Tìm kinh sách
Vần A-Z:
Nghiên cứu Phật Giáo Tây Vực

Nghiên cứu Phật Giáo Tây Vực

Tác giả: Cư sĩ Tuệ Khai, Phụ chú: Thích Tâm Nhãn. Dịch giả: Cư sĩ Tuệ Khai, Phụ chú: Thích Tâm Nhãn. Năm xuất bản: 2011. Số trang: 604.

Chương 21: Người Tây Vực Truyền Phật Giáo Ở Trung Quốc Thời Hậu Hán (Trang 169 - 192)

NGƯỜI TÂY VỰC
TRUYỀN PHẬT GIÁO
Ở TRUNG QUỐC THỜI HẬU HÁN
           Hứa Dương Chủ
Tây Vực có hai nghĩa rộng và hẹp: Tây Vực nghĩa hẹp là chỉ toàn bộ đường phía Nam Thiên Sơn của tỉnh Tân Cương ngày nay, như truyện Tây Vực trong Hán thư đã ghi. Tây Vực nghĩa rộng là bao quát cả đường phía Bắc Thiên Sơn và Thông Lĩnh trở ra ngoài đến Trung Á, Ấn Độ, Pakistan v.v..., như truyện Tây Vực trong Đường thư đã chép. Tây Vực mà bài văn này nói là theo thuyết sau.
Hán thư quyển 28, dưới phần Địa lý chí có huyện Qui-tư, Nhan Sư Cổ1 giải thích rằng: “Người nước Qui-tư đến hàng phục ở lại đây nên lấy làm tên gọi”. Căn cứ vào lời giải thích thì huyện Qui-tư là đất định cư của người nước Qui-tư (tức huyện Khố-xa [Kucha], đường A-khắc-tô [thị xã Aksu], tỉnh Tân Cương), từ Tây Vực đến qui hàng ở lại, là không thể phủ nhận. Theo Tiền Điếm2 tân các chú địa lý chí quyển 13, huyện Qui-tư thiết lập ở trên, quận trị bên dưới, là huyện Mễ Chỉ, phủ Tuy Đức, tỉnh Thiểm Tây đời Thanh đó vậy. Lại ở Hán thư quyển 96, phần hạ truyện Tây Vực, mục nước Ôn Túc, Nhan Sư Cổ có phụ chú:
 

1 Nhan Sư Cổ: Xem cht. 24, tr. 22. 
2 Tiền Điếm 錢坫 (1744-1806), người huyện Gia Định (tỉnh Giang Tô) đời Thanh, tự là Hiến Chi, chuyên nghiên cứu kinh, sử, địa lí… Ông có trước tác “Sử ký bổ chú” 130 quyển, “Luận ngữ hậu lục” 5 quyển, “Tân các chú địa lí chí” 16 quyển v.v…
 
“Phía Bắc huyện Lễ Tuyền, La Châu (huyện Lễ Tuyền, đường Quan Trung, tỉnh Thiểm Tây) ngày nay, có núi Ôn Túc, vốn thời Hán hàng phục được người nước Ôn Túc, lệnh cho ở đất này làm ruộng, chăn nuôi nên lấy đó làm tên.”
Căn cứ điều này có thể chứng minh, lúc bấy giờ chính xác đã có người nước Ôn Túc di cư đến Trung Quốc. Lại trong Hán thư quyển 28, phần Địa lý chí, dưới quận trị An Định (tỉnh Cam Túc), có Nguyệt Thị đạo.3 Căn cứ bản đồ địa lý thời Tiền Hán của Dương Thủ Kính4 thì Nguyệt Thị đạo đại khái là vùng đất phía Đông Bắc huyện Trấn Nguyên, Kính Nguyên đạo, tỉnh Cam Túc ngày nay. Tiền Điếm tân các chú địa lý chí quyển 12 nói: “Đây là nơi đặt để của những người qui hàng của nước Nguyệt Thị”; lại đồng sách đồng quyển nói huyện Ly Can5 là “Vốn người Ly Can hàng phục, được bố trí tại huyện”. Đây là sự quan hệ thiết lập giữa Nguyệt Thị đạo cùng huyện Ly Can, là nơi an trí số di dân từ nước Nguyệt Thị và nước Ly Can đến. Huyện Ly Can đặt dưới quận trị Trương Dịch, tức là ở phía Nam huyện Vĩnh Xương, phủ Kinh Châu, tỉnh Cam Túc đời Thanh.
 

3 Đạo 道: Thời Hán những vùng đất tộc Man Di cư trú gọi là đạo, hoặc đơn vị hành chánh (tương đương với tỉnh ngày nay) được thiết đặt tại những vùng biên địa của các dân tộc định cư thời Tần, Hán. Đồng thời vương triều nhà Hán thường phiếm chỉ con đường giao thông để khống chế các dân tộc thiểu số.
4 Dương Thủ Kính 楊守敬 (1839-1915), người Nghi Đô, đời Thanh, tự Tỉnh Ngô, vãn niên lấy hiệu Lân Tô Lão Nhân, là người tinh tường địa lí cổ đại.
5 Ly Can 驪靬: Phía Nam huyện Vĩnh Xương tỉnh Cam Túc ngày nay. Thời Hán, huyện Ly Can thuộc quận Trương Dịch.
 
Phần trước đã giản lược những sự thật lịch sử về đoàn thể người nước ngoài sống bên trong biên giới Trung Quốc, như người nước Ôn Túc, Nguyệt Thị, Ly Can, Qui-tư thời Tây Hán. Lại căn cứ truyện Chi Khiêm trong Khai Nguyên thích giáo lục quyển 2, truyện An Đông trong Ngụy thư quyển 30, truyện Khương Huyền trong Lương thư quyển 18 thì biết thời Đông Hán cũng có người các nước Khương Cư, An Tức, Nguyệt Thị v.v... di cư đến đất Hán. Tóm lại, đời Hán người Tây Vực lưu trú ở Trung Quốc là số nhiều, tiếc là những sự tích sinh hoạt bình thường của họ phần nhiều bị mất hết, khó mà khảo sát. Đồng thời Phật giáo truyền bá tiến dần về Đông, trong số kiều dân Tây Vực cũng có những người truyền giáo nhiệt tâm. Riêng về thời Hậu Hán, người Tây Vực đến Trung Quốc truyền bá Phật giáo đã thành truyện như dưới đây, khiến cho sáng tỏ tình huống khái quát thời kỳ đầu Phật giáo truyền vào Trung Quốc.
1. Sa-môn Ca-diếp-ma-đằng, hoặc gọi là Trúc-diếp-ma-đằng, hay Nhiếp-ma-đằng, người Trung Thiên Trúc, thuộc dòng Bà-la-môn, lúc nhỏ thông minh mẫn tuệ, học rộng nghe nhiều, sức nghĩ tinh thâm hơn người, đặc biệt thấu rõ kinh luật. Ngài từng đi Tây Thiên Trúc, có một nước nhỏ thỉnh ngài giảng kinh Kim quang minh, vừa gặp nước bên cạnh hưng binh tràn đến, lúc giặc sắp đặt chân vào biên giới liền bị trở ngại, binh chẳng thể tiến tới. Binh chúng nước ấy nghi là có phép thuật lạ, bí mật sai sứ dò xét, nhưng chỉ thấy quần thần an nhiên ngồi nghe ngài giảng pháp “Minh địa thần vương hộ quốc trong kinh Đại thừa”,6 do đó nước động binh xin hòa và cầu pháp.7
 

6 Cao tăng truyện 1, T50n2059_p322c15: “Ngài Nhiếp-ma-đằng người Trung Thiên Trúc, bác thông kinh điển Đại thừa, Tiểu thừa. Trước đây, ngài có đi qua một nước nhỏ ở Thiên Trúc giảng kinh. Bấy giờ, nước này
 
