Quốc có mối quan hệ với nhau. Kiểm chứng qua Tăng truyện và Kinh lục của Trung Quốc cũng thấy rõ. Không chỉ như thế, chúng ta còn có thể kiểm nghiệm những tác phẩm mỹ thuật và kinh điển chép tay xưa khai quật tại Cao Xương, càng dễ nhận định được thời kỳ Phật giáo truyền đến đó ra sao. Việc ấy tôi sẽ trình bày tường tận tỉ mỉ ở tiết sau.
IV. PHẬT ĐIỂN LƯU HÀNH Ở ĐÔNG TURKESTAN
Kết quả thám hiểm ở vùng Trung Á, phát hiện thấy những ngôn ngữ văn tự ở Đôn Hoàng và hai vùng Nam, Bắc lòng chảo Tarim, trong số ấy có nhiều bản viết cổ chẳng ai biết, đó là sự nhận xét chung của các học giả Đông dương. Về danh xưng và tính chất của ngôn ngữ chưa biết đó, trong giới học giả đã có nhiều ý kiến, cho đến nay cũng chưa có lời giải đáp cuối cùng. Những ngôn ngữ ấy, nói chung có thể xác định phân làm ba loại, là ngữ hệ Iran, ngữ hệ Ấn-Âu và ngữ hệ Đột-quyết.
Trước tiên, trình bày kinh Phật chép bằng văn tự thuộc ngữ hệ Iran. Ngôn ngữ thuộc hệ ấy tính ra có hai thứ, là Túc-đặc ngữ81 và Vu-điền ngữ (Cổ Hòa-điền ngữ).
Túc-đặc ngữ là một bộ phận của nước Khương Cư như trình bày ở trước, cũng gọi là ngôn ngữ ở vùng hậu Khương quốc chọn dùng. Nước này lấy Samarkand82 hiện nay làm trung tâm, ngôn ngữ lưu hành trong nước đó là ngôn ngữ cổ đại thuộc ngữ hệ Iran. Khu vực lưu hành thứ cổ ngữ ấy rất rộng, bao quát cả lưu vực sông Amu Darya và các vùng đất
81 Túc-dặc ngữ: Xem cht. 9 trước.
82 Samarkand, dịch âm Tát-mã-nhi-hãn 撒馬兒罕, một thành phố phía Đông nước cộng hòa Uzbekistan thuộc Liên Xô (cũ).
Đại Hạ. Lại có quan hệ mật thiết với ngôn ngữ vùng Pamir83 rộng dài, rồi hướng về phía Đông xa xôi và phía Nam lòng chảo Tarim, một mạch thẳng đến Đôn Hoàng. Khu vực lưu hành của ngôn ngữ đó rộng lớn biết bao! Do từ xưa đến nay Khương quốc chính là đất trung tâm của thương nghiệp, và vì đuổi theo những mối lợi tầm thường mà dân tộc ấy phân tán cư trú khắp nơi, ở Trung Á và Đông Á. Sự thật ấy đều có thể tìm thấy trong Chính sử hoặc Tăng truyện của Trung Quốc. Không chỉ thế, chỗ di tích doanh trại bảo vệ biên giới, trên đường xưa từ Lop Nor84 thông đến Đôn Hoàng, ông Stein đã khai quật, nhặt được những văn thư thương nghiệp viết bằng ngôn ngữ Túc-đặc ở thế kỷ thứ I Tây lịch. Ông lại khảo sát trên con đường thông thương tơ lụa của Trung Quốc, phát hiện vùng Karateghin ở Sogdiana là địa phương giao thông thương nghiệp thời bấy giờ. Theo những văn thư cổ mà ông Stein đào được, chúng ta có thể biết thời kỳ đầu thế kỷ thứ VII Tây lịch, người nước Khương ở phía Nam Lop Nor (vùng đất giao thoa với miền Nam Đông Turkestan) đã kiến thiết một vùng đất định cư, sau này trải qua cả một thế kỷ vẫn bảo tồn được tổ chức chính thể tự trị. Điều ấy giúp cho chúng ta sáng tỏ về tình hình nước Khương lúc bấy giờ. Truyện Tây Vực trong Ngụy thư, mục nước Túc-đặc ghi: “Thương nhân nước ấy trước tiên phần nhiều đi đến đất Lương buôn bán và đến Cô Tạng85 lại thấy là người phục dịch.”
83 Hán: Ba-mê-la 波謎羅, hay gọi là Ba-lê-ma-xuyên, Bạc-mễ-nhĩ, tức là Thông Lĩnh (cao nguyên Pamir).
85 Cô Tạng 姑臧: Cô Tạng là tên một huyện cũng là tên một hòn núi, nhân đó mà đặt tên (từ đời Tây Hán). Thời Thập lục quốc, Tiền Lương,
Nơi mà thời Nam-Bắc triều gọi Túc-đặc (Soghd) tức là một phần của Sogdiana, chẳng phải là gọi chung. Theo luận chứng của ông Bạch Điểu Khố Cát thì nước Kusānika chính là một nước trong số ấy.86 Truyện Tây Vực trong Đường thư ghi về nước Khương, nói nhân dân nước đó:
“Giỏi buôn bán, háo lợi, đàn ông hai mươi tuổi là đi ra những nước láng giềng, chỗ có lợi thì không thể không đến”.
Từ thời Nam-Bắc triều trở về trước, người Soghd đi đến Lương Châu Trung Quốc buôn bán với người Hán. Đến thời đại kiến lập thành nước Khương (bao hàm người Soghd), người trưởng thành thì nhất định làm thương mại, chỗ nào có lợi là họ đến trước. Vậy thời nhà Đường, người dân thuộc tộc Soghd thường đi đến các nước phụ cận kinh doanh buôn bán, những vùng đất mà họ đến đều rộng lớn. Rồi do quan hệ buôn bán mà ngôn ngữ của nước họ trở thành loại ngôn ngữ quốc tế ở các nước Trung Á lúc bấy giờ. Từ đất nước ấy thông qua biên giới phía Nam lòng chảo Tarim, thẳng đến Đôn Hoàng đều thông dụng ngôn ngữ Sogdia (Túc-đặc). Nhưng người nước Khương đi đến phương Đông không chỉ do quan hệ thương nghiệp, mà trong số ấy còn có những người tránh quốc nạn, hoặc vì hoằng truyền Phật giáo mà đến. Sự tích về họ chẳng giống nhau, đọc truyện ký của người họ Khương trong Kinh lục và Tăng truyện của Trung Quốc là biết.
Hậu Lương, Nam Lương và Bắc Lương đều kiến đô ở đây. Nay là huyện Võ Oai tỉnh Cam Túc.
86 Xem bài “Túc-đặc quốc khảo” trong Đông dương học báo, quyển 14. (cht. Tg)
Những kinh điển Phật giáo chủ yếu mà họ dùng ngôn ngữ của mình dịch ra, được ông Stein và ông Paul Pelliot tìm thấy ở động Thiên Phật tại Đôn Hoàng. Trong văn thư sưu tập của ông Stein hiện nay có ghi lại: Liên hoa như ý châu đà-la-ni (Padmacintāmani-dhārani), Thanh đầu đà-la-ni (Nilakantha-dhārani), Duy-ma-cật sở thuyết kinh (Vimalakirti-nirdeśa) và một phần của Bổn sanh đàm là Tỳ-đán-đà-la xà-đà-già (Vessantara Jātaka), ngoài ra còn nhiều mảnh kinh rời chưa xác định được.87 Năm 1920, ông Pelliot đem 40 tờ kinh tiếng Túc-đặc trong số kinh ông sưu tập được, tương đương với bản kinh chữ Hán “Phật thuyết thiện ác nhân quả” in lưu hành. Ngoài những bản Hán dịch ra, còn có bản tương đương với Cam-châu-nhĩ88 của Tây Tạng, ông đều trình bày đầy đủ.89 Kinh Phật bằng tiếng Túc-đặc do hai ông Stein và Pelliot phát hiện và thu hoạch được đều ở trong Tăng viện Đôn Hoàng. Có thể biết số kinh ấy được viết khoảng cuối thế kỷ thứ VII Tây lịch,90 niên đại của chúng so ra muộn màng, nhưng nhân đó mà xác định được là người nước Khương đến nước này cư trú đã lâu.
Ngài Tam tạng Bát-nhã (Prajña) đời Đường được sự trợ giúp của vị Tăng Ba-tư là Cảnh Tịnh (Adam), dịch nguyên bản kinh Đại thừa lý thú lục ba-la-mật-đa 7 quyển. Theo
87 Xem “Serindia. II. pp. 924”. (cht. Tg)
88 Cam-châu-nhĩ 甘珠爾: T. Bkaḥ-ḥgyur, Kāh-gyur, dịch là Giáo sắc dịch điển, Chánh tạng. Một trong hai bộ đại tạng kinh Tây Tạng. Học giả Tây Tạng là Nhân-khâm-trát-ba (T. Rin-chen-grags-pa, tức Bố-đốn [Bu-ston]) phân chia Đại tạng kinh Tây Tạng thành hai bộ: Đan-châu-nhĩ 丹珠爾 (T. Bstan-ḥgyur), Cam-châu-nhĩ. Cam gọi là giáo, Đan gọi là luận, Châu-nhĩ là phiên dịch. Cam-châu-nhĩ gọi là Chánh tạng, Đan-châu-nhĩ gọi là Phó tạng, Tạp tạng, Tục bộ…
89 Sogdian Text, I . (cht. Tg)
90 Serindia, II. pp. 914, 920. (cht. Tg)
gợi ý của ông Pelliot thì nguyên bản ấy chính xác là viết bằng tiếng Túc-đặc.91 Căn cứ Tục khai nguyên quyển thượng,92 lúc bấy giờ Đức Tông Hoàng Đế thấy bản dịch Hán văn liền thêm lời phê “lý muội từ sơ” (ý mờ tối lời thô sơ), rồi ban sắc chỉ rằng, từ khi đến Trung Hoa dịch kinh người ta đều lấy Phạn bản làm pháp, chẳng dùng Hồ bản, nay phải căn cứ Phạn bản kinh này dịch lại. Ngài Tam tạng Bát-nhã vâng lệnh tìm được bản văn chữ Phạn và nhờ sự trợ giúp của ngài Lợi Ngôn ở chùa Quang Trạch, dịch lại kinh ấy thành 10 quyển. Bản kinh Đại thừa lý thú lục ba-la-mật-đa 10 quyển hiện nay là từ bản Phạn dịch ra, còn bản 7 quyển nguyên dịch từ bản Hồ, sớm đã thất lạc không thể tìm lại được. Đương thời ngoài tiếng Phạn ra, thì Hồ ngữ là chỉ cho tiếng Tây Vực. Đối với điểm ấy chúng ta không cần hoài nghi nữa. Từ đời Đường trở về trước, giữa Phạn cùng với Hồ không thể phân định rõ ràng. Đến triều Đường mới mở ra một thời đại mới, như trong phần nước Cù-tát-đán-na,93 mục nước Vu-điền, sách Tây Vực ký quyển 12, do ngài Huyền Trang trước thuật, nói Hồ ngữ khác biệt với Ấn Độ ngữ, Hung Nô ngữ, Vu-điền ngữ.
Lại như trong Nam hải ký qui truyện quyển 1,94 do ngài Nghĩa Tịnh trước tác đã giải thích về cách thức “trường quị”95 qua đoạn văn:
91 Pelliot: Les Influences Iraniennes en Asia Centrae et en Extreme- Orient, Rev. de l’Hist.et de Litt. Relig, 1912 pp. 12. (cht. Tg)
92 Tục Khai Nguyên 1, T55n 2156_p756a25.
93 Cù-tát-đán-na 瞿薩旦那: Thời Đường gọi là Địa Nhũ. Người Hung Nô gọi là Vu-độn. Người Ấn Độ gọi là Khuất-đan. Người Hồ gọi là Khê-đán.
94 Nam hải ký qui truyện 1, T54n2125_p210b07.
“Người xưa nói rằng kiểu quì của người Hồ, chẳng phải vậy, năm nước Thiên Trúc96 đều vậy cả, sao nói là riêng của người Hồ?”
