũng khởi dựng tháp lớn, trang hoàng bằng vàng bạc, người nước này phần nhiều học Tiểu thừa”.
Lại nữa, trong mục nước Trúc-sát-thi-la (Takshasila) nói bốn ngôi tháp lớn của đất ấy: “trang sức bằng mọi thứ báu, các quốc vương, thần dân luân phiên dâng lễ cúng dường, tung hoa đốt hương nối tiếp nhau chẳng dứt”. Mục nước Phất-lâu-sa (Purushapura) thì luận về cái bát của đức Phật còn tồn tại ở nước ấy: “Có hơn 700 vị Tăng, hằng ngày đến giờ ngọ, chúng Tăng đem bát Phật ra cùng bạch y (cư sĩ) v.v… cúng dường đủ thứ, sau đó mới ăn bữa ngọ. Đến chiều thì đốt hương lại làm như vậy”. Theo những ghi chép này có thể biết, khi ngài Pháp Hiển chu du Bắc Ấn Độ, cả một dải đất này hình như Phật giáo rất thịnh hành.
Từ giữa thế kỷ thứ IV Tây lịch trở về sau, Đại Nguyệt Thị chịu lắm áp bức của Áp-đạt, đến năm 480 Tây lịch, bị Áp-đạt tiêu diệt hoàn toàn. Sau đó, Phật giáo ở những nơi ấy chắc chắn bị nhiều ngược đãi. Vậy thì sao? Truyện Tây Vực trong Ngụy thư nói:
“Nước Áp-đạt thuộc tộc Đại Nguyệt Thị, cũng là chủng tộc Cao-xa, nguồn gốc phát xuất ở vùng biên giới phương Bắc, từ Kim Sơn đến phía Nam, ở phía Tây Vu-điền, đóng đô cách hơn 200 dặm về phía Nam sông Ô-hử… không thành ấp, nương theo chỗ có nước có cỏ, lấy mảnh giạ