Vào năm Vĩnh Bình thứ 7 (năm 64 Tl.), Hán Minh đế nằm mơ thấy người vàng, thân cao một trượng sáu, đỉnh đội vầng mặt trời, ánh sáng chói chang rực rỡ, bay ở trước cung điện. Sáng hôm sau, vua hỏi khắp quần thần: “Đó là thần gì lạ vậy?” Có người thông hiểu chuyện, quả quyết tiến lên tâu rằng: “Thần nghe bên Tây Vực có người đắc đạo, hiệu gọi là Phật, điều mơ thấy của bệ hạ nhất định là đó ư?” Nhà vua cho là đúng, xuống chiếu sai Lang trung Thái Âm, Lang tướng Tần Cảnh, Bác sĩ đệ tử Vương Tuân v.v.... gồm 18 người, đi sang Thiên Trúc, học hỏi Phật pháp. Họ đi tới nước Đại Nguyệt Thị thì gặp ngài Ma-đằng.8 Thái Âm và mọi người cố thỉnh Ma-đằng cùng họ trở lại, về đến Lạc Dương, nhân đó khởi dựng Già-lam, gọi là chùa Bạch Mã và các châu quận đua nhau kiến lập chùa để đền ơn ngựa trắng (chở kinh, tượng). Năm Vĩnh Bình thứ 10, ngài Ma-đằng ở chùa Bạch Mã cùng với ngài Trúc Pháp Lan dịch kinh Tứ thập nhị chương (bản dịch lần đầu còn lưu giữ).9 Từ ấy Thích giáo
 

bị giặc ngoại xâm, nhằm lúc ngài đang giảng kinh (Kim quang minh), có thể nói nhờ thuyết kinh này mà Địa thần bảo hộ khiến nơi ấy được an lạc, gươm giáo mới bắt đầu đã được lợi ích (dừng cuộc chiến). (Nước kia) mới tuyên thệ lui binh và ngài đích thân đến giải hòa, hai nước liền giao hảo với nhau.
7 Cao tăng truyện tập đầu quyển 1, trang 1 chép Nhiếp-ma-đằng đích thân đến khuyên hòa, hai nước giao hảo thân thiện. (cht. Tg)
8 Phật tổ thống kỷ quyển 36, trang 213 chép: Năm Vĩnh Bình thứ 10, Thái Âm v.v.... ở Đại Nguyệt Thị, Trung Thiên Trúc gặp Ca-diếp-ma-đằng, Trúc Pháp Lan. Cao tăng truyện chép là ở Thiên Trúc gặp Ma-đằng v.v.... Phật tổ lịch đại thông tải quyển 5, trang 157 ghi là gặp ở nước Đại Nguyệt Thị. (cht. Tg)
9 Phật tổ thống kỷ chép là, năm Vĩnh Bình thứ 11 sắc lập chùa Bạch Mã ở Lạc Dương, mà ngài Ma-đằng đầu tiên dịch kinh Tứ thập nhị chương. Phật học nghiên cứu thiên 18 trang 7 viết: “Sách này (chỉ kinh Tứ thập nhị chương) phải nhất định là do người Trung Quốc làm chứ chẳng phải dịch từ Ấn Độ, Tác giả là người miền Nam, chẳng phải là người miền
 
(Phật giáo) nối tiếp nhau hưng thịnh như mây nổi, Sa-môn, tín sĩ10 nối gót phiên dịch truyền bá, kinh Tứ thập nhị chương này chính là tổ của kinh pháp đất Hán vậy. Ngài Ma-đằng có công lớn đầu tiên truyền bá giáo hóa, giúp người chưa tin sâu hiểu được diệu nghĩa sâu xa; ngài không phiên dịch nhiều, chỉ tóm tắt chỗ tinh yếu của kinh để dẫn đường thời tục. Về sau ngài Ma-đằng viên tịch ở Lạc Dương.11           
2. Sa-môn Trúc Pháp Lan, ngài người Trung Thiên Trúc, đọc tụng kinh luận được vài vạn chương, là bậc thầy của học giả Thiên Trúc. Ông Thái Âm đã đến nước đó, nơi ngài Trúc Pháp Lan và ngài Ma-đằng đang du hóa, cả hai cùng theo về, nhưng vì trở ngại học trò nên ngài Trúc Pháp Lan đi đến sau. Đến Lạc Dương, ở lại với ngài Ma-đằng. Lúc nhỏ ngài giỏi tiếng Hán, đầu tiên cùng ngài Ma-đằng phiên dịch kinh Tứ thập nhị chương. Sau ngài Ma-đằng mất, ngài Trúc Pháp Lan tự phiên dịch kinh Thập địa đoạn kết 8 quyển (hoặc làm 4 quyển, cũng gọi là kinh Thập trụ, dịch ra lần đầu vào năm Vĩnh Bình thứ 13 – đã mất), kinh Pháp hải tạng 1 quyển (hoặc gọi kinh Vô tạng tự, bản dịch lần đầu, mất), kinh Phật bản hạnh 5 quyển (dịch năm Vĩnh Bình thứ 11, mất), kinh Phật bản sinh 1 quyển (mất), hợp lại 4 bộ, gồm 15 quyển.12
 

bị giặc ngoại xâm, nhằm lúc ngài đang giảng kinh (Kim quang minh), có thể nói nhờ thuyết kinh này mà Địa thần bảo hộ khiến nơi ấy được an lạc, gươm giáo mới bắt đầu đã được lợi ích (dừng cuộc chiến). (Nước kia) mới tuyên thệ lui binh và ngài đích thân đến giải hòa, hai nước liền giao hảo với nhau.
10 Tín sĩ: Thanh tín sĩ 清信士, Skt. Upāsaka, dịch âm “Ưu-bà-tắc”, dịch nghĩa Cận sự nam, người nam tại gia giữ năm giới.
11 Căn cứ Khai Nguyên thích giáo lục quyển 1 trang 133-134. (cht. Tg)
12 Lịch đại tam bảo ký quyển 4, trang 614 và Đại Đường nội điển lục quyển 1 trang 2 đều chép là Trúc Pháp Lan dịch 5 bộ kinh gồm 13 quyển, trừ bốn bộ kinh nêu ở trên, còn có 2 quyển Nhị bách lục thập giới hợp dị; cả hai sách đều nói kinh Thập địa đoạn kết 4 quyển; Cao tăng truyện tập đầu, quyển 1, trang 2 viết: dịch Thập địa đoạn kết, Phật bản sinh, Pháp hải tạng, Phật bản hạnh, Tứ thập nhị chương v.v.... gồm 5 bộ. (cht. Tg)
 
Ngày trước Hán Võ đế đào đáy ao Côn Minh, được tro đen, hỏi Đông Phương Sóc, Sóc tâu rằng: “Việc này thần không hiểu rõ, nên hỏi người Hồ ở Tây Vực”. Ngài Trúc Pháp Lan đã đến, vua cho người hỏi vấn đề đó, ngài Trúc Pháp Lan nói rằng: “Đây là tro của thời kiếp thiêu’’ (kiếp gặp tai họa lửa cháy), Sóc nói đó là bằng chứng, người tin rất đông. Lại sứ giả Tần Cảnh từ nước Nguyệt Chi trở về, được tượng đức phật Thích-ca, chính là tượng Chiên-đàn của vua Ưu-điền,13 bậc thầy tạo tượng thứ tư tạc ra. Tượng về đến Lạc Dương, nhà vua liền ban lệnh vẽ lại, đặt ở đài Thanh Lương và trên lăng Hiển Tiết để cúng dường, sự thành tâm đó đã lưu lại đến ngày nay. Ngài Trúc Pháp Lan sau mất ở Lạc Dương, thọ hơn 60 tuổi.14
3. Sa-môn Trúc Phật Sóc, người Thiên Trúc, thức tính minh mẫn, biết rộng lắm tài, khoảng năm Quang Hòa đời Hán Linh đế (năm 178-183 Tl.), đầu tiên đem theo kinh đến Lạc Dương phiên dịch.15 Tính ra có kinh Đạo hạnh 1 quyển (dịch ngày 8 tháng 10 năm Quang Hòa thứ 2, mất), Bát-chu tam-muội 2 quyển (hoặc 1 quyển, dịch lần thứ hai, vào ngày 8 tháng 10 năm Quang Hòa thứ 2, mất), hợp thành bộ gồm 3
 