Có thể biết là Hồ và năm nước Thiên Trúc có sự khác biệt. Cũng trong quyển 1 sách trên (Nam hải ký qui truyện) nói rằng: “Nhưng các nước Hồ phương Bắc như Đổ-hóa-la và nước Tốc-lợi v.v... thì phép của họ lại khác.” Như trong quyển 2 nói: “Từ Yết-thấp-di-la trở đi, cùng các nước Hồ như Tốc-lợi, Thổ-phiền, Đột-quyết thì phần lớn đường lối tương tợ.” Vậy ngoại trừ Ấn Độ, Thổ-phiền (Tây Tạng), Đột-quyết (Turk) ra, thì chữ “Hồ” chỉ hạn định ở vùng đất phương Bắc Ấn Độ. Lại trong quyển thứ 3 sách trên nói: “Vùng đất năm nước Thiên Trúc đều gọi là nước Bà-la-môn, còn vùng Tốc-lợi ở phương Bắc có danh hiệu chung là Hồ Cương”, chính là xem Tốc-lợi cùng Hồ đồng một loại. Nơi mà ngài Nghĩa Tịnh gọi là Tốc-lợi, ngài Huyền Trang lại gọi là Tể-lợi (Tây Vực ký quyển 1) đều là dịch âm của một từ. Tể-lợi mà ngài Huyền Trang nói chính là bao quát hết vùng đất từ Thuỷ thành Tố-diệp đến nước Yết-sương-na. Thuỷ thành Tố-diệp tức là sông Chu (Sujab) hiện nay, thành ấy ở phía Tây bắc Issyk Kul (Nhiệt Hải), phía Nam Tokmak, tưởng là nơi ấy cách xa Tây bắc Son Kul nhưng không xa lắm.
Nước Yết-sương-na (Kasana)97 là vùng đất bao quát cả nước Tể-lợi, Shahrisabz. Rồi từ phía Tây sông Chu và phía
95 Trường quị 長跪: Hai đầu gối quì xuống đất, hai bắp chân quay lên trên, hai đầu ngón cái chống xuống đất, dướn người ngay ngắn. Kinh văn còn gọi là Hồ quị (kiểu quì của người Hồ).
96 Năm nước Thiên Trúc: Thời kỳ Trung cổ, Ấn Độ phân chia năm khu vực Đông, Tây, Nam, Bắc, Trung, gọi là Ngũ Thiên Trúc (五天竺).
97 Yết-sương-na 羯霜那: Skt. Kasana, dịch là Sứ quốc. Nay là Shaar-sabiz (Shahrisabz), cách Samarkand 80km về phía Nam.
Bắc rặng núi Alexandria, bao quát các vùng Ferghāna, Tashkent, Khodjend, thẳng đến sông Zarafshan và lưu vực sông Kaska. Ở đó tuy Thiết Môn hiểm trở nhưng rặng núi liền với Đổ-hóa-la nên hai bên có quan hệ giao thông. Nơi ngài Nghĩa Tịnh gọi là Tốc-lợi, còn phải từ đây mở rộng ra đến phía Tây, hình như đến tận biên giới nước Ba-tư là dừng. Theo ông Bạch Điểu nghiên cứu, tên Tể-lợi (Suli) đại thể gọi đúng là “Túc-đặc”, tức “Sugdak”, hoặc “Sudak”, viết “Suda” là nhầm. Chữ “d” với chữ “l”, theo phép chuyển âm vận chung ở vùng Trung Á lại thành “Sulak” hoặc “Sula”, rồi biến đổi thành “Suli”; đoán định như vậy là không sai.98 Tể-lợi (Tốc-lợi) chính xác là chuyển âm từ chữ “Soghd”, mà ngài Nghĩa Tịnh dùng cách gọi của người “Hồ” là Tốc-lợi để gọi tên nước ấy, cũng là chỉ Túc-đặc nên không nghi ngờ gì nữa. Kinh Túc diệu99 do ngài Bất Không đời Đường dịch, đặc biệt có thể đem ra để chứng minh sự chuẩn xác về phương pháp sử dụng văn Hồ. Trong kinh Túc diệu quyển hạ có ghi: “(Nếu quên không nhớ) chỉ nên hỏi người Hồ và người Ba-tư đều là người năm nước Thiên Trúc”,100 theo ý ông Sylvan Lévi, trong kinh nói “người Hồ” chính là chỉ người Ba-tư và năm nước Thiên Trúc. Lấy danh từ “Thất diệu” (7 sao) trong kinh (Túc diệu) thuộc tiếng Hồ, Ba-tư và Thiên Trúc để làm ví dụ như sau: tiếng Hồ
98 Túc-đặc quốc khảo trang 532. (cht. Tg)
99 Kinh Túc diệu 宿曜經: Tên khác “Văn-thù Sư-lợi bồ-tát cập chư tiên sở thuyết cát hung thời nhật thiện ác túc diệu kinh”, 2 quyển. Túc (tú) diệu còn gọi là Tinh tú (túc) 星宿, phép tính thiên văn Ấn Độ. Trong đó có sự phân biệt 28 sao (nhị thập bát tú - Nakṣatra), 12 cung (thập nhị cung - Rāśi) và 7 sao (thất diệu - Graha, nhật, nguyệt, hoả, thủy, mộc, kim, thổ). Mọi sự việc của cõi trời và cõi người thường phản ánh lẫn nhau, hiện tượng dữ lành hiện nơi tinh tú, và từ sự vận hành của tinh tú mà đoán định vận mệnh con người.
100 Kinh Túc diệu 2, T21n1299_p398b01.
gọi Nhật diệu là “Mật” (Mihr), Nguyệt diệu là “Mạc” (Māh), Hỏa diệu là “Vân hán” (Bar-han) v.v..., bất luận thế nào cũng đều là tiếng Túc-đặc.101 Vậy có thể biết, đương thời gọi chung “Hồ bản” là chỉ kinh điển tiếng Túc-đặc. Nếu xem xét nguyên bản kinh Đại thừa lý thú lục ba-la-mật-đa 7 quyển, do Tam tạng Bát-nhã dịch đầu tiên thì thấy kinh này dùng tiếng Sogdian (Túc-đặc) viết thành, đó là sự thật không sai.
Lại nữa, những kinh Phật bằng tiếng Uighur của dân tộc Thổ-Nhĩ-kỳ đời sau, hình như là từ nguyên bản tiếng Sogdian dịch ra. Theo báo cáo của ông Müller (F. W. K. Müller), kinh Thập nghiệp Phật thí dụ man (Dasakarmabuddha-avadānamālā) trong kinh điển tiếng Uighur chính là từ tiếng Kusana dịch ra tiếng Tukhara (Đổ-hóa-la), rồi từ tiếng Tukhara dịch thành tiếng Turk (Đột-quyết).102 Ông Müller cho “Kuisan” là đối âm của “Kusana” (Quí-sương), nước Quí-sương tức là vùng đất Kiền-đà-la, nhưng sự bao hàm ý nghĩa của nó còn cho biết đất ấy có thể đến tận khe núi của Kabul. Tiền lệ về kinh điển tiếng Uighur là luôn trình bày nguyên ý của nguyên bản, và nêu xuất xứ địa danh của kinh. Trong bài luận văn của ông Müller nói, kinh điển chép bằng ngôn ngữ ấy như bài tựa kinh Di-lặc hạ sinh, vốn từ tiếng Ấn Độ dịch thành tiếng Tukhara, rồi từ tiếng Tukhara dịch thành tiếng Turk, lấy đầu đề là “Nhất thiết chúng sinh giải thoát...” Nhưng xem những mảnh kinh cùng ngôn ngữ trên đó thì kinh vốn từ tiếng Kusana dịch ra tiếng Barcuq. Tiếng Barcuq103
101 Tham khảo bài Ngôn ngữ nước Qui Tư và nguyên do nghiên cứu ngôn ngữ ấy được ghi chép trong Hiện đại Phật giáo số thứ 38, trang 49-50. (cht. Tg)
102 Xem Toxri und Kuisan, S. d. K. P. A. d. W, 1918, XXVII. S. 580-4. (cht. Tg)
103 Hiện nay Barcuq và Yarkand đều là huyện vùng Kashgar, ở Tân Cương.
được lưu hành sau cùng ở đô thị Barkschük của người Đột-quyết, tại địa phương Yarkand (Sa-xa) — Theo thuyết của ông Le Coq, ngôn ngữ sử dụng ở Maralbachi có ý vị của ngôn ngữ Turk, có thể biết được Quí-sương (Kuisan) cũng là một địa danh.
Nhưng theo ông Müller, tên “Quí-sương” chẳng phải là địa danh mà bất quá chỉ là tên một vương triều, hoặc một vương tộc. Ông nói “Quí-sương” nếu là địa danh thì phải thêm chữ “địa 地” (Land), nhưng giải thích của ông là vô lý. Quí-sương cùng với Barcuq giống nhau, phải được xem là địa vực nhất định mới đúng. Vậy từ vấn đề đó chúng ta hãy lần dấu về địa vực Quí-sương? Nước ấy, xem ra chỉ có trong mục Hà quốc, truyện Khương quốc, Đường thư quyển 221, tên nước là Quí-sương-nặc (Kusānika), tương đương với nước Quí-sương. Đất ấy là một phần của nước Khương Cư, nói là đất cũ của thành Phụ-mặc. Tây Vực ký (quyển 1) của ngài Huyền Trang gọi là Quật-sương-nhĩ-ca104 (Kusānika), người A-rập (Arab) cũng gọi như vậy, người Ba-tư gọi là “Quí-sương-nặc” (Kusani), tiếng Iran thời trung cổ gọi là “Quí-sương-nặc-khắc” (Kusanik), bất luận gọi như thế nào, cách viết tuy không đồng âm nhưng đều cùng một địa danh. Theo cách giải thích của ông Istachri, Túc-đặc (Soghd) là vùng đô thị phát triển trong nước, vì Túc-đặc là trung tâm của các thành, và ông Ibn Hanqual cũng nói, Quý-sương-nặc là vùng đất rất phồn thịnh của toàn cõi Túc-đặc, nhân khẩu rất đông, còn có thành lũy kiên cố. Theo truyền thuyết, nước Quý-sương-nặc là địa phương quan trọng của toàn lãnh thổ Túc-đặc,
104 Tây Vực ký 1, T51n2087_p871c13: Nước Quật-sương-nhĩ-ca, thời Đường gọi Hà Quốc 何國 (nước Hà).
điều này đáng tin.105 Ông Watters cho nơi ấy chính là vùng gần Panjshamba, cách 60 dặm Anh về phía Tây bắc Samarkand hiện nay.106 Theo những điều nói ở trước, trong Đường thư gọi đất này là Hà quốc, còn ông Tomaschek khảo định, “Hà” tức là nói lược âm của chữ “Gao” trong kinh A-tỳ-tư-đà (Avesta). Theo luận chứng của ông Bạch Điểu thì nó là đối âm của nước Hiếu Ức107 thấy trong Dậu dương tạp trở quyển 4,108 đất ấy tương đương với nước Quí-sương-nặc.109 Theo truyện Tăng-già trong Tống cao tăng truyện quyển 18110 nói: Tăng-già (Samgha) là người nước Hà, lúc thiếu niên ở bổn quốc xuất gia làm Tăng, về sau thề nguyền du hóa, lúc ba mươi tuổi đi đến Trung Quốc. Thời vua Cao Tông và Trung Tông nhà Đường, ngài nỗ lực giáo hóa được 53 năm.
Xét lại những điều ấy thì nước Quí-sương-nặc là vùng đất phát triển trên cả lãnh thổ Túc-đặc. Nói tóm lại, nó có thể là đất trung tâm của Túc-đặc. Thời nhà Ngụy ở Trung Quốc hay nói đến nước Túc-đặc tức là chỉ cho nước Quí-sương-nặc. Sử gia A-rập cũng gọi tên nước ấy là Soghd.111 Đến thời ngài
105 Marquart: Die Chrono-Logie der Altturkische Inschriften. S. 59-60. (cht. Tg)
106 On Yuan Chwang. pp. 97. (cht. Tg)
107 Trong Dậu dương tạp trở ghi, nước Hiếu Ức 孝億國 là một quốc gia thời xưa thuộc châu Âu.
108 Dậu dương tạp trở 酉陽雜俎: Do Đoàn Thành Thức (803-863) là Tiểu thuyết gia thời Đường biên soạn, tất cả 30 quyển. Sách chép những chuyện kỳ dị, quỷ quái qua các triều đại, gồm cả thần tiên, Phật đạo v.v… Tên tác phẩm có thể Tác giả dựa vào điển cố từ câu trong bài phú của Lương Nguyên đế “Phỏng Dậu Dương chi dật điển 訪酉陽之逸典 (đi tìm những điển chế đã mất ở Dậu Dương)”.