 
làm lều (nhà), mùa Hạ dời về vùng đất mát mẻ, mùa Đông chạy đến chỗ ấm áp, phần vợ con của họ đều ở chỗ riêng, cách nhau 200, 300 dặm. Vua của họ tuần tự đi qua, mỗi tháng một nơi, khi mùa Đông lạnh lẽo thì ba tháng chẳng di chuyển… Người tộc ấy hung hãn, hay đánh nhau. Nước Khương Cư, Vu-điền, Sơ-lặc, An Tức và khoảng 30 nước nhỏ ở vùng Tây Vực đều thần phục họ, xưng hiệu là Đại Quốc.”
Áp-đạt quả thật là một dân tộc sinh hoạt du mục rất hung hãn. Năm đầu niên hiệu Chánh Quang nhà Bắc Ngụy (năm 520 Tl.), Tống Vân vào nước Áp-đạt, căn cứ lời ông nói, dân tộc này phần nhiều không tin Phật pháp, ưa thờ ngoại thần, Phật giáo ở những vùng đất do Áp-đạt chiếm giữ nhất định càng bị áp bức, có thể khẳng định như vậy. Tuy nhiên, vùng đất đầu tiên của Đại Nguyệt Thị mà Áp-đạt xâm chiếm, Phật giáo ở đó có bị diệt nhưng chưa tuyệt mất, nên Tùy thư quyển 83 nói:
“Nước Thổ-hóa-la đóng đô ở chỗ 500 dặm về phía Tây Thông Lĩnh, ở xen lẫn với Ấp-đát, đô thành vuông hai dặm, binh lực hùng mạnh mười vạn người, đều quen chiến đấu, tục nước ấy phụng thờ Phật”.
Nước Thổ-hóa-la này (Đổ-hóa-la, Tukhāra) có quan hệ với nước Đại Nguyệt Thị, học giả Đông-Tây đã phân vân đưa ra nhiều thuyết khác nhau, không một thuyết nào phải lý cả. Gần đây thuyết của ông Richthofen cho rằng hai dân tộc này là một, bởi cùng gốc với dân tộc Tây Tạng (Richthofen: China. 1. P. 439), quả thật hoàn toàn lầm lẫn, chưa rõ ràng. Ông Marquarht và Lassen lại nói, hai dân tộc này vốn là hai dân tộc khác biệt, rồi sau đó ở đất Đại Hạ mới dung hợp làm quốc dân đồng nhất. Nhưng tiến sĩ Bạch
Điểu Khố Cát thì cho là tên “Tokhāra” trong sử phương Tây và Nguyệt Thị trong Hán sử giống nhau, như Ptolemneus63 gọi là Thagoura (Thorara) — người Hán gọi là Đông bộ Sa Tây, nay là Lương Châu, đất này không phải vùng trọng yếu của Nguyệt Thị, danh xưng Nguyệt Thị ngày xưa gọi là Cô Tạng, tên này có từ lâu rồi — Như vậy, nếu cho rằng bản lai hai dân tộc đó đồng nhất thì sẽ có nhiều nghi vấn cần thảo luận tại đây.
Song cũng có nhiều người nhất trí cho là danh xưng Đổ-hóa-la và Đại Nguyệt Thị đồng thể mà khác tên, chắc chắn không chút sai khác. Nhưng gần đây nhất lại có thuyết cho rằng dân tộc này là dòng Indogermanen. Ý này tuy có sức thuyết phục nhưng tháng 5 năm này, tiến sĩ Bạch Điểu phát biểu luận văn cho là thuộc chủng tộc Thổ-nhĩ-kỳ. Thuyết này tuy là chủ thuyết đầu tiên của ông Vambery, Hirht, nhưng đến khi ông Bạch Điểu khảo chứng lại vượt hẳn lên, hình thức thêm mạnh mẽ chắc chắn. Vấn đề nhân chủng của Đại Nguyệt Thị còn nhiều nghiên cứu khác. Thuyết Đại Nguyệt Thị cùng Đổ-hóa-la đồng thể khác tên, căn cứ vào ký sự của Tùy thư mà chúng ta đã dẫn ở trước, từ khi dân tộc Đại Nguyệt Thị bị Áp-đạt tiêu diệt trở về sau, tuy bị Áp-đạt (Ấp-đát) chinh phục, ở xen lẫn, nhưng tộc người Nguyệt Thị vẫn tín phụng Phật giáo. Đến năm 557 Tây lịch, Tây Đột-quyết hưng khởi, Mộc Hãn Khả Hãn phá tan Áp-đạt, sau khi thôn tính những vùng đất này, Phật giáo vẫn lưu hành. Trong Tây Vực ký quyển 1,64 mục nước Đổ-hóa-la, ngài Huyền Trang nói rằng:
 

63 Ptolemneus (khoảng 100-178) là một nhà bác học Hy Lạp xuất xứ từ Tebaida, học và làm việc tại Alexandria. Ông đã viết nhiều tác phẩm trong các lĩnh vực như toán học, thiên văn học, địa lý và nhạc.
64 Tây Vực ký 1, T51n2087_p872a8.
 