13 Vua Ưu-điền 優填 (Skt. Udayana – dịch Xuất Ái vương hay Nhật Tử vương) quốc vương Câu-thiểm-di. Đức Thế Tôn cả một mùa hạ chín tuần bay lên cõi trời Đao-lợi thuyết pháp cho mẫu thân nghe, không trở về cõi Diêm-phù. Vua Ưu-điền tưởng nhớ đức Phật sanh bệnh, quần thần bèn lấy gỗ Ngưu Đầu Chiên-đàn (loại gỗ hương này mọc ở núi Ngưu Đầu) tạc tượng Như Lai cao 5 thước, bệnh của nhà vua liền thuyên giảm. Sự phát nguyên tạo tượng Phật ở Ấn Độ cũng từ đó.
14 Căn cứ Khai Nguyên thích giáo lục quyển 1, trang 134. (cht. Tg)
15 Phật tổ thống kỷ quyển 36, trang 215 viết, năm Quang Hòa thứ 3, Tây Thiên Trúc Sa-môn Trúc Phật Sóc đến Lạc Dương, dịch kinh Đạo hạnh bát-nhã; Phật tổ lịch đại thông tải quyển 6 trang 161 chép, năm Hy Binh thứ 2 (năm 173) đến Lạc Dương, trong năm Quang Hòa dịch kinh Bát-chu tam-muội, cộng 3 quyển. (cht. Tg)
 
quyển; lúc người dịch không lưu loát, tuy chẳng hay lắm, nhưng bỏ văn đi thì được cái chất thật, thâm nhập được ý kinh. Sa-môn nước Nguyệt Chi là Chi Sấm truyền dịch lại bằng lời, tại Hà Nam ông Mạnh Phước tự là Nguyên Sĩ, ông Trương Liên tự là Thiếu An chấp bút (chịu trách nhiệm viết).16     
4. Sa-môn Trúc Đại Lực, người Tây Vực,17 đệ tử của tổ sư Hạc-lặc-na (Phó pháp tạng) thứ 22 của Phật giáo.18 Ngài tính ưa viễn du, không sợ gian hiểm, tháng 3 năm Kiến An thứ 2, đời Hán Hiến đế (năm 197 Tl.), ở Lạc Dương, ngài dịch kinh Tu hạnh bản khởi 2 quyển (dịch lần thứ ba, tên khác là Túc hạnh bản khởi),19 bản kinh chữ Phạn ấy do Đàm Quả và Khương Mạnh Tường mang từ nước Ca-duy-la-vệ đến, Mạnh Tường hiệu đính văn từ.20
5. Sa-môn Đàm Quả, người Tây Vực,21 học tường tận nội ngoại điển, giải thông cả chân, tục; ngài mang những bản kinh Phật bằng Phạn văn ở nước Ca-duy-la-vệ đến Lạc
 

16 Căn cứ Khai Nguyên thích giáo lục quyển 1 trang 134. (cht. Tg)
17 Trúc Đại Lực là người Tây Vực họ Trúc, theo thông lệ người Phiên lấy tên nước làm họ thì phải liệt vào người Thiên Trúc. Căn cứ Nguyên Hòa tánh toản 元和姓纂 (Sách ghi chép về phổ hệ thị tộc, gồm 18 quyển, do Bảo Lâm soạn vào khoảng niên hiệu Nguyên Hòa đời Đường) thì họ Trúc là họ của hậu duệ dân di cư Thiên Trúc. (cht. Tg)
18 Căn cứ Phật tổ thống kỷ quyển 36 trang 216. (cht. Tg)
19 Phật tổ lịch đại thông tải quyển 6, trang 166 ghi, năm Kiến An thứ 3 (năm 198), Sa-môn Khương Mãnh, Trúc Đại Lực dịch kinh Tứ đế và Hưng bản khởi hạnh v.v.... ở Lạc Dương, 6 bộ gồm 11 quyển. (cht. Tg)
20 Căn cứ Khai Nguyên thích giáo lục quyển 1, trang 138. (cht. Tg)
21 Người Thiên Trúc đến qui hóa (nhập tịch từ nước ngoài) phần nhiều lấy Trúc, Đàm làm họ. Đàm Quả từ nước Ca-duy-la-vệ Bắc Thiên Trúc, mang theo bản kinh Phật tiếng Phạn. Căn cứ vào đây lường biết được quốc tịch ngài ấy có khả năng chẳng ra ngoài Thiên Trúc. (cht. Tg)
 
Dương. Năm Kiến An thứ 12 đời Hán Hiến đế (năm 207 Tl.), ngài dịch kinh Trung bản khởi 2 quyển (hoặc gọi kinh Thái tử trung bản khởi, còn). Khương Mạnh Tường xét ngôn ngữ.22
6. Sa-môn Chi-lâu-ca-sấm, gọi tắt là Chi Sấm, người Nguyệt Chi, đức hạnh thanh cao, tính độ lượng cởi mở thông tuệ, phẩm hạnh trì giới pháp, do tinh cần mà nổi tiếng, đọc tụng các kinh, lập chí tuyên dương đạo pháp, khoảng Hoàn đế - Linh đế đời Hán, đi đến Lạc Dương.23 Từ năm đầu niên hiệu Kiến Hòa đời Hoàn đế, đến năm Trung Bình thứ 3 đời Linh đế (năm 147-186 Tl.), ngài ở Lạc Dương dịch kinh Đạo hành bát-nhã ba-la-mật 10 quyển (hoặc gọi là kinh Ma-ha bát-nhã ba-la-mật đạo hạnh, Bát-nhã đạo hạnh phẩm kinh, hoặc 8 quyển, dịch ra lần đầu ngày 8 tháng 7 năm Quang Hòa thứ 2, còn), kinh Vô lượng thanh tịnh bình đẳng giác 2 quyển (cũng gọi là kinh Vô lượng thanh tịnh, dịch ra lần thứ 2, còn), kinh A-súc Phật quốc 2 quyển (hoặc 1 quyển, dịch vào năm đầu niên hiệu Kiến Hoà, dịch ra lần đầu, hoặc gọi Vô quốc tự, A-súc Phật sát chư bồ-tát học thành phẩm, còn), kinh Phật di nhật ma-ni bảo 1 quyển (dịch ra lần đầu, tên khác là kinh Cổ phẩm di nhật thuyết bát-nhã, kinh Đại bảo tích, kinh Ma-ha-diễn bảo nghiêm, còn), kinh Đâu-sa 1 quyển (còn), kinh Bát-chu tam-muội 3 quyển (tên khác là kinh Thập phương hiện tại Phật tất tại tiền lập định, hoặc gọi là kinh Đại bát-chu tam-muội, hoặc 2 quyển, dịch năm Quang Hòa thứ 2, dịch lần đầu, còn), kinh
 

22 Căn cứ Khai Nguyên thích giáo lục quyển 1, trang 139. (cht. Tg)
23 Cao tăng truyện quyển 1, trang 7 chép là vào thời Hán Linh đế đi đến Lạc Dương. Phật tổ thống kỷ quyển 36, trang 214 thì viết là vào năm đầu niên hiệu Kiến Hòa (năm 147). Phật tổ lịch đại thông tải quyển 5, trang 160 thì cho là năm đầu niên hiệu Hòa Bình đời Hoàn đế (năm 150). (cht. Tg)
 