109 Đông dương học báo quyển 14, trang 503-504. (cht. Tg)
110 Tống cao tăng truyện 18, T50n2061_p822a3.
111 Đông dương học báo quyển thứ 14, trang 531-532. (cht. Tg)
Huyền Trang, vùng đất Samarkand đã trở thành vùng đất Phật pháp,112 và từ nước này đã xuất hiện một vị pháp sư truyền đạo nhiệt thành là ngài Tăng-già-na-ma, càng minh chứng Phật giáo ở nơi ấy rất hưng thịnh. Từ đời Đường trở về sau, tín đồ Phật giáo các dân tộc như Chi-na, Turkestan, Đột-quyết đều gọi Quí-sương (Kusani) là nói lược tên nước Quí-sương-nặc, tức chính là Túc-đặc. Nguyên bản kinh tiếng Sogdian phiên dịch ra tiếng Đột-quyết, nguồn gốc ngôn ngữ ấy cũng là Quí-sương ngữ. Do đó, kinh điển ngôn ngữ Uighur đầu tiên đã nêu như kinh Thập nghiệp Phật thí dụ man và “Nhất thiết chúng sinh giải thoát...”, được xác định nguồn gốc là viết bằng tiếng Sogdian, cũng không đến nỗi sai lầm. Những bản kinh tiếng Sogdian ấy là được truyền từ nước Sogdiana. Dựa vào chất giấy và dạng thức những quyển sách phát hiện ở Đôn Hoàng, có thể xác định chúng chính là thư tịch được viết ra tại nước Sogdiana. Thứ đến là tiếng Vu-điền và tiếng Sogdian cùng lưu hành ở phía Nam lòng chảo Tarim, lấy Khotan hiện nay làm trung tâm, đi về phía Đông đến Đôn Hoàng là thuộc ngôn ngữ cổ đại của ngữ hệ Iran. Nhưng từ trước đến nay, ý kiến của các học giả về tính chất và danh xưng của loại ngôn ngữ cổ đại ấy không nhất trí. Ông Sieg và Segling cho loại ngôn ngữ ấy có mối quan hệ rất mật thiết với Iran ngữ ở Pamir.113 Ông Leuman cho rằng nó không có những đặc trưng của Ấn Độ ngữ và Iran ngữ, do đó nhận định nó là một chi phái độc lập của ngữ hệ Aryan,114 gọi nó là Bắc phương Aryan ngữ.115 Ông Meillet
112 Từ Ân truyện quyển 2, phần Táp-mạt-kiền quốc. (cht. Tg)
113 S. d. K. P. A. d. W, 1908, S’ 915 f. (cht. Tg). (Xem thêm cht. 83 trước).
114 Ngữ hệ Aryan (A-lợi-an 阿利安語): Skt. Ārya, hàm ý là thánh nhân, cao quí. Ngữ hệ Aryan, thuộc ngữ hệ Ấn-Âu (Ấn Độ-Iran). Ngôn ngữ của những người nói tiếng (địa phương) Ấn-Âu di trú đến Bắc Ấn Độ.
phản đối cách nói trên, đem ngôn ngữ địa phương đó qui về ngữ hệ Iran đặc thù.116 Ông Pelliot nói nó hình như là tiếng Sogdian nên thuộc về ngữ hệ Iran, nhưng đem nó so sánh cùng một loại ngôn ngữ thì không tương đồng. Từ những đặc trưng ấy truy tìm xác định, rõ ràng là cùng ngữ hệ Iran, cho nên ông gọi nó là Đông phương Iran ngữ.117 Còn ông H. Lüders và Konow thì nhận định nó là thứ ngôn ngữ lấy Iran ngữ làm cơ bản, ảnh hưởng lớn phong cách ngôn ngữ Ấn Độ, do đó xác định nó là ngôn ngữ thông dụng của dân tộc Tắc (Saka) mở đầu xâm nhập Ấn Độ vào thế kỷ thứ II trước kỷ nguyên Tây lịch.118 Ông Staël-Holstein cho là Iran ngữ, ông tra khảo xác định nó cùng với To xyl được ghi chép trong văn thư tiếng Uighur phát hiện ở Trung Á, tương đương với ngôn ngữ Tukhara. Ông nói dân tộc Tukhara (Đổ-hóa-la) tại Trung Á sử dụng loại ngôn ngữ đó.
Lại nữa, ngôn ngữ của các dân tộc ở dưới Turkestan, bên cạnh Vu-điền thời cổ đại chính là Aryan ngữ. Vương triều Quí-sương (Kuṣāṇa) gọi là Đổ-hóa-la, ngẫu nhiên sử dụng từ “Sahanusahi” làm danh xưng cùng với từ “Toxyl” ở trước (cách gọi “Toxyl” trong Phật điển Uighur tức là “Tochasisch” mà các ông Müller, Sieg và Segling đã nói) ý nghĩa giống nhau. Lại nữa, Phược-hát (Balkh) là thuộc về Tukhara, ngôn ngữ thông dụng nơi ấy giống ngôn ngữ triều đình Ba-tư sử dụng; và có thể biết thêm ngôn ngữ Aryan của Turkestan ở vùng gần ngôn ngữ Ba-tư. Cuối cùng, trong kinh
115 ZDMG., LXII, S. 33 f. (cht. Tg)
116 Les Nouvelles Langues indo-européennes trouvées en Asie Centrale. P. 17-8. (cht. Tg)
117 Đồng với luận văn nêu trước (cht. 116), trang 6. (cht. Tg)
118 S. d. K. P. A. d. W., 1913, 853; Gotting Gel. Anz., 1912. S. 551 f. (cht. Tg)
Kim cương năng đoạn có chữ “Urmayzdam”, đã dùng ngôn ngữ ấy dịch thành, giống với chữ “Auramazda” của Ba-tư ngữ cổ đại và chữ “Ormazd” của Ba-tư ngữ hiện đại, đều cùng một chữ. Xem nguyên bản in của ông Max Müller đang lưu hành, chữ thần “Sūrya” (thần mặt trời) trong văn tự ấy rõ ràng cùng với chữ thần “Aditya” là một chữ. Do đó chúng ta biết được, vị thần ngôn ngữ ấy tương đương với vị thần mà địa phương Ấn Độ gọi là “Aditya”, cũng chính là vị thần của Hỏa yêu giáo;119 huống nữa ở trên tiền tệ của vương triều Quí-sương thường in hình tượng các vị thần trong kinh A-tỳ-tư-đà, nhân đó có thể đoán là ngôn ngữ Tukhara.120 Ngoài ra, ông Hoernle cho rằng, trong ngôn ngữ ấy còn nhiều yếu tố ngoại lai chẳng rõ ràng, nhưng phần lớn lại dùng Iran ngữ giải thích, nên đoán định nó là Iran ngữ. Song, yếu tố ngoại lai sở dĩ có nguyên cớ tồn tại là vì vay mượn sử dụng ngôn ngữ Iran, nhưng hình thức ngôn ngữ Iran bất đồng với ngôn ngữ giao tiếp của dân tộc. Nếu không phải như thế thì chính Iran ngữ chịu ảnh hưởng ngôn ngữ đặc biệt mà biến đổi hình thức cố hữu của nó. Nhưng bất luận thế nào, chúng ta cũng phải lấy tình hình lúc bấy giờ tìm hiểu xác định lại, và cách giải thích duy nhất là theo ông Hoernle xác định, Iran ngữ đã ảnh hưởng ngôn ngữ ngoại lai.121 Ông nói thứ ngôn ngữ ấy là ngôn ngữ Vu-điền.122 Trên thực tế thì nó lấy Vu-điền làm trung tâm để lưu hành thông suốt đến một dải phía Nam lòng chảo Tarim, ở đó người ta phát hiện thấy văn thư tiếng Sogdian cùng văn tự ấy đồng hành trên con đường xuyên suốt
119 Hoả yêu giáo: Xem cht. 24 trước.
120 Eulletin de l’Academie Imperiale des Sciences de St. Petesbourg, 1908, pp.1367ff; Ibidem, 1909 pp. 479 ff., (cht. Tg)
121 Manuscript Remains of B. L., pp. 219-20. (cht. Tg)
122 Vấn đề luận bàn đồng với sách trên (cht. 121), trang 12. (cht. Tg)
đó, sự thật như vậy có thể chứng minh được.123 Đối với vấn đề nghiên cứu thực tế về ngôn ngữ này, tại khu vực Đôn Hoàng, người ta phát hiện thấy bảng mẫu tự ngôn ngữ ấy nên có thể xác định chắc chắn.124 Nếu thứ ngôn ngữ ấy đã lấy Vu-điền làm trung tâm và lưu hành đến phía Nam lòng chảo Tarim, thì gọi nó là ngôn ngữ Vu-điền (tiếng Khotan cổ đại) là thích đáng nhất.
Tóm lại, ngoại trừ ông Leuman, còn một số học giả khác đều có kiến giải nhất trí là ngôn ngữ Vu-điền thuộc ngữ hệ Iran. Ông Pelliot phát hiện kinh Phật viết bằng ngôn ngữ đó và ngôn ngữ Sogdian tại động Thiên Phật ở Đôn Hoàng, như kinh Vô lượng thọ (Aparimitayuh-Sūtra), kinh Kim cương năng đoạn (Vijracchedika-Sūtra), kinh Kim quang minh (Suvarṇapabhasa-Sūtra) và 150 bài tụng kinh Bát-nhã ba-la-mật-đa (Adhyardhasatika-Prajñāparamita-Sūtra). Trong số kinh ông tìm được đã khảo định rồi, số còn lại có nhiều kinh điển thuộc về Đại thừa, chưa xác định tên các kinh ấy.125
Vậy kinh điển Phật giáo thuộc ngôn ngữ này được hình thành như thế nào? Đối với vấn đề đó, phần trên đã giới thiệu qua. Nói khái quát lại thì có hai lời giải đáp:
Một phái cho rằng, ngôn ngữ trong kinh Phật sử dụng là ngôn ngữ của dân tộc Tắc (Saka); một phái phản đối giải pháp ấy, cho nó là ngôn ngữ của dân tộc Quí-sương. Hai thuyết ấy đều đặt trên cơ sở sự thật lịch sử về giai đoạn hai dân tộc đó xâm nhập Ấn Độ, sáp nhập chủ quyền nơi ấy.
123 J. R. A. S., 1910, PP.837; 1911, pp. 202ff., 447ff., (cht. Tg)
124 Serindia. 11. pp. 915. (cht. Tg)
125 Hoernle: Manuscript Remains of B. L., pp. 214. 289, 387; Stein: Serindia. II. pp. 914; C. Eliot. Hinduism and Buddhism III. pp. 191. (cht. Tg)
Trước khi xâm nhập Ấn Độ, hai dân tộc đó đã ảnh hưởng văn hóa Iran rất nhiều. Tại Punjab Ấn Độ, phát hiện thấy trên tiền tệ họ sử dụng có khắc tên vua, hiệu xưng và địa danh, phần nhiều là tiếng Iran, từ điểm ấy có thể biết họ đã ảnh hưởng văn hóa Iran. Sau khi xâm nhập Ấn Độ, ngôn ngữ của họ từ Iran ngữ chuyển hóa thành Ấn Độ ngữ. Chúng ta có thể tưởng tượng ngữ phong của tiếng Vu-điền cổ đại là cấu trúc giống với dạng ấy.
Lại khảo sát chuyện bộ tộc Tắc tín ngưỡng Phật giáo thì biết họ được Phật giáo cảm hoá, và thấm nhuần tư tưởng Phật giáo, nhưng trong lịch sử lại không ghi chép gì. Tuy nhiên, ở trên bài minh của tờ điệp bằng đồng phát hiện tại Taxila, thấy có đúc tên thái thú Patika, ghi là ngày mùng 5 tháng Panemos,126 năm 78, đời Đại vương Moga, làm lễ tế xá-lợi Phật để cầu phước cho người mất. Đại vương Moga tức là vua Moa in trên tiền tệ. Khoảng năm 120 trước kỷ nguyên Tây lịch, vua Moga xâm nhập Punjab Ấn Độ, kiến lập vương triều Indo-Saka (Ấn Độ-Tắc-già). Vua Moga và vua Maues là một người, nhiều học giả công nhận như thế. Vua Moga là vua dân tộc Tắc-già, cận thần của ông là Patika, hai người có thể cùng tộc, do đó có thể xác định một phần bộ tộc Tắc sớm trở thành tín đồ Phật giáo là không có gì sai.
