Tìm kinh sách
Vần A-Z:
Nghiên cứu Phật Giáo Tây Vực

Nghiên cứu Phật Giáo Tây Vực

Tác giả: Cư sĩ Tuệ Khai, Phụ chú: Thích Tâm Nhãn. Dịch giả: Cư sĩ Tuệ Khai, Phụ chú: Thích Tâm Nhãn. Năm xuất bản: 2011. Số trang: 604.

Chương 65: XI. Chùa Ta-Ma-Nhã (Trang 553 - 556)

chỗ cầu cứu, vua tôi rúng động kinh sợ, không biết mưu tính thế nào, đành tạm thiết lễ cúng tế, đốt hương khấn thỉnh chuột, mong muốn chúng có linh thiêng thì giúp thêm ít sức mạnh cho quân đội. Đêm ấy, vua Cù-tát-đán-na mơ thấy con chuột lớn nói rằng: Kính mong trợ giúp nhau, nguyện xin ngài sớm sửa trị quân đội, sáng ngày hợp chiến, nhất định phải thắng. Vua Cù-tát-đán-na biết có thần linh phù trợ, liền chỉnh đốn binh mã, ban lệnh cho tướng sĩ, trời chưa sáng mà khởi hành, ruỗi dài đánh úp. Hung Nô nghe được, không thể không kinh sợ! Muốn cưỡi xe, mặc giáp nhưng yên ngựa, quần áo của người, dây cung, dây khoá áo giáp… những thứ dây buộc đều bị chuột cắn đứt hết. Quân giặc xâm lăng đành chịu trói, tướng giặc bị giết, binh sĩ bị bắt sống. Hung Nô rúng động khiếp sợ, cho là có thần linh giúp đỡ. Vua Cù-tát-đán-na cảm ơn sâu của chuột, kiến lập đền thờ, thiết lễ cúng tế, đời đời tuân kính, đặc biệt rất trân trọng lạ thường. Cho nên trên từ quân vương, dưới đến lê dân đều tu sửa cúng tế hàng năm, để cầu phước hộ trì. Người đi qua hang ấy phải xuống ngựa mà rảo bước, lễ bái để tỏ lòng tôn kính, cúng tế để cầu phước lộc, hoặc bằng quần áo, cung tên, hoặc bằng hương hoa, đồ ăn ngon lành. Mọi người đều cúng nạp chân thành, mong được phước lợi; nếu không dâng cúng thì gặp tai biến.”
XI. CHÙA TA-MA-NHÃ
Bản văn:42
“Cách 4, 5 dặm về phía Tây Vương thành, có ngôi Tăng Già-lam Ta-ma-nhã, bên trong có ngôi tháp (Tốt-đổ-ba), cao hơn 100 thước, rất nhiều điềm ứng linh dị, đèn đuốc luôn
 