Đổn-chân-đà-la sở vấn 2 quyển (dịch lần đầu, hoặc gọi là Đổn-chân-đà-la sở vấn bảo Như Lai tam-muội kinh, hoặc gọi là Đổn-chân-đà-la-ni vương kinh, hoặc 3 quyển, còn), kinh A-xà-thế vương 2 quyển (dịch ra lần đầu, còn), kinh Nội tạng bách bảo 1 quyển (cũng gọi là Nội tạng bách phẩm, dịch ra lần đầu, còn), kinh Văn-thù Sư-lợi bồ-tát thự 1 quyển (gọi tắt là Vấn thự kinh), kinh Tạp thí dụ 1 quyển (còn), kinh Đại phương đẳng đại tập 27 quyển (dịch ra lần đầu, mất), kinh Bát-chu tam-muội 1 quyển (hoặc thêm chữ “Đại”,24 dịch ra lần thứ ba vào ngày 8 tháng 10 năm Quang Hoà thứ 2, mất), kinh Phạm bát nê-hoàn 2 quyển (hoặc 1 quyển, dịch lần đầu, mất), kinh Chư pháp dũng vương 1 quyển (dịch lần đầu, mất), kinh Quang minh tam-muội 1 quyển (dịch lần đầu, mất), kinh Bột bổn 2 quyển (mất), kinh Thủ lăng-nghiêm 2 quyển (dịch ngày 8 tháng 2 năm Trung Bình thứ 3, dịch lần đầu, hoặc 3 quyển, mất), kinh Đại phương tiện báo ân 1 quyển (còn), kinh A-xà-thế vương vấn ngũ nghịch 1 quyển (cũng gọi là A-xà-thế vương kinh, dịch lần đầu, mất), Thiền kinh 1 quyển (dịch lần đầu, mất), kinh A-dục vương thái tử hoại mục nhân duyên 1 quyển (hoặc không có chữ “kinh”,25 dịch lần đầu, mất), hợp lại thành 23 bộ, 67 quyển.26 Thẩm xét thì được ý nghĩa căn bản, chẳng tô
 

24 Kinh Bát-chu tam-muội, thêm chữ “Đại” là Đại bát-chu tam-muội 大般舟三昧 (Khai Nguyên thích giáo lục 1, T55n2154_p478c).
25 Vì kinh này xuất hiện thời vua A-dục sau khi đức Phật niết-bàn hơn 100 năm, không phải Phật thuyết nên bỏ chữ “kinh” ở đầu (Khai Nguyên thích giáo lục 1, T55n2154_p479a). 
26 Thông tải ghi là từ năm Hòa Bình đến năm Trung Bình, dịch được 21 bộ kinh, gồm 63 quyển. Lịch đại tam bảo kỷ quyển 4, trang 616 và Đại Đường nội điển lục quyển 1, trang 5 đều ghi là từ niên hiệu Kiến Hòa đến niên hiệu Trung Bình, dịch được 21 bộ kinh, gồm 63 quyển. Thống kỷ cũng ghi là 21 bộ. (cht. Tg)
 
 vẽ thêm, đáng gọi là bậc thầy giỏi tuyên dương, hoằng đạo pháp. Thanh tín sĩ27 đất Hà Nam là Mạnh Phước và Trương Liên chấp bút. Về sau không biết ngài mất ở đâu.28 Ngài Chi Lượng đệ tử ngài Chi Sấm, tự là Kỷ Minh, thầy của Chi Khiêm.29
7. Sa-môn Chi Diệu, người Tây Vực.30 Ngài uyên bác thông đạt mọi điển chương, diệu giải lẽ u vi, vào năm Trung Bình thứ 2 đời Hán Linh đế (năm 185 Tl.), ở Lạc Dương dịch kinh Thành cụ quang minh định ý 1 quyển (hoặc gọi là Thành cụ quang minh tam-muội kinh, gọi tắt là Thành cụ quang minh kinh, dịch ra lần thứ 2, còn), kinh A-na-luật bát niệm 1 quyển (gọi tắt là Bát niệm kinh, hoặc gọi Thiền hạnh liễm ý, còn), kinh Mã hữu tam tướng 1 quyển (cũng gọi là Thiện mã hữu tam tướng kinh, còn), kinh Mã hữu bát thái thí nhân 1 quyển (gọi tắt là Mã hữu bát thái kinh, tên khác Mã hữu bát tệ ác thái kinh, Mã hữu bát tệ ác thái kinh, còn), kinh Tứ đạo địa 1 quyển (còn), kinh Văn thành thập nhị nhân duyên 1 quyển (dịch lần thứ 2, mất), kinh Đại ma-da 1 quyển (hoặc không có chữ “Đại”,31 hoặc 2 quyển, dịch lần đầu, mất), kinh Lại-thác-hòa-la 1 quyển (mất), kinh Tiểu bản khởi 2 quyển (hoặc gọi Tu hạnh bản khởi, hoặc gọi Túc hạnh bản khởi, dịch lần đầu, mất), kinh Đọa lạc ưu-bà-tắc 1 quyển (mất), hợp
 

27 Thanh tín sĩ: Xem cht. 10 trước.
28 Căn cứ Khai Nguyên thích giáo lục quyển 1, trang 134. (cht. Tg)
29 Căn cứ Cao tăng truyện quyển 1, trang 10. (cht. Tg)
30 Theo lệ người Phiên dùng tên nước làm họ thì Chi Diệu là người Nguyệt Chi. (cht. Tg)
31 Đại ma-da kinh 大摩耶經 (không có chữ “Đại”): Lịch đại tam bảo kỷ 4, T49n2034_p54a ghi, Ma-ha ma-da kinh 摩訶摩耶經, 1 quyển, hoặc gọi Ma-da kinh, hoặc 2 quyển. Phần phụ chú trong Tạng: Ma-ha=Đại; Ma-da là gọi tắt…
 
lại là 10 bộ, 11 quyển.32 Ngài Chi Diệu rất thông thạo ngôn ngữ Hán.33
8. Sa-môn An Thanh, tự là Thế Cao, thái tử của chánh hậu vua nước An Tức. Thuở nhỏ hoài bảo thuần hiếu, kính dưỡng hết lòng, nhân ái trắc ẩn cả đến loài biết cựa quậy. Việc động ngôn lập hạnh của ngài như đi vào qui củ vậy, vả lại nghiệp chí thông tuệ, khắc phục ý niệm, chăm lo hiếu học, điển tịch trong ngoài không gì chẳng quán thông, làm phép “thất diệu, ngũ hành”,34 bói đoán “phong giác, vân vật”,35 tìm ra vận giàu nghèo (đầy vơi) đều đến tận cùng giới hạn của chúng, thông hiểu các ngành nghề, giỏi y thuật châm cứu, nhìn sắc diện biết bệnh, cho thuốc nhất định cứu được, cho đến loài chim thú kêu hót hễ nghe tiếng là biết lòng. Có lần đi thấy bầy yến, ngài bỗng gọi bạn nói rằng: “Chim yến nói, sắp có người đưa đồ ăn đến”, trong khoảnh khắc quả nhiên có người đưa đồ ăn đến, mọi người đều lấy làm lạ. Do đó danh tiếng tài giỏi lạ lùng của ngài trùm cả Tây Vực, lân quốc xa gần đều kính ngưỡng mà lấy làm lạ thường. Ngài Cao, tuy ở nhà mà phụng trì giới luật tinh nghiêm hơn người, giảng pháp, thí pháp cùng thời tương tục. Về sau vua cha mất đáng
 

32 Căn cứ Khai Nguyên thích giáo lục quyển 1, trang 138, Cao tăng truyện quyển 1, trang 8 viết, Chi Diệu dịch kinh Thành cụ định ý, kinh Tiểu bản khởi v.v.... Lịch đại tam bảo ký quyển 4, trang 617 và Đại đường nội điển lục quyển 1, trang 5 đều ghi là 11 bộ, gồm 12 quyển, ngoại trừ 10 kinh đã nêu trên, còn có kinh Thủ chí vấn Phật thập tứ sự 1 quyển (hoặc không có chữ “Phật”). (cht. Tg)
33 Căn cứ Phật tổ thống kỷ quyển 36, trang 216. (cht. Tg)
34 Thất diệu, ngũ hành: Thất diệu 七曜, xem cht. 99, tr. 82. Ngũ hành 五行, năm chất kim, mộc, thủy, hỏa, thổ.
35 Phong giác, vân vật: Phong giác 風角, một loại pháp thuật chiếm quẻ bói toán thời cổ đại, lấy thế gió mà định cát hung. Vân vật 雲物, là hình sắc làn mây bên cạnh mặt trời; thời xưa người ta dùng biện pháp này để đoán thời tiết nắng mưa, lũ lụt, hạn hán.
 