Như đã nói trên, tộc Tắc chịu sự cảm hóa của Phật giáo chẳng phải là sự ức đoán vô căn cứ. Nếu chúng ta xét theo ngôn ngữ của dân tộc ấy sử dụng thì quả thật là ngôn ngữ Vu-điền. Nhưng không có chứng cứ để xác minh họ ở thời đại nào, vì mục đích gì đến Vu-điền, cho nên chúng ta
126 Panemos (Panamos), tháng 6. Đó là tên tháng trong lịch âm dương của người Macedonian sử dụng thời xưa, khoảng kỷ niên thứ I trước Tây lịch. Panemos, nghĩa là tháng của ngày dài.
không thể phán định được. Như vậy có thể nói, ngôn ngữ Vu-điền giống ngôn ngữ Túc-đặc, một loại ngôn ngữ mà dân tộc nơi khác cũng sử dụng, nguồn gốc ngôn ngữ ấy là từ hình thức di nhập, rồi từ đó phát triển thành ngôn ngữ đặc thù. Chứng minh như thế có vẻ tương đối thỏa đáng hơn. Trong mục “Vu-điền quốc”, Tây Vực ký quyển 12,127 ngài Huyền Trang ghi:
“Văn tự hiến chương tuân theo Ấn Độ, nhỏ thì sửa đổi lễ pháp, lớn thì noi theo cải cách của nước này.”
Thể chữ của kinh điển ngôn ngữ Vu-điền là biến hình của thể chữ thời đại vương triều Cấp-đa (Gupta) Ấn Độ, sự thật đó đều được các học giả nhất trí thừa nhận.128 Trong Tây Vực ký lại nói nước này “tiếng nói khác các nước”, rõ ràng là đem tính chất đặc dị của ngôn ngữ Vu-điền diễn đạt ra. Căn cứ những điều ghi chép đó cho thấy, nước Vu-điền không giống nước khác, trong đó cấu trúc ngôn ngữ đặc dị là sự thật rõ ràng. Cho nên tiếng Vu-điền hiện nay trở thành vấn đề không ngoài sự phán định là thứ ngôn ngữ đặc thù.
Nguyên dân tộc ở Vu-điền có thể là người Ấn Độ di trú từ vùng Taxila của Ấn Độ, thời vua Asoka trở về sau, bằng chứng là những truyền thuyết kiến quốc của Vu-điền.129 Đồng thời căn cứ vào sự giao thông giữa hai vùng đất, và khảo sát mối quan hệ trên phương diện văn hóa, chính trị của họ thì có thể thừa nhận cách lập luận ấy. Nhưng người Túc-đặc lấy thương nghiệp làm mục đích, từ trước sau kỷ nguyên Tây lịch, họ đã di trú đến phương Nam của Đông Turkestan, sau lại lấy việc truyền bá Phật giáo làm mục đích mà đến
127 Tây Vực ký 12, T51n2087_p943a20.
128 Hoernle: Manuscript Remains of B. L, Intro., pp. XIII. (cht. Tg)
129 Tây Vực ký quyển 12 và Từ Ân truyện quyển 5. (cht. Tg)
Trung Quốc, nhân đó ngôn ngữ của họ, từ một dải biên giới phía Nam lòng chảo Tarim thẳng đến Đôn Hoàng, trở thành loại ngôn ngữ thông dụng. Điểm ấy đã nói tỉ mỉ rõ ràng ở phần trước. Đương nhiên người Túc-đặc từ trước vì buôn bán mà dời đến phương Đông, cho nên lãnh thổ nước Túc-đặc mới dễ tiếp cận, và người nước An Tức (Parthia) thuộc ngữ hệ Iran khi trưởng thành cũng đi buôn bán như người Túc-đặc, do đó không khó khăn trong việc tìm hiểu xác định họ và người Túc-đặc cùng đến phương Đông kinh doanh thương nghiệp.
Trung Quốc gọi nước “An Tức” chính là vương quốc Parthia, quật khởi ở Bắc bộ Ba-tư năm 250 trước kỷ nguyên Tây lịch. Vương triều đầu tiên kiến thiết vương quốc chính là Arshaka, vì danh từ ấy mà phiên âm là “An Tức”. Người Trung Quốc biết đến thời kỳ của vương quốc ấy là năm 126 trước kỷ nguyên Tây lịch. Lúc đó vương quốc họ đất đai bao la, khuếch trương thế lực đến tận phương Nam, về sau chiếm cả đại bộ phận bình nguyên Đại Hạ, lại xác lập chủ quyền ở Punjab, trở thành một quốc gia lớn. Đến đầu thế kỷ thứ I Tây lịch, tại đất Kabul lại thiết lập chức quan Thái thú đến giám sát lãnh thổ đó. Nước An Tức không những có thế lực lớn về chính trị mà ở mục nước An tức trong truyện Đại Uyển sách Sử ký còn ghi:
“Nước ấy có đến vài trăm thành lớn nhỏ, chiều dài lãnh thổ vài ngàn dặm, là một nước rất lớn; tới sông Qui (Ô-hử Thủy - Amu Darya) có chợ, dân buôn bán, đi bằng xe và thuyền, đến những nước lân cận, hoặc đi xa vài ngàn dặm.”
Như vậy, người An Tức vì việc kinh doanh thương nghiệp mà đi đến các nước phương xa. Kỳ thật nước này đã
trở thành đất trung tâm của mậu dịch Đông-Tây. Từ trước, vải vóc, tơ lụa của Trung Quốc đi qua Ấn Độ và những vùng cách xa nước này rồi mới du nhập vào châu Âu, được người Tây La-mã đặc biệt trân quí, thậm chí họ có thể dùng vàng ngang trọng lượng (với vật trao đổi) để làm giá trị mậu dịch. La-mã muốn thông hiếu với sứ của Trung Quốc, nhưng nước An Tức ở phía Đông biên giới La-mã muốn độc quyền buôn bán hàng hóa ở phương Đông nên họ thường ngăn chặn sứ giả La-mã, khiến cho sứ giả không đến được Đông thổ, đồng thời họ cũng cản trở sứ giả Trung Quốc, khiến sứ giả không đến được Tây thổ. Tình hình ấy, có thể xét theo sự thật lịch sử về sứ giả Cam Anh phụng lệnh của Ban Siêu130 đến Đại Tần (Syria)131 năm Vĩnh Nguyên thứ chín (năm 97 Tl.). Muốn khuếch trương thế lực nhà Hán về phương Tây, Ban Siêu sai Cam Anh đi sứ Đại Tần, nhưng ông mới đến nhánh rẽ ở biên giới phía Tây An Tức, tại vịnh Ba-tư thì thuyền phu của An Tức gặp ông nói khoác những khó khăn về hàng hải, khiến ông đi giữa đường đành quay về, không thể đạt mục đích. Từ việc này có thể biết vì sao người An Tức độc chiếm quyền lợi mậu dịch. Về việc họ thu thập những thương phẩm càng chứng minh họ tiến về phía cực Đông sớm hơn người Túc-đặc. Và người An Tức truyền bá Phật giáo đến Trung Quốc cũng sớm hơn người Túc-đặc. Trong Kinh lục và Tăng truyện Trung Quốc đều có thể chứng minh được điểm ấy.
130 Ban Siêu 班超 (32-102), tự Trọng Thăng, người huyện An Lăng quận Phò Phong (nay là huyện Hàm Dương tỉnh Thiểm Tây), thời Đông Hán. Thời Minh Đế, ông làm Lan đài lệnh sử… thời Chương Đế, đánh Hung Nô, bình định Sa-xa, Qui Tư v.v… , hoạt động tại Tây Vực hơn 30 năm, bình định trên 50 nước…
131 Đại Tần 大秦 (Syria), Đế quốc La-mã. Truyện Tây Vực trong Hậu Hán thư nói: “Đại Tần gọi là Lê-kiện (Lê-hiên), do ở phía Tây biển nên cũng gọi nước Tây Hải”.
Trong Kinh lục, không có một người nào trực tiếp từ nước Khương Cư (bao hàm cả Túc-đặc) đến Trung Quốc truyền bá, phiên dịch kinh điển, chỉ có một vị Sa-môn là Khương Thần132 là người Túc-đặc, ở Lạc Dương năm 187 Tây lịch, truyền dịch kinh “Vấn địa ngục sự”, thật lạ lùng đáng kinh ngạc. Bắt đầu từ năm 194 Tây lịch, Khương Mạnh Tường với 5 năm công phu, ở tại Lạc Dương dịch thuật truyền bá 9 quyển, 6 bộ kinh điển Tiểu thừa. Năm 247 Tây lịch, Khương Tăng Hội đến Kiến Nghiệp nhận sự qui y của Ngô Tôn Quyền, phiên dịch ra 20 quyển, 7 bộ kinh điển Đại thừa, làm cơ sở kiến thiết Phật giáo ban đầu tại miền Nam Trung Quốc. Lại năm 252 Tây lịch, tại Lạc Dương, ngài Khương Tăng Khải dịch kinh Vô lượng thọ, kinh Úc-già trưởng giả sở vấn, Tứ phần tạp yết-ma v.v... Tất cả đều không phải trực tiếp từ nước Khương Cư đến Trung Quốc mà đều là người Khương Cư theo tổ tiên, hoặc theo cha mẹ đến kinh doanh buôn bán nên di trú đến Trung Quốc, kỳ thật có thể nói họ chỉ là con cháu của người Túc-đặc. Khảo xét những bằng chứng văn hiến tìm được, xác định vị Sa-môn đầu tiên là Khương Thần, người Túc-đặc đến Trung Quốc truyền đạo, so với niên đại Sa-môn nước An Tức đến Trung Quốc thì muộn hơn. Thời gian mà Sa-môn An Tức đến Trung Quốc với sự nghiệp phiên dịch, truyền bá Phật điển sớm hơn Sa-môn Khương Cư là 40 năm. Minh chứng là ngài An Thế Cao, Sa-môn nước An Tức, bậc thầy đầu tiên tại Trung Quốc dịch kinh rất có ý vị. Ngài đến Lạc Dương năm 148 Tây lịch, dịch ra nhiều kinh điển Đại thừa như bộ Bảo tích và kinh điển Tiểu thừa như bộ A-hàm. Thứ đến, là năm 181 Tây lịch, Sa-
132 Khương Thần 康臣: Hoặc gọi Khương Cự 康巨 (Lịch đại tam bảo ký 3, 4, T49n2034, p34, p54a11; Khai Nguyên thích giáo lục 1, T55n2154, p483a05).
môn Nghiêm Phật Điều đến Lạc Dương, ngài dịch kinh với ngài An Huyền, kinh Phật được dịch cùng loại, nhưng so với trước thì ít hơn. Lại vào năm 254 Tây lịch, ngài Đàm-vô-đế đến Lạc Dương, phiên dịch Đàm-vô-đức yết-ma. Những vị trên đều là người nước An Tức.
Theo sự khảo sát trên thì người nước An Tức đến Trung Quốc truyền giáo sớm hơn người nước Túc-đặc và người An Tức đến vùng cực Đông kinh doanh thương nghiệp cũng sớm hơn người Túc-đặc, có thể dựa vào cảnh ngộ của họ mà khảo cứu để biết được thời gian người An Tức đến trước người Túc-đặc khoảng trước sau kỷ nguyên Tây lịch, cũng đoán biết người An Tức và người Túc-đặc cùng đến biên giới phía Nam lòng chảo Tarim. Họ lấy biên giới phía Nam làm con đường trọng yếu giao thông, do đó mà chọn đất Vu-điền làm chỗ lưu lại buôn bán và thích nghi cho việc sinh hoạt. Ở đó họ tiếp cận với dân tộc Ấn Độ đã ở từ trước, rồi trở thành “thông gia” với nhau, trải qua năm tháng khá lâu thì hình thành loại ngôn ngữ mới; ông H. Lüders và Konow nói đó là Iran ngữ, chịu ảnh hưởng Ấn Độ ngữ, cũng có thể gọi là Ấn Độ-Iran ngữ, chính là thứ ngôn ngữ đặc thù hình thành tại vùng đất Vu-điền.