42 Tây Vực ký 12, p944b13.
 
sáng. Ngày xưa có vị La-hán từ phương xa đến, ở trong rừng này, dùng sức thần thông phóng ra ánh sáng lớn. Ban đêm nhà vua ở trên lầu cao, từ xa trông thấy trong rừng có ánh sáng chiếu sáng ngời, ông hỏi mọi người ở đó, họ đều nói rằng: ‘Có một vị Sa-môn từ xa đến, ngồi yên trong rừng, thị hiện thần thông’. Nhà vua lệnh đem xa giá đến, đích thân sang quan sát. Nhìn thấy bậc minh hiền, lòng liền kính trọng, tâm luôn khâm phục, vua thỉnh ngài vào cung. Vị Sa-môn nói rằng: ‘Vật có nơi thích hợp, chí có chỗ ở riêng, rừng sâu đầm cỏ là chỗ vui thú của tâm hồn; nhà cao cửa rộng chẳng phải là điều tôi muốn nghe’. Nhà vua càng thêm kính ngưỡng tôn trọng, nên vì ngài xây Già-lam, dựng tháp, Sa-môn nhận lời mời, ở lại trong ngôi chùa ấy. Không lâu, nhà vua cảm được xá-lợi vài trăm hạt rất mừng rỡ, trộm nghĩ: ‘Xá-lợi ứng đến, sao muộn thế? Phải chi sớm được mà đặt bên dưới tháp, há chẳng phải là thắng tích ư!?’ Vua liền đi đến Già-lam bạch đầy đủ với vị Sa-môn. Vị La-hán nói rằng: ‘Vua không phải lo, nay đặt xá-lợi nên làm những cái hộp bằng vàng, bạc, đồng, sắt, đá v.v… bao quanh theo thứ lớp mà đựng’. Nhà vua lệnh cho thợ giỏi bất kể ngày đêm phải hoàn thành công việc, rồi chở trên các xe báu, đi đến Già-lam. Lúc đó, cả vương cung dẫn đường đi theo, thứ dân, quan lại hàng trăm người, người xem tiển đưa xá-lợi đông đến kể hàng vạn. Vị La-hán mới dùng tay phải nâng tháp lên, đặt trong bàn tay, nói với nhà vua rằng: ‘Có thể cất giữ bên dưới’. Nhà vua liền an trí cái hộp vào chỗ đất hõm sâu, công việc ấy làm xong. Vị La-hán hạ ngôi tháp xuống, không chỗ nào bị nghiêng lệch, hư tổn. Mọi người nhìn thấy, vui mừng chưa từng có, lòng tin Phật càng thuần nhất, chí kính pháp thêm bền vững. Nhà vua nói với quần thần rằng: ‘Ta từng nghe Phật lực khó nghĩ lường, thần thông khó đến cùng, hoặc phân thân trăm ức, hoặc ứng tích nhân thiên, cả thế giới ở trong bàn tay, tưởng
chúng sinh không động tịnh, diễn pháp tính bằng âm thanh thường, giác ngộ chúng sinh theo từng loài. Ấy là thần lực chẳng thể bày đặt, trí tuệ không có lời diễn đạt, sự linh thiêng ấy đã ẩn mà giáo pháp ấy còn truyền, ăn uống thanh cao, vị đạo siêu nhiên, còn được sự linh hiển ấy, là nhờ phước thâm sâu của mình. Hay thay! Phải hết sức sùng kính Phật pháp nhiệm mầu thì chỗ uyên thâm mới được sáng tỏ vậy”.
Khảo chứng:
Ông Julien cho tên chùa Ta-ma-nhã là thuộc từ gốc Samājñā (Julien: Mémoires, II. 235), ông Watters cũng chọn từ Samājñā (Watters: On Yuan Chwang, II. 302), còn ông Stein nói là từ Somaña (Stein: Ancient Khotan, I. 225). “Ta 娑” là sa, sá; “Ma 摩” là ma, mā; “Nhã 若” là jña, jñā, ngā, ṇa, ṇya, ña. Nếu xét theo phát âm thì thuyết của ông Julien và Watters đều đúng. Còn theo tiếng Phạn thì chọn thuyết ông Julien, Samājñā biểu thị ý nghĩa của tiếng khen, rất là tốt. Còn như cho từ “Ta” là “so” thì Tác giả (bài viết này) chưa nghe đến, nên chưa thể đồng ý với thuyết của ông Stein. Đồng thời từ “Samājñā” cũng có thể chuyển thành Somana.
Căn cứ lịch sử nước Vu-điền trong Tây Tạng truyện (Rockhill: Life of The Buddha, 238), thì Phật giáo truyền đến Vu-điền vào thời vua Vijayavirya, cháu đời thứ tám của vua Vijayasambhava. Nhà vua ở trên lầu Srog-mkhar, từ xa trông thấy trong rừng có ánh lửa sáng màu vàng bạc, mới nhớ đến lời tiên đoán của đức Phật-đà: Đời vị lai trong rừng Vu-điền sẽ ứng việc kiến tạo chùa Phật. Nhà vua liền mời vị sư tên Buddhadūta làm. Được sự chỉ đạo của vị ấy mới xây dựng tinh xá Hgumstir. Ngài Buddhadūta trong Tây Tạng truyện tương đương với vị La-hán ở chùa Ta-ma-nhã; vua Vijayavirya tức là người mà ngài Huyền Trang gọi là quốc

 
vương; tinh xá Hgumstir hình như là chùa Ta-ma-nhã mà ngài Huyền Trang ghi. Theo ngài Huyền Trang nói: Vị trí của chùa Ta-ma-nhã ở phía Tây vương thành 5, 6 dặm. Nhưng theo sự ghi chép trong Pháp Hiển truyện:43
“Cách phía Tây thành ấy 7, 8 dặm có ngôi Tăng Già-lam tên là Vương Tân Tự. Chùa làm đến nay đã tám mươi năm, trải ba vị vua mới thành. Chùa cao đến 25 trượng, chạm khắc hoa văn, vàng bạc nạm bên trên, hợp nhiều thứ báu. Phía sau tháp làm Phật đường, trang nghiêm đẹp đẽ; rường cột, cửa lớn, cửa sổ đều dùng rèm vàng. Tăng phòng làm riêng, cũng tô vẽ trang nghiêm tráng lệ, không thể dùng lời mà nói hết được. Các vua sáu nước phía Đông Thông Lĩnh, sở hữu những vật báu có giá trị, phần nhiều đều cúng dường.”
Đoạn này nói rằng, phía Tây thủ phủ chừng 7, 8 dặm, có ngôi chùa mới, mất 8 năm mới làm hoàn thành, trải ba đời vua, kết cấu tráng lệ, rất được các nước lân cận sùng kính. Chùa Vương Tân này tức là nơi mà ngài Huyền Trang gọi là chùa Ta-ma-nhã, khoảng cách của ngôi chùa ấy với thủ phủ cũng rất giống. Khi ông Stein thám hiểm ở vùng Vu-điền, ở phía Tây Yōtkan, phát hiện một thôn trang tên là Somiya. Ở trong thôn trang này có thể nhận ra sự tồn tại của cái gò tha ma. Thời ngàn xưa, theo truyền thuyết của người dân địa phương: Gò tha ma này là thánh tích chỗ ở của vị Thánh nhân từ phương xa đến mà mọi người đều lễ bái, cúng dường, chẳng chút xao nhãng. Lại có một thuyết cho rằng, đó là dấu tích xưa của ba vị thánh Mullah Yahyamtti, Mullah Alamutti và Mullah Serekmutti ẩn lánh đời nhập định (Stein: Ancient
 

43 Cao tăng Pháp Hiển truyện 1, T512085_p857b25.
 
/75
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
🙏 Trợ Lý Phật Pháp AI »