lẽ kế thừa quốc vị nhưng ngài cảm sâu cái khổ trống không, chán lìa danh lợi nên chịu tang phục xong liền nhường nước cho chú, xuất gia tu đạo. Ngài rộng thông Kinh tạng, rất tinh thâm A-tỳ-đàm học, trì tụng Thiền kinh, tóm lược hết diệu nghĩa của kinh ấy. Ngài đã du phương hoằng hóa, trải khắp các nước, đầu đời Hoàn đế nhà Hán, mới đến miền Đông Hạ (chỉ Trung Hoa).36 Ngài An Thế Cao thông tuệ nhạy bén, nghe một lần có thể thấu đạt, chưa bao lâu đã làu thông ngôn ngữ Trung Hoa. Ngài lo lắng cho chánh pháp suy vi nên mở rộng việc phiên dịch tuyên dương. Ngài An Thế Cao đạt đến cùng lý tận tính, tự biết túc duyên, có nhiều thần tích mà đời không thể lường.
Đầu tiên, ngài biết về tiền thân, trước khi làm vương tử nước An Tức, cùng con ông trưởng giả trong nước ấy chung xuất gia. Khi con vị trưởng giả cầm bát đi khất thực, gặp thí chủ chẳng gọi mời thì phẫn hận, ngài Cao thường nghiêm túc can ngăn nhưng rốt cuộc chẳng chịu sửa đổi lỗi lầm, như thế kéo dài đến hơn hai mươi năm, ngài mới cùng người đồng học nói lời từ biệt rằng: “Ta há chẳng phải đến Quảng Châu để đáp trả xong việc đời trước, ông phải tinh cần học thông kinh điển, chẳng ở sau ta mà tính sinh nhiều sân giận, đến lúc mạng chung phải chịu ác hình, ta nếu đắc đạo, nhất định phải độ nhau.” Ngay khi ngài đến Quảng Châu thì gặp đại loạn giặc cướp, đang đi trên đường chợt gặp một thiếu niên tay vung đao miệng mắng rằng: “Quả thật gặp được ngươi rồi vậy!” Ngài Cao cười rằng: “Đời trước ta đã phụ ông nên ta từ xa đến đền trả cho nhau, sự phẫn nộ của ông là do ý thuở đời quá khứ vậy.” Ngài liền đưa cổ nhận lưỡi dao, ung dung không chút sợ hãi, tên giặc liền giết ngài, người xem trăm
 

36 Phật tổ thống kỷ quyển 35 (T49n2035), trang 330c19, ghi là năm Kiến Hòa thứ 2, An Thế Cao đến Lạc Dương. (cht. Tg)
 
người như một, không ai chẳng kinh hãi lấy làm lạ cho ngài, rồi thần thức ngài trở lại làm thái tử vua nước An Tức, tức là thân ngài An Thế Cao thời nay vậy.
Ngài An Thế Cao du hóa Trung Quốc, việc tuyên dương kinh pháp xong thì gặp thời cuối đời Linh đế, vùng Quan Lạc (Quan Trung và Lạc Dương) nhiễu nhương loạn lạc nên ngài mới chấn tích trượng vùng Giang Nam mà nói rằng: “Ta phải qua Lô Sơn để độ bạn đồng học thuở xưa.” Ngài đi đến miếu Củng Đình Hồ, miếu này trước có uy linh, lữ khách buôn bán hay đến cầu đảo thì mua may bán đắt, thuận buồm xuôi gió, không đình trệ, đã từng có người xin thần tre nứa, thần chưa cho mà lấy thuyền liền lật úp tiêu tan, tre hoàn lại chỗ cũ. Từ đó người đi thuyền kinh sợ, ai cũng kiêng dè nép sợ. Ngài An Thế Cao cùng khách lữ đi hơn ba mươi chiếc thuyền, theo lệ thường sửa soạn cầu phước, thần mới giáng xuống lời chúc rằng: “Thuyền có vị Sa-môn, có thể tiện kêu lên!” Khách đều kinh ngạc, thỉnh ngài Cao vào miếu, thần thưa rằng: “Tôi ngày xưa ở nước ngoài cùng ngài xuất gia học đạo, ưa làm bố thí, mà tính tôi nhiều sân giận, nay làm thần miếu Củng Đình, chung quanh đây một ngàn dặm đều thuộc phần cai trị của tôi, nhờ phước bố thí nên đồ trân quí rất phong phú, còn do sân giận nên quả báo đọa làm thần này, nay thấy đồng học, buồn lo mừng rỡ nên nói ra là thọ mạng sẽ tận trong một sớm một chiều, mà thân hình xấu xí dài lớn, nếu xả thân ở đây thì làm ô uế sông hồ, phải qua đến trong đầm núi phía Tây. Thân này sau khi chết sợ đọa vào địa ngục. Tôi có một ngàn xấp lụa và nhiều vật báu, ngài có thể vì tôi lập chùa xây tháp để cho tôi được sinh ở chỗ thiện.”
Ngài Cao bảo:
“Cố nhân đã đến với nhau, sao chẳng hiện hình ra?”
 Thần đáp:
“Thân hình rất xấu xí kỳ lạ, mọi người ắt phải sợ!”
 Ngài Cao nói:
“Hãy xuất hiện, mọi người chẳng lấy làm quái lạ đâu!”
Thần từ sau giường hiện ra cái đầu, thì ra là con trăn lớn, chẳng biết đuôi nó dài ngắn bao nhiêu, tiến đến bên gối ngài Cao, ngài Cao hướng về nó đọc mấy câu tiếng Phạn, tán tụng vài lời kệ, con trăn buồn bã nước mắt như mưa, phút chốc biến mất. Ngài An Thế Cao lấy lụa và đồ vật, từ biệt ra đi, bạn thuyền dong buồm, con trăn lại xuất hiện, lên núi mà trông theo, mọi người vẫy tay, sau đó mới biến mất. Trong khoảnh khắc đã đến được Dự Chương,37 ngài liền đem những vật của miếu vì con trăn tạo dựng chùa. Sau khi ngài Cao đi, thần miếu liền mạng chung, buổi chiều có một thiếu niên lên thuyền, quì dài trước ngài Cao thọ nhận sự chú nguyện của ngài rồi biến mất, ngài Cao bảo với thuyền nhân rằng:
“Người thiếu niên đó là thần miếu Củng Đình được lìa khỏi ác hình rồi!”
Từ đó thần miếu tan biến, không còn linh nghiệm nữa! Ngài An Thế Cao về sau lại đến Quảng Châu tìm người thiếu niên đời trước đã hại mình thì người thiếu niên vẫn còn, ngài Cao ghé qua nhà người ấy, nói việc đền trả ngày xưa và trình bày mối duyên xưa, hoan hỉ nói với nhau: “Tôi còn có dư báo, nay phải đến Cối Kê38 để trả cho xong!”
 

37 Dự Chương 豫章: Phía Bắc tỉnh An Huy ngày nay.
38 Cối Kê 會稽: 1- Tên núi, phía Đông nam huyện Thiệu Hưng tỉnh Chiết Giang ngày nay. 2- Tên quận (huyện), nay huyện Thiệu Hưng tỉnh Chiết Giang.
 
