pháp. Đây là tóm lược tình hình Phật giáo các nước ở phía Tây Thông Lĩnh và có mối quan hệ với Trung Quốc.
Còn các nước phía Đông Thông Lĩnh có Vu-điền, Qui-tư là trọng yếu. Từ cuối đời Hán, Vu-điền dứt hẳn triều cống, trở nên nước cường thịnh, đồng thời cách ngăn với Ca-thấp-di-la một ngọn núi tuyết, và từ lâu được Nguyệt Thị bảo vệ; cho nên ngày nay đất nước Trung Hoa đi tìm cái nôi Phật giáo lại bỏ quên nước Vu-điền không kể đến. Nhưng có một điều đặc sắc cần phải ghi nhớ, là các kinh điển Đại thừa phiên dịch ra chữ Hán, hầu như bộ nào cũng có nhân duyên với Vu-điền. Những bộ kinh điển nổi tiếng như Phóng quang bát-nhã của Chu Sĩ Hành, Pháp hoa của Chi Pháp Lĩnh, Đại bát niết-bàn của Đàm-vô-sấm (tham khảo “Phiên dịch Phật điển”). Những kinh điển này có dấu vết “thành lập tại Vu-điền” không phải ít.36 Căn cứ vào các tư liệu này thì hình như học thuyết phái Thật tướng, một phái trong Đại thừa khởi thuỷ phát sinh tại đất Vu-điền. Nhân đó mà kiểm nghiệm lại những sử liệu khác, có thể biết dân tộc Vu-điền hình như hỗn
Minh nước Tề (Tiêu Tề), họ Khương, vốn là người Khương Cư, thời Tổ phụ lánh về đất Đông Ngô”. Xem Lương cao tăng truyện q. 11. Có thể thấy thời Tam Quốc ở Khương Cư nhất định có đại loạn (xem trong sử Tây phương ghi, hình như bị người Bactria xâm nhập), nên người nước ấy bỏ đi rất nhiều. “Cha của Khương Tăng Hội cũng di cư sang Giao Chỉ (Việt Nam) vào thời Ngô”. Xem Lương cao tăng truyện q. 1. Động cơ di cư của họ có thể giống nhau. (cht. Tg)
36 Phẩm “Bồ-tát trụ xứ” trong kinh Hoa nghiêm liệt kê nhiều địa danh ở Vu-điền, nên học giả cho đây là chứng cứ thành lập kinh Hoa nghiêm tại Vu-điền. Tuy chưa thể hoàn toàn tin, nhưng 60 quyển Hoa nghiêm ngày nay thì Chi Pháp Lĩnh được chúng ở Vu-điền. Còn bản Hoa nghiêm 80 quyển là do Vu-điền tặng Thật-xoa-nan-đà mang theo, và đích thân ông phiên dịch. Nguồn gốc truyền thọ Hoa nghiêm ở Trung Quốc nếu bỏ Vu-điền thì không thể khảo xét được. Đây là một sự thật cần phải chú ý. (cht. Tg)
chủng hai dòng máu Hoa-Ấn và hình thức Phật giáo mới của họ là kết quả từ sự “ghép cành chiết cây”. Thuyết này tuy mười phần chưa được tin cậy, nhưng xét kỹ về trào lưu tư tưởng như ngầm nói lên rằng, vấn đề văn hóa phương Đông còn được tiếp tục nghiên cứu tìm tòi. (Nước Vu-điền trong Truyện Tây Vực, sách Hán thư ghi: “Từ Cao Xương đi về phía Tây, người dân ở các nước… mắt sâu, mũi cao, duy chỉ có nước này, dung mạo không đen lắm, rất giống người Hoa.” Điều này đủ chứng cứ là dân tộc Vu-điền và Trung Quốc gần nhau. Tây Vực ký q. 12, ngài Huyền Trang viết về lịch sử kiến quốc của Vu-điền rất rõ ràng, đại để tình hình là dân tộc Đông phương chinh phục dân tộc Tây phương ở vùng đất trước đây; trong văn ghi: “Thái tử con vua bị trách phạt, lưu đày ở lãnh thổ phía Đông, quần thần khuyên tiến lên, mới tự xưng vương… Rồi một ngày sáng sớm họp chiến, Tây chủ bất lợi…. Đông chủ thắng trận, vỗ về nhân dân mất nước, di dời đô thành vào trong lãnh thổ.” Truyện Phật tiếng Tây tạng do ông Rockhill dịch, xuất bản 1884, nội dung giống nhau rất nhiều, có khác chút ít, lược nói thế này: “Có người trong nước tên Cù-tát-đán-na cùng với người Ấn Độ…. Tể tướng của vua A-dục tên Da-xá cùng hợp lực kiến thiết quốc gia này v.v…” Cù-tát-đán-na, trong Tây Vực ký nói nguồn gốc là tên Vu-điền. Câu chuyện trong hai tác phẩm ấy tuy đa phần là thần thoại nhưng về quan hệ địa lý thì hai tộc Trung-Ấn có sự “cấy ghép”, đó là sự thật. Sau khi trải qua trận xung đột mới đi đến thuận hoà, hỗn chủng thành một tộc mới, rồi kiến thiết đất nước, đó cũng là nếp thường trong lịch sử. Dân tộc Vu-điền là một dân tộc mang hai dòng máu ưu tú, chắc chắn họ đã cống hiến nhiều cái mới cho tư tưởng nhân loại.)