Trong huyết thống của người Khotan hiện nay, là mang hai dòng máu của người Ấn Độ và người Iran. Ông Joyce (T. A. Joyce) căn cứ vào tư liệu nghiên cứu do ông Stein cung cấp mà nhận định những kết luận ấy là rõ ràng. Trong Tạp chí Nhân loại học viện in phát hành năm 1903, ông công bố nghiên cứu của mình, là nhân dân Khotan lấy huyết thống dân tộc Ấn Độ, Iran làm cơ sở, rồi hỗn nhập mấy phần huyết thống của dân tộc Đột-quyết (Turk).133 Theo kết quả nghiên
133 Ancient Khotan. pp. 149-50. (cht. Tg)
cứu thì biết nhân dân Vu-điền là giống người hỗn hợp giữa người Ấn Độ và người Iran, và thấy được nguồn gốc ngôn ngữ của họ. Người Khotan hiện nay là có mấy phần huyết thống của người Đột-quyết, hoặc là sự hỗn hợp huyết thống của dân tộc Đại Nguyệt Thị cũng chưa biết được. Vấn đề dân tộc Đại Nguyệt Thị thuộc về giống người nào, giới học giả chưa kết luận, nhưng căn cứ trong Chính sử Trung Quốc ghi chép, họ thuộc giống người Đột-quyết. Thời vua Kaniṣka, vùng Vu-điền ở trong phạm vi thế lực của nước Đại Nguyệt Thị, do vậy mà dân tộc Nguyệt Thị xâm nhập đến cư trú cố định nên huyết thống của họ ít nhiều có hòa nhập với người Vu-điền, đó là điều chắc chắn. Sa-môn của họ và Sa-môn nước An Tức cùng hướng về phía cực Đông, từ đó diễn ra những sinh hoạt tôn giáo là những sự thật rất rõ rệt. Một số kinh Phật tiếng Phạn khai quật ở địa phương Khotan, trong đó có nhiều bản giống với kinh điển mà Đại Nguyệt Thị truyền vào Trung Quốc, như kinh Bát-chu tam-muội của Chi-lâu-ca-sấm dịch giống kinh Bhadrapāla-sūtra,134 kinh Phật thuyết vô lượng môn vi mật trì của Chi-khiêm dịch giống kinh Anantamukha-dharani;135 kinh A-sai-mạt Bồ-tát của
134 Bhadrapāla-sūtra: Dịch là Bạt-pha bồ-tát kinh 拔陂菩薩經, khuyết tên người dịch, 1 quyển, T13n419_p920.
135 Theo Nhị thập nhị chủng Đại tạng kinh thông kiểm, tr. 602 ghi: Kinh Phật thuyết vô lượng môn vi mật trì tương đương kinh Anantamukha-sādhaka-dhāraṇī, dịch nghĩa tương đồng một số kinh – Nhất hướng xuất sanh Bồ-tát kinh, 1 quyển (Tuỳ – Xà-na-quật-đa dịch); Vô lượng môn phá ma đà-la-ni kinh, 1 quyển (Lưu Tống – Công Đức Trực v.v… dịch); Xá-lợi-phất đà-la-ni kinh, 1 quyển (Lương – Tăng-già-bà-la dịch); Xuất sanh vô lượng môn trì kinh, 1 quyển (Đông Tấn – Phật-đà-bạt-đà-la dịch); Xuất sanh vô biên môn đà-la-ni kinh, 1 quyển (Đường – Trí Nghiêm dịch); A-nan-đà-mục-khư-ni ha-li-đà-lân-ni kinh, 1 quyển (Bắc Ngụy – Phật-đà-phiến-đa dịch); A-nan-đà-mục-khư-ni ha-li-đà kinh, 1 quyển (Lưu Tống – Cầu-na-bạt-đà-la dịch).
ngài Pháp Hộ dịch giống kinh Aksayamati Sutra(?);136 những kinh ấy dường như từ nước Đại Nguyệt Thị truyền đến nước Vu-điền.137
Lại có những văn thư Kharosthi được ông Stein phát hiện tại nền cũ thành Ni-nhưỡng, tức là Niya hiện nay, phần nhiều nói về những sự kiện liên quan đến phương diện thực tế sinh hoạt và tổ chức xã hội ở Khotan. Xét thể chữ đó có thể thấy nó là trung tâm văn hóa lịch sử trong khoảng vài thế kỷ trước sau kỷ nguyên Tây lịch. Lúc bấy giờ thứ văn tự đó đã trở thành thứ văn tự đặc hữu ở Kiền-đà-la và Taxila trong lãnh thổ Đại Nguyệt Thị.138 Có thể thấy thể chữ Kharosthi đại khái chính là thể chữ từ Đại Nguyệt Thị truyền vào Vu-điền.
Từ thời kỳ đầu thế kỷ thứ V Tây lịch, nước Vu-điền trở lại thành nước thuần Đại thừa giáo, điều ấy không chỉ phát hiện thấy trong truyện ngài Pháp Hiển (Pháp Hiển truyện) mà trong “Ấn Độ lữ hành ký” của người Trung Quốc cũng có ghi lại. Những kinh điển Phạn văn khai quật tại địa phương ấy, ngoại trừ kinh Pháp cú bằng Phạn văn ra, còn lại gần như là kinh điển Đại thừa, từ điểm ấy xác định, đương thời Vu-điền là một nước Đại thừa giáo. Nhưng đầu tiên người Vu-điền thọ nhận Tiểu thừa giáo, rồi vì sao họ lại trở thành tín đồ thuần thành Đại thừa giáo?
Chúng ta có thể nói, không luận là người An Tức, hay Túc-đặc, thường những dân tộc thuộc về ngữ hệ Iran thì từ khi sinh ra thuở còn tấm bé cho đến lớn khôn đều thấm nhuần
136 Theo Đại tạng kinh thông kiểm, tr. 601: Kinh “A-sai-mạt Bồ-tát” tương đồng với kinh “Vô Tận Ý Bồ-tát ‘Skt. Akṣayamati-nirdeśa-sūtra’” (Vô Tận Ý Bồ-tát phẩm) (21), 6 quyển, tr. 184 (Lưu Tống – Trí Nghiêm và Bảo Vân dịch), trong Đại phương đẳng đại tập kinh, T13n397.
137 Hoernle: Manuscript Remains of B.L., pp. 86-97. (cht. Tg)
138 Ancient Khotan. pp. 163. (cht. Tg)
tín ngưỡng đặc thù và thích thú với giáo lý Đại thừa; dựa vào những sự thật ấy có thể biết những kinh điển họ truyền vào Trung Quốc hơn phân nửa là kinh điển Đại thừa. Như vậy, chúng ta xác định được họ có đủ đặc tính thích ứng Đại thừa giáo. Do giống người Iran vốn đủ đặc tính ấy nên trở thành vai trò chủ yếu trong dân tộc nước Vu-điền, họ làm cho Đại thừa giáo hưng thịnh mãi về sau, như đưa kinh điển Đại thừa thịnh hành du nhập vào nước Ma-yết-đà (Magadha) ở Ấn Độ, Đại Nguyệt Thị, An Tức, đồng thời phiên dịch chúng. Lúc phiên dịch hoặc biên chép (bút tả), họ đều thêm ý nghĩa, hoặc câu văn vào nguyên điển, rồi tiến đến cả việc sáng tác kinh điển Đại thừa. Sự tình kinh điển Đại thừa ở Vu-điền được tăng thêm văn cú, hoặc tự sáng tác chẳng phải là điều ức đoán. Nếu chúng ta trình bày có luận cứ xác thật, thì một khi chạm đến vấn đề này cần hao phí nhiều bài viết, hiện tại xin được tỉnh lược, hẹn lúc khác khi có cơ duyên chúng tôi sẽ tường thuật lại.
Theo những điều luận thuật ở trước, một dải những vùng đất biên giới phía Nam lòng chảo Tarim, khoảng trước sau kỷ nguyên Tây lịch đến thế kỷ thứ VII, trên mặt tôn giáo và ngôn ngữ có thể nói đều bị người Iran chinh phục. Ngoài ra còn phát hiện thấy nhiều kinh điển Đại thừa thuộc ngữ hệ Iran và có chứng cứ xác thực về những người thuộc dân tộc ngữ hệ Iran đến Trung Quốc truyền bá Phật giáo. Dựa vào sự việc đó, ông Pelliot giải thích thêm về số kinh Phật tồn tại ở Trung Quốc, trong đó chắc chắn có những danh từ Phật giáo là những thuật ngữ dịch âm cổ đại, từ ngôn ngữ Iran làm môi giới chuyển dịch qua. Những thuật ngữ trong giáo nghĩa Phật giáo Đại thừa Trung Quốc cũng dễ hình dung có bao hàm tư tưởng Iran trong đó. Do thế, ông Pelliot là người đầu tiên đề xướng
dẫn đường,139 ông Sylvan Lévi tiếp tục chủ trương theo.140 Ông C. Eliot lại luận bàn rõ hơn,141 nói rằng tư tưởng về đức Phật A-di-đà và cõi Tây phương Tịnh độ của Ngài, nguồn gốc ấy phát xuất từ Iran; không chỉ phát hiện thấy kinh Vô lượng thọ chép bằng tiếng Iran mà ngay cả hai vị Cao tăng An Thế Cao và Khương Tăng Khải thuộc dân tộc ngữ hệ Iran, mỗi người đều mang theo kinh Vô lượng thọ đến Trung Quốc phiên dịch truyền bá. Phật A-di-đà (Amitabha-Buddha) bao hàm ý nghĩa “Vô lượng quang”, ý nghĩa Tây phương Tịnh độ của Ngài và tư tưởng về nguyên nhân được vãng sinh Tịnh độ như cầu nguyện, xưng danh, thiện căn v.v..., theo sự khảo sát kinh A-tỳ-tư-đà (Avesta) của Ba-tư thì có sự biểu hiện giống nhau. Chúng ta không thể nói đây là sự vọng kiến gán ghép gượng gạo rồi cười cho qua chuyện. Người phiên dịch truyền bá kinh Vô lượng thọ ra văn tự Trung Quốc không chỉ là hai vị Cao tăng dân tộc Iran mà mười vị Tăng Phật giáo Nguyệt Thị, Ấn Độ, Qui-tư, Trung Quốc v.v... cũng có bản dịch khác về kinh ấy. Có thể thấy kinh Quán vô lượng thọ và kinh A-di-đà là những kinh điển quan trọng trong Tây phương Tịnh độ giáo, cho nên những tín đồ Phật giáo thuộc dân tộc ngữ hệ Iran luôn phiên dịch truyền bá ra. Kinh Vô lượng thọ ngoài bản Hán dịch, còn có trong kinh điển tiếng Vu-điền, cả bản dịch tiếng Tây Tạng, và bản dịch tiếng Phạn hiện nay đều còn.
Lại nữa, như tư tưởng trung tâm trong kinh Vô lượng thọ là nói về giáo lý, hạnh nguyện của đức Phật A-di-đà, còn trong tư tưởng tôn giáo của Iran cổ đại thì tuyệt đối không có.
139 Influences iraniennes en Asie Centrale. pp. II. (cht. Tg)
140 Bài “Nhân văn Đông Á và văn minh Phật giáo”, đăng trong “Long đại luận tòng” số 250, trang 819. (cht. Tg)
141 C. Eliot: Hinduism and Buddhism III. pp. 219-20. (cht. Tg)
Ở điểm trên có thể thấy, Phật giáo nguyên thủy lấy tinh thần từ bi cứu độ chúng sinh của đức Phật làm trung tâm, và trong giáo nghĩa Bản sinh đàm (Jataka)142 đều có ghi lại, Bồ-tát triệt để thực hành hạnh nguyện lợi tha như thế. Tư tưởng đó có quan hệ với tư tưởng bản nguyện của đức Phật A-súc, là quá trình tư tưởng thành lập phát triển tự nhiên. Vì vậy, có thể tìm hiểu xác định quan niệm trung tâm của kinh Vô lượng thọ là phát triển trong “bầu khí quyển” tôn giáo Ấn Độ. Nhưng có thể nói, chính những biểu hiện cụ thể về tư tưởng bản nguyện của kinh là chịu ảnh hưởng văn tự, tôn giáo của kinh A-tỳ-tư-đà. Chúng ta phải thừa nhận điều đó là một sự thật, không cần tranh biện.
Bây giờ, bàn luận đến những kinh điển Phật giáo bằng ngôn ngữ Ấn-Âu, phát hiện thấy ở Đông Turkestan, ở Turfan, Kucha, tại biên giới phía Bắc lòng chảo Tarim. Theo quan điểm đầu tiên của các ông Müller, Sieg và Segling thì ngôn ngữ ấy là của dân tộc Đổ-hóa-lợi (Tochari) thuộc tộc người Ấn Độ-Nguyệt Chi (Indo-Sythia), người Trung Quốc gọi là dân tộc Đại Nguyệt Thị. Ngôn ngữ họ sử dụng là ngôn ngữ Đổ-hóa-la (Tokhari).143 Ý kiến của ông Leuman, gọi nó là ngôn ngữ Aryan Bắc phương, thuộc phía Nam.144 Còn kiến giải của ông H. Lüders thì nói là ngôn ngữ (tộc) Tắc (Saka).145 Bất luận là thế nào, những quan điểm về ngôn ngữ ấy, đứng trên trên phương diện sử học và
142 Bản sinh đàm 本生譚: Skt=Pāli. Jātaka, còn gọi là Bản sinh kinh 本生經; một trong 9 bộ kinh (hoặc một trong 12 bộ kinh). Kinh này ghi chép tường thuật về sự tích đức Phật Thích-ca trong các kiếp quá khứ đã sinh làm nhiều loại thân hình, nhiều thân phận khác nhau tu tập, hành đạo Bồ-tát.