Người khách Quảng Châu hiểu ngài Cao là bậc phi phàm mới vỡ vạc ý ra, hối hận việc làm thuở trước mà cung cấp cho ngài nhiều của cải rồi theo ngài Đông du, đi đến Cối Kê, đến nơi liền vào chợ, chính gặp lúc ở trong chợ có người đánh nhau loạn xạ, đánh lầm vào đầu ngài Cao, ngài chết ngay. Người khách Quảng Châu kiểm nghiệm luôn hai báo ứng càng tin lời Phật dạy và nói hết sự duyên. Người xa kẻ gần nghe biết đều buồn than, sáng tỏ các hữu vi của ba đời vậy. Từ năm Kiến Hòa thứ 2 đời Hoàn đế, đến năm Kiến Ninh thứ 3 đời Linh đế (năm 148-170 Tl.), trong vòng hơn 20 năm, ngài An Thế Cao đã dịch:
Kinh Đại thừa phương đẳng yếu tuệ 1 quyển (dịch ra lần đầu, còn); kinh Thái tử mộ phách 1 quyển (dịch ra lần đầu, còn); kinh Trưởng giả tử chế (tên khác là Chế kinh, dịch ra lần đầu, còn); kinh Bảo tích tam-muội Văn-thù vấn pháp thân 1 quyển (tên khác là Di nhật bảo tích Văn-thù Sư-lợi bồ-tát vấn pháp thân kinh, dịch ra lần đầu, còn); kinh Tự thệ tam-muội 1 quyển (dịch ra lần đầu, còn); kinh Ôn thất tẩy dục chúng tăng 1 quyển (gọi tắt là Ôn thất kinh, dịch ra lần đầu, còn); kinh Minh độ ngũ thập hiệu kế 2 quyển (gọi tắt là Minh độ hiệu kế, Ngũ thập hiệu kế, dịch năm đầu niên hiệu Nguyên Gia, còn); kinh Phật ấn tam-muội 1 quyển (còn); kinh Bát đại nhân giác 1 quyển (còn); kinh Xá-lợi-phất hối quá 1 quyển (gọi tắt là Hối quá kinh, dịch ra lần đầu, còn); kinh Nhân bản dục sinh 1 quyển (còn); kinh Thi-ca-la-việt lục hướng bái 1 quyển (hoặc gọi là kinh Thi-ca-la-việt lục phương lễ, còn); kinh Trường A-hàm thập báo pháp 2 quyển (tên khác là Đa tăng đạo chương kinh, gọi tắt là Thập báo kinh, còn); kinh Nhất thiết lưu nhiếp thủ nhân 1 quyển (gọi tắt là Lưu nhiếp thủ, còn); kinh Tứ đế 1 quyển (còn); kinh Bản tướng ỷ trí 1 quyển (còn); kinh Thị pháp phi pháp 1 quyển (còn); kinh Lậu
phận hy 1 quyển (còn); kinh Bà-la-môn tử mạng chung ái niệm bất ly 1 quyển (còn); kinh Thập chi cư sĩ bát thành nhân 1 quyển (còn); kinh Phổ pháp nghĩa 1 quyển (tên khác là Phổ nghĩa kinh, Cụ pháp hạnh kinh, dịch năm Nguyên Gia thứ 2, còn); kinh Bà-la-môn tỵ tử 1 quyển (còn); kinh A-na-bân-để hóa thất tử 1 quyển (còn); kinh A-nan đồng học 1 quyển (còn); kinh Thất xứ tam quán 1 quyển (hoặc làm thành 2 quyển, dịch năm đầu niên hiệu Nguyên Gia, còn); kinh Ngũ ấm thí dụ 1 quyển (hoặc không có chữ “thí”, tên khác là Thủy mạt sở phiêu kinh, còn); kinh Chuyển pháp luân 1 quyển (hoặc gọi là Pháp luân chuyển kinh, còn); kinh Bát chánh đạo 1 quyển (còn); kinh Ma-đặng nữ 1 quyển (hoặc gọi là kinh Ma-trâu nữ, A-nan vị cổ đạo nữ hoặc, còn); kinh Quỉ vấn Mục-liên 1 quyển (dịch ra lần đầu, còn); kinh A-nan vấn sự Phật cát hung 1 quyển (gọi tắt là A-nan vấn sự kinh, cũng gọi là Sự Phật cát hung kinh, dịch ra lần đầu, còn); kinh Nại nữ Kỳ-vực nhân duyên 1 quyển (hoặc không có chữ “nhân duyên”, dịch ra lần đầu, hoặc gọi tắt là Nại nữ kinh, còn); kinh Tội nghiệp ứng báo giáo hóa địa ngục 1 quyển (dịch ra lần đầu, hoặc gọi là Địa ngục báo ứng kinh, còn); kinh Kiên ý 1 quyển (dịch ra lần đầu, một tên khác là Kiên tâm chánh ý kinh, cũng gọi là Kiên tâm kinh, còn); kinh Đại an-bát thủ ý 2 quyển (hoặc làm thành một quyển, hoặc không có chữ “thủ ý”, hoặc gọi tắt là An-bát, còn); kinh Ấm trì nhập 2 quyển (hoặc làm thành 1 quyển, còn); kinh Xứ xứ 1 quyển (còn), kinh Mạ ý 1 quyển (còn); kinh Phân biệt thiện ác sở khởi 1 quyển (còn); kinh Xuất gia nhân duyên 1 quyển (còn); kinh A-hàm chánh hạnh 1 quyển (tên khác là Chính ý kinh, còn); kinh Thập bát nê-lê 1 quyển (hoặc gọi là Thập bát địa ngục kinh, còn); kinh Pháp thọ trần 1 quyển (còn); kinh Thiền hạnh pháp tưởng 1 quyển (còn); kinh Trưởng giả tử áo não tam xứ 1 quyển (tên khác là Trưởng giả yểu não tam xứ kinh,
 cũng gọi là Tam xứ não kinh, còn); kinh Kiền-đà quốc vương 1 quyển (hoặc không có chữ “quốc”, còn); kinh Phụ mẫu ân nan báo 1 quyển (còn); kinh Cửu hoành 1 quyển (còn); kinh Oai nghi 2 quyển (còn); kinh Phạm giới báo ứng khinh trọng 1 quyển (cũng gọi là Phạm giới tội báo khinh trọng, hoặc gọi là Mục-liên vấn kinh, còn); kinh Đại tỳ-kheo tam thiên oai nghi 2 quyển (hoặc 4 quyển, cũng gọi là Đại tăng oai nghi kinh, còn); kinh Đạo địa kinh 1 quyển (dịch ra lần đầu, hoặc thêm chữ “Đại”, còn); kinh Ca-diếp kết 1 quyển (dịch ra lần đầu, còn); kinh A-tỳ-đàm ngũ pháp hành 1 quyển (hoặc không có chữ “hành”, hoặc gọi là A-tỳ-đàm khổ tuệ kinh, còn); kinh Vô lượng thọ 2 quyển (dịch ra lần đầu, mất); kinh Như huyễn tam-muội 2 quyển (hoặc 1 quyển, dịch ra lần đầu, mất); kinh Nguyệt đăng tam-muội 1 quyển (mất); kinh Thập nhị nhân duyên 1 quyển (dịch ra lần đầu, cũng gọi là Văn thành thập nhị nhân duyên kinh, mất); kinh Nội tạng 1 quyển (dịch ra lần thứ hai, một tên khác là Nội tạng bách phẩm, hoặc gọi là Bách bảo, dịch tháng 12 năm Nguyên Gia thứ 2, mất); kinh Tứ bất khả đắc 1 quyển (dịch ra lần đầu, hoặc không có chữ “khả”, mất); kinh Dược Vương Dược Thượng bồ-tát 1 quyển (dịch ra lần đầu, mất); kinh Không tịnh thiên cảm ứng tam-muội 1 quyển (hoặc gọi là kinh Không tịnh tam-muội, dịch ra lần đầu, mất); kinh Tốt phùng tặc kết y đối chú 1 quyển (mất); kinh Chú tặc 1 quyển (tên khác là Tích trừ tặc hại chú, mất); kinh Thập tứ ý 1 quyển (mất); kinh Pháp luật tam-muội 1 quyển (dịch ra lần đầu, mất); kinh Đạo ý phát hạnh 1 quyển (mất); kinh Đại thập nhị môn 2 quyển (hoặc 1 quyển, mất); kinh Tiểu thập nhị môn 1 quyển (mất); kinh Thất pháp 1 quyển (hoặc gọi là kinh A-tỳ-đàm thất pháp hạnh, hoặc gọi tắt là Pháp hạnh kinh, mất); kinh Đa tăng đạo chương 1 quyển (mất); kinh Nghĩa quyết luật 1 quyển (hoặc không có chữ “kinh”, cũng gọi là Nghĩa quyết luật pháp hạnh
 kinh, mất); kinh Tạp tứ thập tứ thiên 2 quyển (hoặc gọi là Tạp kinh tứ thập tứ thiên, mất); kinh Bách lục thập phẩm 1 quyển (mất); kinh Xá đầu gián 1 quyển (dịch ra lần thứ 2, cũng gọi là kinh Xá đầu gián thái tử minh nhị thập bát tú, hay Thái tử minh tinh nhị thập bát tú kinh, Hổ nhĩ kinh, mất); kinh Lưu ly vương 1 quyển (hoặc gọi là Lưu ly, mất); kinh Ngũ môn thiền yếu dụng pháp 1 quyển (dịch ra lần đầu, mất); kinh Thái tử mộng 1 quyển (dịch ra lần đầu, mất); kinh Thiền 2 quyển (dịch ra lần thứ 2, mất); kinh Hằng thủy 1 quyển (dịch ra lần đầu, cũng gọi là kinh Hằng thủy bất thuyết giới, mất); kinh Hối quá pháp 1 quyển (mất); kinh Ngũ pháp 1 quyển (mất); kinh Ngũ hạnh 1 quyển (mất); kinh Tiểu bát nê-hoàn 1 quyển (hoặc gọi là kinh Nê-hoàn hậu chư tỳ-kheo, kinh Nê-hoàn hậu tỳ-kheo thế biến, kinh Nê-hoàn hậu biến ký, kinh Phật bát nê-hoàn hậu tỳ-kheo thế biến, mất); kinh Chánh trai 1 quyển (mất); kinh Phân minh tội phước 1 quyển (mất); kinh Thiền pháp 1 quyển (mất); kinh Nan-đề Ca-la-việt 1 quyển (mất); kinh Thiền định phương tiện thứ đệ pháp 1 quyển (mất); kinh Đương lai biến diệt 1 quyển (mất); kinh Tu hành đạo địa 7 quyển (hoặc 6 quyển, dịch ra lần đầu, hoặc gọi kinh Thuận đạo hạnh, dịch năm Vĩnh Khương thứ 9, mất); kinh Ngũ môn thiền yếu dụng pháp 1 quyển (dịch ra lần đầu, mất); kinh Tư duy yếu lược 1 quyển (gọi tắt kinh Tư duy, dịch ra lần đầu, mất); kinh Pháp cú 4 quyển (dịch ra lần đầu, mất); kinh Thỉnh Tân-đầu-lô pháp 1 quyển (dịch ra lần đầu, mất); kinh A-tỳ-đàm cửu thập bát kết 1 quyển (mất). Tất cả là 95 bộ, gồm 115 quyển.
[Cao tăng truyện tập đầu quyển 1, trang 3 chép là ngài An Thế Cao trước sau dịch ra kinh luận được 39 bộ; Phật tổ lịch đại thông tải quyển 5, trang 160 thì ghi là 29 bộ gồm 176 quyển; Đại Đường nội điển lục quyển 1, trang 4 chép là hơn
170 bộ gồm hơn 190 quyển; Thống kỷ cũng ghi là 176 quyển; Khai Nguyên thích giáo lục quyển 1, trang 135-137 ghi, ngoài những kinh đã thuật ở trên còn có kinh Thượng đăng hữu tình ly hữu tội, kinh Bát quang, kinh Xá-lợi-phất vấn bảo nữ, kinh Xá-lợi-phất thán bảo nữ thuyết bất tư nghị (cũng gọi là kinh Thán bảo nữ), kinh Thân Việt trưởng giả hối quá cúng Phật (hay gọi là kinh Thân Việt trưởng giả hối quá), kinh Tứ bách tam-muội danh, kinh Ma-ha-diễn tinh tấn độ trung tội báo phẩm, kinh Đại Ca-diếp ngộ Ni-càn tử, kinh A-nan hoặc kinh Đệ nhất tứ môn, kinh Đệ nhị tứ môn, kinh Đệ tam tứ môn, kinh Cam lộ chánh ý (hay gọi là kinh Phật nhập cam lộ điều ý), kinh Tôn giả Bạc-câu-la (gọi tắt là kinh Bạc-câu-la, hay gọi là kinh Bạc-câu-la đáp dị học vấn), kinh Bà-la-môn hạnh, kinh Trưởng giả huynh đệ nghệ Phật (hay gọi là kinh Trưởng giả Lê-sư-đạt-đa huynh đệ nhị nhân vãng Phật sở), kinh Ngũ chiến đấu nhân, kinh Thế gian cường đạo bố thí, kinh Phạm Thiên nghệ bà-la-môn giảng đường, kinh Úc-già cư sĩ kiến Phật văn pháp tỉnh ngộ (hay gọi là kinh Tu-già-đà cư sĩ Phật vị thuyết pháp đắc tính ngộ), kinh Thủy dụ, kinh Phật vị sự hỏa bà-la-môn thuyết ngộ đạo, kinh Phật vị bà-la-môn thuyết canh điền (hoặc không có chữ “điền”), kinh Phật vị kiêu mạn bà-la-môn thuyết kệ, kinh Phật vị Tần-đầu bà-la-môn thuyết tượng loại, kinh Phật vị A-chi-la Ca-diếp thuyết tự tha tác khổ, kinh Mục-liên kiến chúng sinh thân mao như tiển, kinh A-na-luật tư duy Mục-liên thần lực, kinh Vô Úy Ly-xa bạch A-nan, kinh Thương nhân thoát tặc nạn, kinh Thế gian ngôn mỹ sắc, kinh Thuần-đà sa-di (hoặc viết là sa-môn, hoặc viết chữ “Thuần”),39 kinh Thương nhân tử tác Phật sự, kinh Bà-la-môn thông đạt luận, kinh Ngoại đạo xuất
 

