Tìm kinh sách
Vần A-Z:
Nghiên cứu Phật Giáo Tây Vực

Nghiên cứu Phật Giáo Tây Vực

Tác giả: Cư sĩ Tuệ Khai, Phụ chú: Thích Tâm Nhãn. Dịch giả: Cư sĩ Tuệ Khai, Phụ chú: Thích Tâm Nhãn. Năm xuất bản: 2011. Số trang: 604.

Chương 49: 3. Ngài Thiệt -di và Tiểu thừa giáo Qui -tư (Trang 486 - 488)

Trước đây khi chưa đến Cô Tạng, ngài La-thập ở chùa Vương Tân nói pháp, các vị vua đều quỳ bên ngài cung kính nghe pháp, sự hưng long của Phật giáo Qui-tư có thể nói là lên đến cực đỉnh. Sở dĩ Phật giáo Qui-tư có thể thịnh hành ở đỉnh cao trong xã hội là do nước ấy chủ yếu xuất hiện nhiều bậc Cao tăng, thạc đức, và được sự bảo hộ của quốc vương. Ngài La-thập ở nước Kế Tân và Sa-lặc hết lòng nghiên cứu giáo nghĩa Đại thừa, sau lại ở nước Ôn Túc thuyết phục được tất cả đạo sĩ giỏi luận biện, thanh danh ngài vang dội khắp nơi. Nhân đây quốc vương Qui-tư là Bạch Thuần đích thân đến Ôn Túc nghinh thỉnh ngài trở về nước và kiến tạo cho ngài tòa kim cương, tòa sư tử, trải đệm gấm, chiếu gấm Đại thừa, rồi thỉnh ngài La-thập lên tòa nói pháp, có thể thấy sự chân thành sùng pháp, kính Tăng của vua ấy.
3. Ngài Thiệt-di và Tiểu thừa giáo Qui-tư.
Nếu ngài La-thập là lãnh tụ Đại thừa giáo Qui-tư thì ngài Thiệt-di là lãnh tụ Tiểu thừa Phật giáo Qui-tư. Nước Qui-tư từ xưa Tiểu thừa giáo đã chiếm ưu thế. Lời tựa Tỳ-kheo-ni giới bổn sở xuất mạt bản trong Xuất tam tạng ký tập quyển 11 ghi:17
“Nước Câu-di chùa rất nhiều, sửa sang trang hoàng rất tráng lệ, hình tượng đức Phật chạm trổ ở vương cung không khác với chùa. Có chùa tên là Đạt-mộ Lam (170 Tăng), chùa ở núi phía Bắc tên là Trí-lệ Lam Kiếm (50 Tăng),18 Kiếm-mộ Vương Tân Lam (60 Tăng), Ôn-túc Vương Lam (70 Tăng). Bốn ngôi chùa trên do ngài Phật-đồ-thiệt-di cai quản. Tăng của chùa, sau 3 tháng đều một
 

17 Xuất tam tạng ký tập 11, T55n2145_p79c10.
18 Phụ chú trong Tạng: Hoặc có 60 Tăng. Xuất tam tạng ký tập 11, p79c12.
 
lần đổi nhà, giường, chỗ ngồi, hoặc đổi Già-lam, chưa đầy 5 lạp hạ, thì chỉ được một lần nghỉ qua đêm không được không y chỉ.19 Già-lam Vương Tân Tăng (90 Tăng), có vị Sa-môn niên thiếu tên là Cưu-ma-la, tài giỏi cao minh, học Đại thừa, là sư đồ của ngài Thiệt-di, mà ngài Thiệt-di là học giả A-hàm. A-lệ Lam (180 Tỳ-kheo-ni), Luân-nhã-can Lam (50 Tỳ-kheo-ni), A-lệ-bạt Lam (30 ni đạo), ba ngôi chùa trên đều nương theo ngài Thiệt-di thọ giới pháp. Vì theo pháp nước ngoài, Tỳ-kheo-ni chẳng được độc lập vậy. Những vị ni của ba ngôi chùa này, phần nhiều là những phụ nữ vương hầu ở phía Đông Thông Lĩnh, vì đạo mà từ xa vân tập về những ngôi chùa ấy, dùng giới pháp tự chỉnh, giữ gìn rất nghiêm mật, cũng ba tháng một lần đổi phòng ở, hoặc đổi chùa; không phải là bậc đại ni thì ba người chẳng được đi ra ngoài. Phần nhiều các vị đều giữ 500 giới, nếu không thầy mà một lần nghỉ qua đêm liền bị tội. Ngày nay những điều xuất phát từ Tỳ-kheo-ni giới bản, là chư ni thường sử dụng.”
Từ đoạn ký sự trên, đặt ra ba vấn đề cho chúng ta nghiên cứu:
Một, ở Già-lam Vương Tân Tăng ghi “Có vị Sa-môn niên thiếu tự là Cưu-ma-la tài giỏi cao minh, học Đại thừa”. Sau chữ “La” nhất định khuyết chữ “Thập”, người tên là Cưu-ma-la nhất định là Cưu-ma-la-thập, bởi ngài La-thập trước khi
 