143 S. d. K. P. A. d. W., 1907. S. 960; 1908, S. 916. (cht. Tg)
144 Zur Nordarischen Sprache und Literatur. 1912, S. 29. (cht. Tg)
145 S. d. K. A. d. W., 1913. S. 406 f., (cht. Tg)
ngôn ngữ học thì căn cứ thiếu cơ sở, không được giới học giả thừa nhận. Ông Holstein là học giả đầu tiên phản đối thuyết cho thứ ngôn ngữ ấy là ngôn ngữ Ấn Độ-Nguyệt Chi.146 Học giả tiếp theo phản bác thuyết cho thứ ngôn ngữ ấy là ngôn ngữ Ấn Độ-Iran chính là ông Meillet, ông cực lực chủ trương nó là loại ngôn ngữ gần với ngôn ngữ châu Âu.147 Còn học giả duy trì thuyết này và đưa tới luận chứng chính xác là ông Sylvan Lévi. Ông xác định bằng cách, trình bày điểm tương đồng giữa ngôn ngữ ấy và ngôn ngữ châu Âu. Loại ngôn ngữ Ấn-Âu có thể chứng minh là thuộc ngôn ngữ Italo-Celtique, ông lại nhận định nước Qui-tư ở trước kỷ nguyên Tây lịch bị người Ấn-Âu chiếm cứ, lúc đó ngôn ngữ của họ gọi là Kucha ngữ (Khố-xa, Koutchén).148 Thuyết cho thứ ngôn ngữ ấy thuộc về ngữ hệ Ấn-Âu, nếu thừa nhận theo luận chứng của nhà ngôn ngữ học Lévi, thì không một chút hoài nghi gì. Ngôn ngữ ấy giống với ngôn ngữ Vu-điền và Túc-đặc, thông hành ở biên giới phía Nam lòng chảo Tarim, và thông dụng ở biên giới phía Bắc. Dựa theo những mẩu chứng khoán dùng danh hiệu của vua, mà ông Pelliot phát hiện thấy ở vùng gần Kucha có thể chứng minh được điểm ấy. Những chứng khoán thông hành đó làm bằng thẻ gỗ, mặt trong viết chữ, hợp làm hai lá, ấn ký, niêm phong chắc chắn, văn tự viết trên chứng khoán là loại ngôn ngữ ấy.149 Lại nữa, trong giáo đoàn nước Qui-tư, họ luôn sử dụng ngôn ngữ Ấn-Âu làm ngôn ngữ thông thường. Đó là do ông Lévi dựa theo những mảnh rời bản luật viết bằng
146 Bul. de 1, Acad. Imp. des S. de St. P., 1909, pp. 479f. (cht. Tg)
147 Les Nouvelles langues Indo-Européennes trouvees en Asie Centrale, PP. 5. 17. 18. (cht. Tg)
148 J. A., 1913, II. p. 311., J. R. A. S., 1914, pp. 258-9. (cht. Tg)
149 Hiện đại Phật giáo số thứ 37, trang 15. (cht. Tg)
ngôn ngữ ấy, so sánh với bản Phạn tương đương mà đoán định đưa đến kết luận.150
Như vậy xem lại, bất luận là tính chất của ngôn ngữ ấy như thế nào, nhìn chung thì nó lấy địa phương Kucha làm trung tâm, trở thành ngôn ngữ thông dụng cho cả Tăng và tục, nên ông Lévi gọi nó là ngôn ngữ Kucha thì chưa hẳn là không đúng. Tuy nhiên, một mình ông gọi nó là Kucha ngữ thì cần phải dè dặt, bởi vì khi nghiên cứu ngôn ngữ Kucha hỗn hợp hiện nay, một số học giả còn lo ngại chưa quyết định.151 Nếu gọi nó là Khotan ngữ cũng phải đắn đo như thế. Cho nên dùng Hán tự viết ra ngôn ngữ Qui-tư và Vu-điền để biểu thị thứ ngôn ngữ ấy lại càng không thể không liên tưởng đến ngôn ngữ hỗn hợp của các địa phương hiện nay. Vả lại, dùng chữ La-mã viết âm chữ Hán như vậy là không rõ ràng. Nghĩ rằng, thà gọi nó một cách rõ ràng là ngôn ngữ Kucha cổ đại và ngôn ngữ Khotan cổ đại so ra thích đáng hơn.
Kinh điển Phật giáo được viết bằng ngôn ngữ Qui-tư tức là ngôn ngữ Kucha cổ đại, đa phần chủ yếu thuộc về Tiểu thừa Hữu bộ. Những quyển kinh, luận Tiểu thừa còn lại và những mảnh rời về luật thuộc Hữu bộ được phát hiện thấy hiện nay đều cùng loại với nhiều Phật điển tiếng Phạn khai quật ở vùng gần Kucha, đây là điểm quan trọng, đáng chú ý trên phương diện nghiên cứu Phật giáo Qui-tư và ngôn ngữ Qui-tư.
Trong báo cáo về kinh Phật được dịch bằng ngôn ngữ Qui-tư hiện nay, thuộc về Ba-la-đề-mộc-xoa (Prātimokṣa) luật Hữu bộ là Ba-dạ-đề (Pāyattika) trong giới bổn.152 Đem
150 Hoernle: Manus. Rem. of B. L., P. II. (cht. Tg)
151 Đông dương học báo, quyển thứ 13, trang 132. (cht. Tg)
152 J. R. A. S., 1913, pp. 109-20. (cht. Tg)
đối chiếu với luật Thập tụng153 của ngài La-thập dịch thì văn viết chất phác, nội dung đơn giản, so với bản dịch Hán văn (bản tiếng Qui-tư) lại là bản nguyên thủy. Ba-dạ-đề 89 và 90 trong Quảng luật Thập tụng của Hữu bộ tương đương với Prāyaścittika (Ba-dạ-đề) và Pratideśaniya (Ba-la-đề đề-xá-ni) của luật tiếng Qui-tư. Còn những thứ khác đều liên quan đến nhiều mảnh rời thuộc luật Hữu bộ. Những thứ ấy do người bản địa là Sahib Ali tìm thấy154 gần vùng Bai không xa Kucha. Ngoài ra về kinh điển còn tìm thấy một phần của phẩm Ảo-đà-na (Udāna-varga)155 thuộc kinh Pháp cú (Dharamapada), kinh Thích-đề-hoàn-nhân vấn (Sakraprasna) thuộc một phần kinh Đại bát niết-bàn (Mahaparinirvana). Số lượng còn lại cũng nhiều như tờ 2, 106, thuộc Tạp tập trong kinh Pāli và Tạp A-hàm quyển 12 ghi, nội dung nói về Bát chánh đạo đến Khổ diệt, nói về Cổ tiên nhân đạo đến Cổ thành dụ, đều là giáo thuyết giống nhau.
Lại còn phát hiện thấy kinh Cổ thành tỷ dụ (Nagaropama-Sūtra) thuộc kinh Bi hoa (Karuṇāpuṇḍarīka-Sūtra) của Đại thừa và quyển kệ tụng “Varṇanarha”, có một phần tán thán công đức Phật thuộc bản Tây Tạng, được ông Thomas dịch sang tiếng Anh. Liên quan đến luận thuộc về Tiểu thừa giáo là Thập nhị nhân duyên luận (Pratītyasamutpāda-śāstra) và Niệm xứ (Smṛtyupasthāna).156 Ngoài ra là sách chú thích Ảo-đà-na, liên quan đến những mảnh rời của Udānālankar, thuyết minh
153 Thập tụng luật, 61 quyển, Hậu Tần – Phất-nhã-đa-la và La-thập dịch, T23n1435.
154 Hoernle: Manus. Rem. of B. L., pp. 354, 365, 376. (cht. Tg)
155 Phẩm Ảo(Ưu)-đà-na 媼(優)陀那品: Skt. Udāna-varga, thuộc bản Phạn, một trong bốn dị bản của kinh Pháp cú (Pāli. Dhamma-pada).
156 Niệm xứ: Skt. Smṛtyupasthāna, kinh Niệm xứ (Pāli. Satipaṭṭhāna sutta), p582b (95), trong kinh Trung A-hàm 24 (T01n26).
về Ma giới, lấy truyện Phật làm trung tâm, hàm chứa nhiều ý vị về kịch thơ và truyện cổ.157
Những kinh sách Phật tiếng Phạn phát hiện gần Kucha, trước tiên trình bày về luật điển. Tại địa phương Qyzil cách Kucha không xa, đội thám hiểm Đức phát hiện những mảnh rời bản Tỳ-kheo-ni giới bổn của Hữu bộ, ông E. Waldschmidt đem nó đối chiếu với bản Hán dịch và Tây Tạng dịch, rồi phát biểu thành tích nghiên cứu đó.158 Rồi ở tại Kaya và Jigdalik gần Kucha, người bản địa là Sahib Ali phát hiện thấy những mảnh còn lại của ba loại luật điển:
Theo sự điều tra của ông Hoernle, loại thứ nhất ghi pháp khất thực, pháp ấy ở trong các văn tự luật của Pāli tạng và Hán tạng không giống, nhưng có thể dựa theo Căn bản thuyết nhất thiết hữu bộ bách nhất yết-ma159 quyển 10, ngài Nghĩa Tịnh dịch và tiểu phẩm 8, 4, 315 v.v... của Luật tạng Pāli để tham khảo.
Loại thứ hai là liên quan đến qui tắc sàng tòa, qui tắc Tăng bệnh; được hay không được cầm gậy, trong sách Tăng yết-ma160 của ngài Hoài Tố soạn tập và sách Căn bản thuyết nhất thiết hữu bộ bách nhất yết-ma do ngài Nghĩa Tịnh dịch, có thể tìm ra những từ cú tương đương, mà rất hợp với những việc ghi trong những mảnh còn lại kia, chính là tiểu phẩm 5, 23 của Luật tạng Pāli. Loại thứ ba chẳng qua là những danh từ dùng trong giới luật.161
157 J. A., 1911. pp. 431-49; J. R. A. S. 1914. pp. 960-3. (cht. Tg)
158 Buchstucke des Bhiksunt-pratimoksa des Sarvastivad ins - 1926. (cht. Tg)
159 Căn bản thuyết nhất thiết hữu bộ bách nhất yết-ma 10 quyển, T24n1453.
160 Tăng yết-ma, 3 quyển, T40n1809_p511.
161 Hoernle: Manus. Rem. of B.L., pp. 4-11. (cht. Tg)
Thuộc về kinh:
Chúng tập kinh (Samgiti-Sutra), cùng với Chúng tập kinh trong Trường A-hàm thứ 8,162 kinh Đại tập pháp môn163 của Thi Hộ dịch và Trường tập 3, 33164 của Pāli tạng đều không nhất trí, miễn cưỡng mà nói, nó và tạng Pāli so với bản dịch Hán tạng là hơi gần nhau. Kinh A-tra-na-chi (Aṭanaṭiya-Sutra) và kinh thứ 32165 trong Trường tập thuộc Pāli tạng tương đồng. Kinh Ưu-ba-ly (Upali-Sutra), tương đương với kinh thứ 56 trong Trung tập166 thuộc Pāli tạng và kinh Ưu-ba-ly 133 trong Trung A-hàm167 bản Hán dịch, nhưng bản Hán dịch có thể giống nhau, còn kinh Pāli thì không. Kinh Tự tứ (Pravaraṇa-Sutra) đồng nhất với Tạp tập 1.8168 của tạng Pāli. Kinh Nguyệt dụ (Candropamāna-sūtra) cùng với kinh thứ 30 Tạp tập, Ca-diếp bộ169 của Pāli tạng và kinh Tạp A-hàm170 của ngài Cầu-na-bạt-đà-la dịch có phần tương đương, kinh sau cùng so với kinh trước có thể nhất trí hơn.
162 Kinh Chúng tập (9), Trường A-hàm 8, T01n01_p49.
163 Kinh Phật thuyết đại tập pháp môn, quyển thượng, (Trường A-hàm kinh đan bản), T01n12_226.
164 Saṅgītisutta (33), D. iii (= Trường bộ 3 [Nam truyền đại tạng kinh - Hán dịch, 8], kinh Đẳng tụng [33], p225).
165 Āṭānāṭiyasutta (32), D. iii (=Trường bộ 3 [Hán dịch, 8], kinh A-tra-nẵng-chi [32], p200).