39 Kinh Thuần-đà sa-di 純陀沙彌經, hoặc viết kinh Thuần-đà sa-môn 純陀沙門經, kinh Thuần-đà sa-di 淳陀沙彌經.
 
 gia, kinh Bà-la-môn phục bạch, kinh Tinh cần tứ niệm xứ, kinh Bà-la-môn hư ngụy, kinh Phật vị Điều Mã tụ-lạc chủ thuyết pháp, kinh Nhất thiết bất hằng an trụ, kinh Bà-la-môn vấn Thế Tôn tương lai hữu kỷ Phật, kinh Bà-la-môn vấn Phật bố thí đắc phước, kinh Đậu-già bà-la-môn luận nghị xuất gia, kinh Phật hóa hỏa dữ bà-la-môn xuất gia, kinh Tịnh thủy thí dụ (tên khác là kinh Hằng thủy lưu chú, hoặc viết là Lưu chú), kinh Tứ-tra bà-la-môn xuất gia đắc đạo, kinh Quá khứ đàn cầm nhân, kinh Bà-la-môn giải tri chúng thuật, kinh Độc phú trưởng giả (hay gọi kinh Độc phó trưởng giả tài vật vô phó, kinh Trưởng giả mạng chung vô tử phó chúc), kinh Phật vị thiếu niên bà-la-môn thuyết tri thiện bất thiện, kinh Phật vị Câu-la trưởng giả thuyết căn thục (hoặc không có ba chữ “thuyết căn thục”), kinh Thiền tư mãn túc, kinh Thiền bí yếu, kinh Tiền thế tránh nữ, kinh Tử mạng quá, kinh Ca-chiên-diên vô thường, kinh Thẩm khỏa hình tử (tên khác là kinh Phật phú khỏa hình tử), kinh Thí dụ, kinh Cảnh diện vương, kinh Tam độc, kinh Sổ tức sự, kinh Thất lão bà-la-môn thỉnh vi đệ tử, kinh Cô mẫu táng nhất tử, kinh Chước độc thọ phục sinh, kinh Cầu ly lao ngục, kinh Lương thời nan ngộ, kinh Tích hữu nhị nhân tướng ái kính, kinh Từ nhân bất sát, kinh Ma-da kỳ nữ nhân báng Phật sinh thân nhập địa ngục, kinh Tối thắng trưởng giả thọ chú nguyện (gọi tắt là kinh Thọ chú nguyện), kinh Phật thần lực cứu trưởng giả tử, kinh Phật độ Chiên-đà-la nhi xuất gia, kinh Thừa sự thắng kỷ, kinh Điều-đạt sinh thân nhập địa ngục, kinh Đa đảo kiến chúng sinh, kinh Trưởng giả dạ thâu đắc phi thường quán (gọi tắt là kinh Đắc phi thường quán), kinh Nhân thọ thân nhập ấm, kinh Nhân thân tứ bách tứ bệnh, kinh Ngũ ấm thành bại, kinh Địa ngục tội nhân chúng khổ, kinh Nhân bịnh y bất năng trị, kinh A-luyện-nhã tập thiền pháp, kinh Liên Hoa nữ, kinh Ca-diếp cật A-nan (cũng gọi là kinh Ca-diếp trách A-nan song độ la –
hán dụ), kinh Kim Sắc nữ v.v.... mỗi kinh đều 1 quyển, hợp lại là 85 bộ, 85 quyển. Các sách khác đều nói do An Thế Cao dịch, Thích giáo lục cho là những kinh này đều từ nhiều loại biệt hành ra, hoặc không phải ngài An Thế Cao dịch, không nên liệt vào số sách phiên dịch của ngài, nên lược bỏ đi].
Kinh của ngài dịch nghĩa lý đều rõ ràng khúc chiết, văn tự đầy đủ chuẩn xác, biện bác mà không hoa mỹ, chất thật mà chẳng quê mùa, thường người đọc gắng gỏi nhưng chẳng mệt mỏi. Ngài An Thế Cao vốn là dòng dõi vua, danh tiếng vang dậy ở nước ngoài, do đó khách lữ hành Tây Vực còn gọi ngài là An Hầu, đến nay trở thành tên hiệu vậy. Sách chữ Thiên Trúc âm từ nói ra khó hiểu, cùng với chữ Hán khác lạ, kẻ trước người sau phiên dịch truyền bá, đa phần lầm lẫn nhiều, chỉ có bản dịch của ngài An Thế Cao là đứng đầu trong nhóm sách dịch.40
9. Ưu-bà-tắc An Huyền, ông là người An Tức, chí tánh trinh bạch, sâu sắc tận lý, nắm giữ giới pháp, chẳng sai hào ly, tụng rộng các kinh, phần nhiều đều thuộc lòng. Thời Hán Linh đế đi buôn bán ở Lạc Dương,41 có công nên được hiệu là Kỵ đô úy, tính trầm tĩnh điềm đạm, ôn hoà khiêm cung, thường lấy pháp sự làm nhiệm vụ của mình, rèn luyện dần ngôn ngữ Hán, chí tuyên dương kinh điển, thường cùng Sa-môn giảng luận đạo nghĩa, người đời gọi là Đô úy. Năm Quang Hòa thứ tư (năm 181), An Huyền cùng Sa-môn Nghiêm Phật Điều dịch kinh A-hàm khẩu giải thập nhị nhân
 