19 Trong luật chế định, người (Tỳ-kheo) chưa đủ 5 Hạ hoặc dù đủ 5 Hạ nhưng là người ngu si phải tìm bậc minh đức để y chỉ, học hỏi giáo pháp. Tứ phần luật hành sự sao tư trì ký 1, T40n1805_p31b02: “Thiên thứ 9, Sư tư tương nhiếp: Có mười loại người phải y chỉ – một, Hòa thượng (thầy mình) mạng chung; hai, Hòa thượng bỏ đạo; ba, Hòa thượng quyết ý ra khỏi cương giới; bốn, Hòa thượng bỏ dưỡng dạy chúng; năm, đệ tử duyên ly tha phương; sáu, đệ tử không vui trú xứ, cầu thắng duyên; bảy, chưa đủ năm Hạ (…)”
 
đến nước Cô Tạng còn trụ ở chùa Vương Tân, được sự sùng kính của quốc vương, tuyên dương Đại thừa giáo, phát huy anh tài, lúc đó ngài La-thập mới có 37 tuổi, nên gọi ngài là Sa-môn thiếu niên. Ngài Phật-đồ-thiệt-di có quan hệ thầy trò với ngài La-thập; ngài La-thập 7 tuổi xuất gia, 9 tuổi đi đến nước Kế Tân, ở đây ngài thờ Phật-đồ-thiệt-di làm thầy, đương thời ngài Thiệt-di là vị Sa-môn danh đức của Qui-tư, với thân phận địa vị cực cao của ngài nên có thể cai quản phần nhiều những ngôi Đại Già-lam kia.
Hai, đối với ba ngôi chùa lớn của Tỳ-kheo-ni ở Qui-tư, những người ở đó đều là những phụ nữ vương tộc từ Thông Lĩnh trở về Đông, chẳng kể đường xa lặn lội đến Qui-tư, tập trung cư trú ở chùa ni, tu hành phạm hạnh; có thể biết, lúc bấy giờ từ Thông Lĩnh trở về phía Đông một dải khu vực Phật giáo Tân Cương, xã hội quý tộc rất có thế lực. Hơn nữa đương thời Qui-tư là trung tâm thứ hai của Phật giáo, do đó mới có nhiều phụ nữ quí tộc đường xa đến ở, càng thấy thêm sự nhiếp hóa sâu xa về nhân tâm xã hội của Phật giáo!
Ba, ngài Thiệt-di không chỉ là lãnh tụ phái Tiểu thừa Qui-tư, mà còn chuyên về luật học. Có thể giới pháp Tỳ-kheo-ni truyền vào Trung Quốc đều do công đức lớn lao của ngài Thiệt-di, như trên đã thuật.   
Tỳ-kheo-ni giới bản mà ngài Tăng Thuần được ở Qui-tư là thuộc Tát-bà-đa bộ, theo Khai Nguyên thích giáo lục quyển 4:20 Trong số kinh Phật ngài Trúc Phật Niệm dịch ra có nói “Ngài Tăng Thuần được Phạn bản ở nước Câu-di rồi Phật Niệm dịch ra. Về sau Trúc Pháp Thái cải chính điều đó”. (Thập tụng Tỳ-kheo-ni giới sở xuất bổn mạt).
 

20 Khai Nguyên thích giáo lục 4, T55n2154_p512a13.
 
/75
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
🙏 Trợ Lý Phật Pháp AI »