166 Upālisutta (56), M. ii (= Trung bộ 2 [Hán dịch, 10], kinh Ưu-bà(ba)-li (56), p117).
167 Kinh Ưu-bà-li (133), Trung A-hàm 32, T01n26_p628.
168 Pavāraṇāsutta (8.7), S. i. (=Tương ưng bộ 1 [Hán dịch, 1], Tự tứ [7], Bà-kỳ trưởng lão Tương ưng [8, Vaṅgīsasaṃyuttaṃ], p320). Cf. Kinh thứ 1212, Tạp A-hàm 45, T2n99_p330a04.
169 Candūpamāsutta (3), S. ii, 16. Kassapasaṃyuttaṃ (= Tương ưng bộ 2 [Hán dịch, 2], Nguyệt dụ [3], Ca-diếp tương ưng [5], p248).
170 Kinh thứ 1136, Tạp A-hàm 41, T2n99_p299c; tương đương kinh Nguyệt dụ, 1 quyển, T2n121_p544; Biệt dịch tạp A-hàm kinh, T2n100, p414a.
Những kinh khác có quyển còn lại của hai bộ, bất luận như thế nào, những kinh điển Tiểu thừa đều thuộc bộ A-hàm.
Luật điển Phạn văn thuộc những kinh điển trên vừa giới thiệu qua đều phát hiện thấy tại Jigdalik, Kaya gần Kucha, ông Hoernle đã đem nguyên văn trích dẫn trong tác phẩm của ông đã nêu ở trước.171 Cũng tại Jigdalik gần Kucha, phát hiện thấy tác phẩm Nhất bách ngũ thập tán tụng (Śatapañcāśataka-stotra)172 của ngài Ma-điệt-lí-chế-tra, rất có giá trị trong Phật điển Phạn văn, và đa số những mảnh rời là Tứ bách tán tụng (Catuḥśataka-stotra);173 ở Đôn Hoàng và Khora cũng phát hiện thấy một số nữa. Đại trang nghiêm kinh luận (Sūtrālaṅkāra-śāstra)174 Phạn văn (trong bản Hán dịch do ngài Mã Minh trước tác), ngài Cưu-ma-la-đà (Kumāralāta) soạn,175 do đội thám hiểm Đức tìm thấy ở Qyzil, gần Kucha. Ông Hoernle phát biểu kết quả nghiên cứu về các mảnh còn lại trong phần trước tác của ngài Ma-điệt-lý-chế-tra.176 Ông H. Lüders đem hiệu đính bản Phạn văn của ngài Cưu-ma-la-đà, in một lượt lưu hành.177
171 Hoernle: Manus. Rem. of B. L., pp. 16-47. (cht. Tg)
172 Nhất bách ngũ thập tán Phật tụng (Skt. Śatapañcāśataka-stotra), 1 quyển, Tôn giả Ma-điệt-lí-chế-tra 摩咥里制吒 (Skt. Mātṛceṭa, ngài là thi nhân thuộc học phái Mã Minh) tạo, Nghĩa Tịnh dịch thời Đường, T32n1680_p758.
173 Tứ bách tán, ngài Ma-điệt-lí-chế-tra soạn.
174 Đại trang nghiêm kinh luận, 15 quyển, Cưu-ma-la-thập dịch, T4n201.
175 Trước đây đều coi tác phẩm Đại trang nghiêm kinh luận do ngài Mã Minh trước tác, nhưng đến khi các học giả cận đại nghiên cứu những chỗ đứt đoạn bản Phạn Đại trang nghiêm kinh luận, phát hiện tại vùng khai quật, thì cho rằng do ngài Cưu-ma-la-đà (鳩摩羅馱, dịch là Đồng tử, người nước Takkasilā) viết ra.
176 Đồng Luận văn nêu trước (cht. 171), quyển 58 trang 182. (cht. Tg)
177 Buchstucke der Kalpanamanditika des Kumarlata. 1926. (cht. Tg)
Nếu xét qua những bản kinh Phật Phạn văn lưu hành ở nước Qui-tư và số sách Phật dịch tiếng Qui-tư đã liệt kê ở trước, có thể suy ra thế lực giáo phái Tiểu thừa Hữu bộ tại nước Qui-tư hưng thạnh đến mức độ nào!?
Bản Phạn và bản Qui-tư trong Quảng luật cùng với Giới bản của Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni trong luật điển đều là Tiểu thừa Hữu bộ. Như kinh A-tra-na-chi trong kinh điển Tiểu thừa cũng thuộc Hữu bộ. Về bản kinh này, theo thuyết của tiên sinh Độ Biên Hải Húc thì trong Trường A-hàm Hán dịch còn thiếu, nhưng luật Thập tụng của Hữu bộ có thể xem như một bộ kinh lớn. Kinh điển bản Phạn ấy chính do Hữu bộ truyền lại. Từ những kinh điển khác phát hiện ở vùng Kucha, có thể xác định chúng là do Hữu bộ truyền, chủng loại của chúng rất nhiều, đều giống với Trung A-hàm và Tạp A-hàm Hán dịch; tuy mỗi kinh tìm thấy ở mỗi nơi nhưng so sánh nội dung lại không khác nhau. Theo đoán định thì những kinh A-hàm Hán dịch là những bản do Hữu bộ truyền.178 Phật giáo nước này ban đầu đã trở thành giáo phái Tiểu thừa thuần túy như trước đã nói. Sau khi Cưu-ma-la-thập đến Trung Quốc, tức thế kỷ thứ IV Tây lịch trở về sau, nước này dần dần nghiêng về Tiểu thừa; đến thời ngài Huyền Trang, đại để Hữu bộ ở nước này phát triển rất thịnh.
Vậy tình hình giáo phái nước ấy vì nguyên cớ gì mà có sự biến thiên như thế? Điều đó có thể xác thực là do hoạt động tuyên truyền Hữu bộ của người Tukhara (Đổ-hóa-la) tạo ra. Trong đó nói về người Tukhara thì theo Tây Vực ký quyển 1,179 mục nước Đổ-hóa-la, ngài Huyền Trang ghi, nước ấy phía
178 Xem “Tân Phật giáo”, phát hành năm Minh Trị thứ 41 và năm sau. (cht. Tg)
179 Tây Vực ký 1, T51n2087_p872a5.
Đông giáp giới Thông Lĩnh (Pamir), Tây giáp giới Persia, Nam giáp giới Đại Tuyết Sơn (Hindu Kush), phía Bắc đến tận Thiết Môn, dân tộc ấy lấy vùng Balkh hiện nay làm trung tâm cư trú. Qua chứng cứ văn hiến của các chủng tộc, cho chúng ta biết được, họ sớm đã trở thành tín đồ của Hữu bộ.
Theo Câu-xá luận ký quyển 1,180 ngài Phổ Quang soạn, nói ngài Pháp Thắng (Đạt-ma-thi-lợi-đế, Dharma-śresthin), người nước Thổ-hỏa-la-phược-thục (đồng với nước Phược-hát mà ngài Huyền Trang đã nói, nay là Balkh), trích phần cương yếu của Đại tỳ-bà-sa luận, viết thành 4 quyển A-tỳ-đàm tâm luận. Khai Nguyên lục quyển 3181 ghi, năm 384 Tây lịch, ngài Đàm-ma-nan-đề (Dharmanandi) người nước Tukhāra (Đâu-khư-lặc) phiên dịch 59 quyển Trung A-hàm182 (chính là bản truyền của Hữu bộ đã nói ở trước). Năm thứ hai (năm 385), ngài lại dịch xong Tăng nhất A-hàm, ngài có thể tụng thuộc lòng hai bộ A-hàm ấy. Sáu năm sau, ngài lại dịch Tăng-già-la-sát tập.183 Trong bài tựa của sách nói Tăng-già-la-sát (Samgharakṣā) là người bảo hộ của Hữu bộ, là thầy truyền giáo của vua Kaniṣka.
Năm 424 Tây lịch, lại có Sa-môn Đạo Thái được bộ Tỳ-bà-sa luận Phạn văn tại biên giới phía Tây Thông Lĩnh, mang đến Lương Châu, sau đó cùng ngài Phù-đà-bạt-ma (Buddhavarman, Giác Khải) dịch, trải qua 12 năm. Trong
180 Câu-xá luận ký 1, T41n1821_p11c12.
181 Khai Nguyên thích giáo lục 3, T55n2154_p505a02.
182 Ban đầu bản dịch này là 59 quyển, sau ngài Tăng-già-đề-bà (Skt. Saṃghadeva) dịch lại thành 60 quyển, là bản lưu hành hiện nay, T01n26.
183 Tăng-già-la-sát tập: Còn gọi Tăng-già-la-sát sở tập kinh 僧伽羅刹所集經, do ngài Tăng-già-la-sát biên soạn. Kinh này có hai bản dịch: 1. Đàm-ma-nan-đề dịch thành 2 quyển, đã mất; 2. Tăng-già-bạt-trừng (Skt. Saṃghabhūti, người nước Kế Tân, Bắc Ấn Độ)… dịch đời Tiền Tần, 3 quyển, hiện còn, T04n194.
Lương tăng truyện,184 Xuất tam bảo ký tập185 và những Kinh lục khác đều ghi ngài Phù-đà-bạt-ma là người Tây Vực. Nhưng trong quyển thượng sách Đại Đường Tây Vực cầu pháp cao tăng truyện186 nói ngài là người nước Tukhara. Căn cứ hồi thứ hai Kinh đô đại tạng hội mục lục, tờ thứ 16 và Khai Nguyên lục quyển 9,187 vào năm 710 Tây lịch, lúc ngài Nghĩa Tịnh dịch kinh Thuyết nhất thiết hữu bộ Tỳ-nại-da ni-đà-na mục-đắc-ca nhiếp tụng188 v.v..., Đạt-ma-mạt-ma người Tukhara hiệu đính nghĩa tiếng Phạn.
Ngoài ra, từ năm 685 đến năm 704 Tây lịch, Sa-môn Di-đà-sơn nước Tukhara, cùng ngài Thật-xoa-nan-đà dịch kinh điển Đại thừa. Chúng ta nên biết, những Sa-môn nước Tukhara được ghi chép trong thư tịch Phật giáo đều là những học giả của Hữu bộ. Họ vượt qua núi Đại Tuyết đến nước Ca-thấp-di-la, căn cứ địa của Hữu bộ, ở đó xây dựng rất nhiều chùa viện, sự thật ấy rất rõ ràng. Từ năm 757 Tây lịch trở về sau, ngài Ngộ Không189 trải qua 4 năm công phu lưu học tại Ca-thấp-di-la, trong ngôi chùa nổi tiếng ở nước này, được
184 Cao tăng truyện 3, T50n2059_p339a14.
185 Xuất tam tạng ký tập 2, T55n2145_p11c01.
186 Đại Đường Tây Vực cầu pháp cao tăng truyện 1 (thượng), (ngài Nghĩa Tịnh soạn thời Đường, 2 quyển) T51n2066_p01a29.
187 Khai nguyên thích giáo lục 9, T55n2154_p568c29.
188 Căn bản thuyết nhất thiết hữu bộ tỳ-nại-da ni-đà-na mục-đắc-ca nhiếp tụng (Skt. Mūlasarvāstivāda-nikāya-vinaya-nidāna-mātṛikā-gāthā), 1 quyển, T24n1456.