40 Căn cứ Thích giáo lục. (cht. Tg)
41 Phật tổ lịch đại thông tải quyển 6, trang 161, ghi là năm Hy Bình thứ 2 (năm 173), ngài An Huyền đến Lạc Dương; Cao tăng truyện quyển 1, trang 8 và Lịch đại tam bảo ký quyển 4, trang 617 đều cho là cuối đời Hán Linh đế. Nội điển lục quyển 1, trang 5 ghi là năm Quang Hòa thứ tư. (cht. Tg)
 
 duyên 1 quyển (cũng gọi là kinh Đoạn thập nhị nhân duyên, gọi tắt là A-hàm khẩu giải, hoặc gọi A-hầu khẩu giải, còn), kinh Pháp cảnh 2 quyển (dịch ra lần đầu, hoặc làm thành 1 quyển, còn), hợp lại là 2 bộ, 3 quyển.42 An Huyền miệng dịch Phạn văn, ngài Phật Điều bút thọ (biên chép), nghĩa lý được, lời chính xác, lột hết chỉ thú vi diệu của kinh, đó là cái đẹp của bậc vĩ nhân lưu lại hậu thế.43
10. Sa-môn Khương Thần (hoặc viết là chữ Cự),44 người Tây Vực,45 lòng ưa du hóa, chí ở việc tuyên pháp rộng rãi. Năm Trung Bình thứ 4 đời Hán Linh đế (năm 187), ngài ở Lạc Dương dịch kinh Vấn địa ngục sự 1 quyển (mất), lời thẳng ý đạt, chẳng thêm văn vẻ.46
11. Sa-môn Khương Mạnh Tường.47 Tổ tiên ngài là người Khương Cư,48 được khen là có tuệ học, từ năm đầu niên hiệu Hưng Bình đời Hán Hiến đế, đến năm Kiến An thứ 4 (năm 194-199), ở Lạc Dương, ngài dịch kinh Xá-lợi-phất Ma-ha Mục-kiền-liên du tứ cù 1 quyển (còn), kinh Hưng khởi hạnh 2 quyển (hay gọi là kinh Nghiêm giới túc duyên, còn), kinh Phạm võng 2 quyển (dịch ra lần đầu, mất), kinh Tứ đế 1
 

42 Thông tải chép là An Huyền và Nghiêm Phật Điều dịch 7 bộ kinh. (cht. Tg)
43 Căn cứ Khai Nguyên thích giáo lục quyển 1, trang 138. (cht. Tg)
44 Xem cht. 132, tr. 94.
45 Lịch đại tam bảo ký quyển 4, trang 617 ghi là Sa-môn ngoại quốc. Đại Đường nội điển lục quyển 1, trang 5 ghi là Sa-môn Trung Quốc; có thể lầm lẫn của việc ấn loát, chứ theo thông lệ của người Phiên lấy tên nước làm họ thì Khương Thần nên liệt vào người Khương Cư. (cht. Tg)
46 Căn cứ Khai Nguyên thích giáo lục quyển 1, trang 138. (cht. Tg)
47 Phật tổ thống kỷ quyển 36, trang 216 ghi là Khương Mãnh. (cht. Tg)
48 Tổ tiên Khương Mạnh Tường là người Khương Cư thì ông là dòng dõi Khương Cư, rõ ràng không nghi ngờ gì. Lịch đại tam bảo ký quyển 4, trang 617 ghi là Sa-môn ngoại quốc. Đại Đường nội điển lục quyển 1, trang 5 ghi là Sa-môn nước Trung Thiên Trúc. (cht. Tg)
 
quyển (dịch năm đầu niên hiệu Hưng Bình, dịch ra lần thứ 2, mất), kinh Thái tử bản khởi đoan ứng 2 quyển (cũng gọi là Đoan ứng bản khởi, dịch ra lần thứ 2, mất), kinh Báo phước 1 quyển (mất), hợp lại là 6 bộ, 9 quyển. Sa-môn Thích Đạo An bình luận việc phiên dịch của ngài: “Ngài Mạnh Tường dịch theo lối mới, hoa mỹ trôi chảy, đạt đến chỗ huyền vi vậy.”49
Căn cứ những người truyền bá nêu trên, đến từ Thiên Trúc có năm người là Ca-diếp-ma-đằng (Kāśyapa-mātaṅga), Trúc Pháp Lan, Trúc Phật Sóc, Trúc Đại Lực, Đàm Quả; đến từ Nguyệt Chi có ba người là Chi Sấm (Lokakṣema), Chi Lượng, Chi Diệu; đến từ An Tức có hai người là An Thanh, An Huyền; đến từ Khương Cư có hai người là Khương Thần, Khương Mạnh Tường. Người Thiên Trúc nhiều nhất, kế đến là Nguyệt Chi, tiếp theo là An Tức và Khương Cư. Trừ ngài Chi Lượng ra, còn 11 người phiên dịch kinh, được 144 bộ gồm 225 quyển. Ngài An Thế Cao dịch kinh nhiều nhất, thứ đến là Chi Sấm, Chi Diệu, Khương Mạnh Tường, Trúc Pháp Lan, Trúc Phật Sóc, An Huyền, Trúc Đại Lực, Đàm Quả, Ca-diếp-ma-đằng, Khương Thần. Chỉ có một số ít còn bảo tồn trong Đại tạng kinh, số nhiều còn lại đều thất lạc cả. Buổi đầu Phật giáo Ấn Độ truyền bá ở Trung Quốc, công của mười một người này không lớn lắm sao!
 

49 Căn cứ Khai Nguyên thích giáo lục quyển 1, trang 138. (cht. Tg)
 
/75
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
🙏 Trợ Lý Phật Pháp AI »