“Từ vài trăm năm, vương tộc tuyệt tự, tù trưởng cường hào ra sức cạnh tranh, đều chuyên quyền quân trưởng, nương theo thế sông núi chiếm cứ nơi hiểm trở, chia làm 27 nước, tuy vạch cõi chia khu vực, nhưng nói chung đều thuần phục Đột-quyết… Chư Tăng lấy ngày 16 tháng 12 vào mùa an cư, ngày 15 tháng 3 giải chế an cư. Vì thời gian ấy nhiều mưa, cũng chính là thiết lập giáo tùy thời vậy.”
Lại căn cứ Tây Vực ký quyển 12,65  mục nước An-đát-la-phược trong số mười nước nhỏ của Đổ-hóa-la, nói rằng: “Tính người hung bạo, phong tục không kỷ cương, chẳng biết tội phước, chẳng chuộng học tập, chỉ tu theo việc thờ cúng thần, ít tin Phật pháp, Già-lam ba ngôi, Tăng đồ vài mươi người, họ đều tu tập tuân theo pháp Đại thừa bộ”; mục nước Khoát-tất-đa (Khost) ghi: “Tính người hung bạo, phong tục không pháp độ. Già-lam ba ngôi, Tăng đồ rất ít”; mục nước Hoạt quốc (Kunduz): “Phong tục thuần chất, tính người nóng nảy, hung tợn, y phục bằng len dạ, phần nhiều tin Tam bảo, ít thờ các thần. Già-lam hơn mười ngôi, Tăng đồ vài trăm người, tu tập theo cả Đại thừa, Tiểu thừa”; mục nước Hí-ma-đát-la (Himatala đất phương Nam sông Kokeha) ghi: “Tính người hung bạo nóng nảy, chẳng biết tội phước, hình mạo thấp hèn, cử chỉ không uy nghi, quần áo bằng dạ, da, vải thô, đồng loại với Đột-quyết”; mục nước Bát-đạt-sáng-na (Badakshan) nói: “Người tính cứng cỏi, phong tục không lễ pháp, chẳng biết học nghệ, nhan sắc thấp hèn, áo quần phần nhiều bằng dạ, vải thô. Già-lam ba, bốn ngôi, Tăng đồ ít ỏi. Vua tính thuần lương chất phác, thâm tín Tam bảo”; mục đế quốc Đạt-ma-tất-thiết (miền Nam Wakhan) nói: “Tính người
 

65 Tây Vực ký 12, T51n2087_p939c29.
 
hung bạo, dáng vẻ thấp hèn, quần áo bằng dạ, vải thô, mắt phần nhiều màu xanh lục, khác với các nước. Già-lam hơn mười ngôi, Tăng đồ ít ỏi”. Theo những ghi chép ấy thì những nơi mà dân tộc Đại Nguyệt Thị chiếm cứ, dù sau khi bị Đột-quyết chinh phục, vẫn có một số quốc vương kính tín Tam bảo, và còn nhiều người dân phụng hành Phật giáo.
Sau thời kỳ đó, đến đầu thế kỷ thứ VIII Tây lịch, ở vùng Bamiyan và Balkh (Phược-hát), Phật giáo vẫn thịnh hành như cũ. Điều này căn cứ trong sách của Tuệ Siêu ghi chép mà biết được. Ngài Huyền Trang ghi chép về Phật giáo ở Phược-hát: “Già-lam có hơn một trăm ngôi, Tăng đồ hơn ba ngàn người, đều tu học giáo pháp Tiểu thừa”. Ngài Tuệ Siêu chép rằng: “Quốc vương, thủ lĩnh và bách tính v.v… đều thâm kính Tam bảo, chùa đủ, Tăng đủ, tu hành pháp Tiểu thừa.” Vậy từ thời đại ngài Huyền Trang, Phật giáo đất này còn kế tục lưu hành là rõ ràng. Căn cứ truyện Đổ-hỏa-la trong Đường thư quyển 221 hạ, ghi là năm Khai Nguyên thứ 14, đời Huyền Tông (năm 726 Tl.), Tăng nhân nước này là Nan-đà (Nanda) đến triều đình cống hiến sản vật địa phương. Nhưng đến thời ngài Tuệ Siêu thì đô thành Phược-hát của quốc vương Thổ-hỏa-la đã bị người Arabia xâm nhập, nên ở mục “thành Phược-để-da” (đô thành Bactria, tức là Balkh), ngài Tuệ Siêu ghi: “Nay thấy rất nhiều binh mã ở tại đó trấn áp. Vua nước ấy bị áp bức”.
Kỳ thật vào giữa thế kỷ thứ VII Tây lịch, đất Đổ-hóa-la bị tín đồ Hồi giáo xâm lược. Đến năm 715 Tây lịch, tướng quân Hồi giáo của vương triều Umayyad (vương triều thứ hai của Đế quốc A-rập) là Qutaibah bin Muslim chiếm lấy các vùng đất Bokhara, Khwarizm, Transoxiana (Mawar-an-nahr). Lại có tướng quân Hồi giáo tên là Muhammad (Muhammed bin Qasim) xâm chiếm Mokran, Sindh, Multan, cả một vùng lãnh
/75
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
🙏 Trợ Lý Phật Pháp AI »