189 Ngài Ngộ Không 悟空 (731-?), danh Tăng dịch kinh đời Đường, họ Xa, tên Pháp Giới, người Vân Dương, Kinh Triệu (nay huyện Kinh Dương tỉnh Thiểm Tây). Năm thứ 9 niên hiệu Thiên Bảo (751), ngài được lệnh theo Trương Thao Quang v.v… hơn 40 người đi sứ Tây Vực. Đến nước Kiền-đà-la… ngài thụ giáo xuất gia với Tam tạng Xá-lợi-việt-ma. Năm 29 tuổi, ngài thọ Cụ túc giới tại Ca-thấp-di-la...
truyền kinh Phật thuyết thập lực, là chùa Tướng Quân như trong lời tựa bản kinh có ghi.190 Theo thuyết của ông Stein và Kalhaṇa191 viết trong tác phẩm “Rājataraṅgiṇī” về “Caṅkuṇa-Vihara” (Tướng quân Tỳ-ha-la [chùa Tướng Quân]) là cùng một chữ (cùng chữ chùa Tướng Quân trong lời tựa kinh Phật thuyết thập lực); chữ Hán “將 Tướng” (tsiang) và “軍 Quân” (Kiun) là âm “Can” và “Kun” của chữ Tukhara. Nguyên nhân kiến lập chùa Tướng Quân là do vương tử Đột-quyết xây dựng chùa Lý Lặc, hoàng hậu nước ấy lại kiến tạo chùa Khả Đôn, nên người Tukhara mới xây chùa đặt tên Tướng Quân, vì Sa-môn nước Tukhara lưu trú lại đó. Họ đến nước Ca-thấp-di-la để tu tập giáo nghĩa Hữu bộ, còn đến Đông Turkestan chỉ vì truyền đạo. Sự nghiệp họ truyền giáo tại Kucha cực kỳ hưng thạnh, như Động Thiên Phật tại Qyzil được kiến tạo khoảng từ thế kỷ thứ IV, thứ V Tây lịch, đến năm 750 Tây lịch. Bích họa trong động có hình một quí nhân nước Tukhara, và bức tranh gỗ khắc ba vị Phật, viết bằng ngôn ngữ Tukhara: “Đức Phật này là do tay của Sanketava vẽ”. Đó là bên trong một trong những hang động chùa viện được tìm thấy.192 Địa phương lưu trú của họ không giới hạn ở Qyzil, mà kéo rộng ra đến tận một dải các vùng biên giới phía Bắc lòng chảo Tarim. Ông Le Coq báo cáo nghiên cứu thám hiểm tại nơi ấy, ở đoạn cuối bài viết ghi: “Chủ yếu trú dân của Đông Turkestan, giữa thế kỷ thứ VIII, tại Karashar, Kucha cổ đại, hoặc là đến tận Turfan đều bị người Tukhara xâm lược, dần dần họ chiếm cứ nhiều vùng đất khác.”193
190 Kinh Phật thuyết thập lực (ngài Vật-đề-đê-tê-ngư [Liên Hoa Tinh Tấn] dịch đời Đường, 1 quyển) T17n780_p716a21.
191 Kalhanas Chronicle. IV. 211. (cht. Tg)
192 Buddhist. Spät. in Mittelasien. III. S. 12; V. S. 9-10. (cht. Tg)
193 Buddhist. Spät. in M., III. S. 24. (cht. Tg)
Lại những bức bích họa trong chùa ở Qyzil, do người xây dựng chùa cung cấp, tư thái dáng vẻ người trong bích họa là người Tukhara, thủ pháp hội họa là vẽ bóng trên bề mặt theo kiểu Tây phương, dung mạo và phong thái trên bức vẽ đều thể hiện kiểu người Tây Âu.194 Trong vách chùa tại Qyzil, vẽ một người phụ nữ Tukhara, tư thế và phục trang là của người châu Âu, có thể thấy rõ sắc thái kiểu Tây phương. Do đó, người Tukhara chính là hệ người châu Âu, và xét ngôn ngữ họ sử dụng cũng thuộc ngữ hệ châu Âu. Hiện nay nếu đem văn thư của họ còn sót để nghiên cứu, thì chỉ thấy ngài Huyền Trang ghi chép: “Chữ viết có 25 chữ gốc (cái), phối hợp với nhau mà tạo ra bất tận, diễn tả các vật, các việc. Chữ viết theo chiều ngang từ trái sang phải”.195 Từ điểm này có thể tìm hiểu, xác định họ thuộc người châu Âu. Báo cáo của ông Grünwede nói rằng, chùa viện Tukhara ở Qyzil thật sự qui mô lớn. Trong một quần thể lớn có 78 hang động, hai quần thể nhỏ, mỗi quần thể có 8 đến 24 hang động, hợp thành ngôi tự viện lớn gồm 100 hang động.196 Từ những bích họa trong các ngôi tự viện hoang phế ấy, và quan sát mỹ thuật Phật giáo của chúng đều thấy biểu hiện tư tưởng Tiểu thừa, phản ánh Phật giáo nước Tukhara. Căn cứ những sự thật khảo sát trên, chúng ta có thể suy ra người Tukhara tập trung ở nước Qui-tư rất đông, và họ nhiệt thành tuyên truyền tín ngưỡng Hữu bộ biết dường nào!
Kết quả là dân tộc di trú lấy Vu-điền làm trung tâm, hình thành ngôn ngữ Iran, sử dụng lưu hành ở biên giới phía Nam khu vực lòng chảo Tarim, trở thành ngôn ngữ thông dụng, trong khi người Tukhura lại lấy nước Qui-tư làm trung tâm,
194 Waldschmidt: Gandhara. S. 40. (cht. Tg)
195 Tây Vực ký 1, T51n2087_p872a17.
196 Alt. Kutscha.S. 1. 17. (cht. Tg)
tập trung nhiều tại đó nên ngôn ngữ họ sử dụng trở thành ngôn ngữ thông dụng cả một dải biên giới phía Bắc. Vì nguyên cớ ấy nên họ dùng thứ ngôn ngữ thông dụng đó để phiên dịch kinh điển Phật giáo. Cho nên trước đã nói qua, trong Phật điển ngôn ngữ Uighur, có ngôn ngữ Tochari, nhưng ông Holstein hình dung nó không có ý vị của ngôn ngữ Vu-điền. Chúng ta có thể nói, đó chính là chỉ cho ngôn ngữ Qui-tư. Nghĩa là ngôn ngữ Tochari bao hàm ý vị ngôn ngữ nước Tukhara, và đồng dạng với cả ngôn ngữ Ấn Độ, Quí-sương, hoặc Barcuq.197 Tên “Tochari” là chỉ địa phương, vào thời Uighur thì Tochari là nước Tukhara hiện nay, lấy Balkh làm trung tâm. Nếu không căn cứ theo đây, thì dù có dựa bất kỳ nơi nào cũng không thể tìm ra Tukhara. Người Uighur phiên dịch kinh điển Đại thừa từ tiếng Ấn Độ (tức Phạn ngữ), hoặc tiếng Quí-sương (tức Sogdian ngữ) ra ngôn ngữ Đột-quyết (Turk) trước, đại để là qua một lần dịch thành Tukhara ngữ, có thể thấy Tukhara ngữ từng là ngôn ngữ có vị trí trung gian. Người Uighur nói Tukhara ngữ giống với ngôn ngữ Qui-tư. Vì ngôn ngữ Qui-tư là ngôn ngữ Tukhara, và trên phương diện địa lý thì người Uighur là có quan hệ mật thiết đặc biệt. Hơn nữa, người Tukhara là những tín đồ thuần túy Hữu bộ nên sử dụng ngôn ngữ của họ để dịch kinh điển Đại thừa là không tiện lắm, do đó kinh điển Đại thừa bằng ngôn ngữ Tukhara cực kỳ khuyết thiếu. Thường tín đồ Uighur rất có nhiệt tâm với Phật giáo Đại thừa, họ dùng ngôn ngữ của nước mình để phiên dịch kinh điển Đại thừa, bất luận như thế nào, nếu không có bản Phạn, hoặc bản Sogdian thì không thể làm đến nơi đến chốn được. Nhưng những loại ngôn ngữ này, ngoại trừ tình hình đặc biệt, nhân vì có quan hệ về địa lý, nên một số người có đủ năng lực đem những kinh điển viết bằng
197 Ngôn ngữ Barcuq: Xem cht. 103 trước.
ngôn ngữ xa lạ trước, so sánh với ngôn ngữ Qui-tư thân cận rồi dịch ra, sau đó dịch lại thành ngôn ngữ Đột-quyết. Về vấn đề chung trong chuyện này đại khái có thể giải thích như thế.
Vậy đứng trên cơ sở những sự thật nào mà nói ngôn ngữ lưu hành tại nước Tukhara thuộc ngữ hệ châu Âu? Từ khi Đại vương Alexander đông chinh trở về sau, chưa có người châu Âu nào xâm nhập Trung Á, nên bất luận thế nào chúng ta cũng không thể không nói đến cơ duyên Đại vương đông chinh, kiến thiết văn hóa vương quốc Đại Hạ (Bactria) của người Hi Lạp. Vương quốc Đại Hạ do người Hi Lạp kiến thiết tối thiểu là khoảng năm 140 trước kỷ nguyên Tây lịch, hoặc sai số chút ít, nhưng những sử liệu đó xác định đáng tin, không phải hoài nghi nữa. Vua nước ấy xâm nhập sâu vào nội địa Ấn Độ, một dải Punjab trở thành lãnh thổ trong thế lực của người Hi Lạp rất lâu. Do giao thiệp trên phương diện chính trị, thương nghiệp và văn hóa nên mối quan hệ giữa Ấn Độ và Đại Hạ cực kỳ mật thiết. Sau đó người Hi Lạp chuyển qua ảnh hưởng văn hóa Ấn Độ, khiến ngôn ngữ của họ hơi bị Ấn Độ hóa, điều ấy là xu thế tự nhiên. Sau này vương quốc Đại Hạ bị các dân tộc khác như Saka (Tắc), hoặc Tochari v.v... chinh phục. Hậu quả việc mất chủ quyền của người Hi Lạp ở đây không luận bàn, nhưng trên thực tế người Hi Lạp vẫn là trú dân của Đại Hạ, nên văn hóa đặc hữu của họ được duy trì đến đời sau. Điểm này xem lại không phải là điều quan trọng, mà quan trọng là trong truyện Đại Uyển sách Sử ký viết rằng, người Đại Hạ (Bactria) chuyên kinh doanh thương nghiệp, do đó người Hi Lạp cùng người Iran đi đến biên giới phía Nam lòng chảo Tarim để hoạt động thương nghiệp, tôn giáo, và có thể suy ra, họ đi đến biên giới phía Bắc cũng phấn đấu hoạt động như ở phía Nam, Phật giáo đồ tại địa phương này xem nước Ca-thấp-di-la là trực thuộc hệ
phái Hữu bộ. Từ khi đến cư trú dưới hình thức một đất nước theo chủ nghĩa đóng cửa về tôn giáo, những Cao tăng thạc đức ở nước Ca-thấp-di-la chọn lấy thái độ bảo thủ, nhưng đến thế kỷ thứ IV Tây lịch thì bỗng nhiên họ phát huy thái độ hoạt động tích cực, lại còn ảnh hưởng đến phong trào truyền bá đạo Phật về phía cực Đông, bởi nhiệt huyết lên cao, họ quyết chí đến phương Đông truyền giáo.
Phần trước đã thuật, trong nước Qui-tư, những Già-lam, hang động được xây dựng dưới qui mô rất lớn, đến một trăm ngôi. Họ lấy đất này làm trung tâm, chia làm hai phương Đông và Tây mà hoạt động, kết quả đầu tiên hình như một bộ phận ở trong giáo đoàn dùng ngôn ngữ Tukhara lý giải ngữ nghĩa kinh điển Phật giáo, thành ngôn ngữ thông dụng chung cho dân chúng vậy.
(Ý định của tôi là viết một bài liên quan đến thành tích khảo cổ vùng Tân Cương, nhưng vì sưu tập tài liệu chưa thỏa ý nên không dám động bút. Mùa hè năm nay ở Thượng Hải, tôi được quyển “Tư trào nghiên cứu tôn giáo cận đại”, xuất bản tại Đông Kinh tháng 6 năm nay, phát hiện thấy có một bài Nghiên cứu Phật giáo Tây Vực của Vũ Khê tiên sinh, mà phần nhiều nội dung bên trong là tài liệu tôi cần để viết, mới cùng ông Đôn Cốc đọc chung một lượt. Sau khi tôi đọc qua mới hiểu, nếu tự mình viết thì chắc chắn không thể nào được như vậy. Cho nên mời tiên sinh Đôn Cốc dịch ra bằng miệng và tôi theo đó ghi lại. Vả lại nguyên văn trong bản in có nhiều chữ nhầm lẫn, do đó trong văn dịch cũng nhiều nhầm lẫn. Tiên sinh Vũ Khê lại có một bản đại trước tác là “Phật giáo Tây Vực”, xuất bản vào năm Đại Chánh thứ 3, đến năm Đại Chánh thứ 12, sách này đã xuất bản ba lần, thuận tiện xin giới thiệu ở đây. Trong bài luận này vốn dự định đem Phật điển tiếng Uighur, Phật điển Hán dịch phát hiện tại Tân Cương và những nghệ thuật Phật giáo tại Đông Turkestan trong tác phẩm của Vũ Khê tiên sinh trình bày luôn một lần, nhưng vì quá dài không thể hoàn thành như ý nguyện được. - Hứa Địa Sơn, 17-10-1917.)