Gần Vu-điền có một nước nhỏ gọi là Chước-cú-ca, nơi này quả thật là kho báu tổng tập kinh điển Đại thừa (Chước-
Trúc Luật Viêm — Thiên Trúc
An Pháp Hiền — An Tức
Những vị nêu trên thuộc đời Tam Quốc.
Pháp Hộ — Nguyệt Chi (Tăng truyện nói: “Vị ấy trước là người Nguyệt Chi, sống ở Đôn Hoàng”).
Chi Pháp Độ — Nguyệt Chi
Bạch Diên — Qui-tư (Tăng truyện nói: “Chẳng biết người nước nào”. Bài Thủ lăng-nghiêm hậu ký chép là: “Vương thế tử Qui-tư”).
Bạch Thi-lê-mật-đa-la — Qui-tư (Tăng truyện nói: “Người Tây Vực.’’ Nay xác định là Qui-tư)
Bạch Pháp-cự — Qui-tư (các sách chẳng ghi chép gì về họ của ngài, căn cứ vào Xuất tam tạng ký tập quyển 9 thì biết là họ Bạch, đương nhiên là người Qui-tư)
Trúc Thúc Lan — (Truyện Chu Sĩ Hành trong Tăng truyện nói: “Vốn là người Thiên Trúc, đời cha tỵ nạn sống ở Hà Nam)
An Pháp Khâm — An Tức
Những vị nêu trên thuộc đời Tây Tấn.
Phật-đồ-trừng — Qui-tư (Tăng truyện nói: “Người Tây Vực, vốn họ Bạch”, nay xác định là Qui-tư)
Tăng-già-bạt-trừng — Kế Tân
Đàm-ma-nan-đề — Nguyệt Chi (Tăng truyện nói: “Người Đâu-khư-lặc”, Đâu-khư-lặc là tên khác của Nguyệt Chi)
Tăng-già-đề-bà — Kế Tân
Tăng-già-la-xoa — Kế Tân
Bát-lạt-nhã — Bắc Thiên Trúc Ca-tất-thí (nước này nay ở Afghanistan, xưa là thuộc địa của Nguyệt Chi)
Nhã-na-bạt-đà-la — Nam Hải Ha Lăng (nước này nay khó chỉ đích xác, hoặc là Tích Lan)
Phật-đà-đa-la — Kế Tân
Phật-đà-ba-lợi — Kế Tân
Thật-xoa-nan-đà — Vu-điền
Địa-bà-ha-la — Trung Thiên Trúc
Đề-vân-bát-nhã — Vu-điền
Trí Nghiễm — Vu-điền
Bảo Tư Duy — Kế Tân
Bồ-đề-lưu-chí — Nam Thiên Trúc
Liên Hoa Tinh Tấn — Qui-tư
Thi-la-đạt-ma — Vu-điền
Những vị nêu trên thuộc đời Đường.
Biểu đồ trên lược đủ những vị Tăng đi về Đông, họ chiếm một vị trí quan trọng trong lịch sử Phật học. Khái quát qui nạp lại thì thời Hậu Hán, Tam Quốc: người An Tức, Nguyệt Chi, Khương Cư là nhiều; thời Lưỡng Tấn: người Qui-tư, Kế Tân là nhiều; thời Nam Bắc Triều: người các nước vùng Tây Tạng và người Ấn Độ phân chia thế lực; thời Tùy-Đường thì người Ấn Độ chiếm ưu thế mà các nước vùng Hải Nam cũng có người đến. Căn cứ theo vùng đất để tra xét riêng biệt các dòng phái ấy cũng phản ảnh được giới tư tưởng của Trung Quốc.