III. TÂY VỰC TỪ THỜI NGỤY-TẤN ĐẾN THỜI TUỲ
Thời Ngụy-Tấn, Nam-Bắc Triều, việc kinh doanh của Tây Vực rất suy vi. Nhà Ngụy chiếm cứ Hoa Bắc, hùng mạnh một thời, những nước ở Tây Vực như Qui-tư, Vu-điền, Khương Cư, Ô Tôn, Sơ-lặc Nguyệt Thị, Thiện Thiện, Xa Sư v.v… năm nào cũng phụng lệnh triều cống, nhưng một số nước ở Tây Vực không thể đến hết; phía Tây Thông Lĩnh còn có Khương Cư, Đại Nguyệt Thị. Đến thời Tấn chỉ có Khương Cư, Yên Kỳ, Qui-tư, Đại Uyển, Đại Tần đến triều cống. Thời Nam-Bắc Triều thì hoàn toàn gián đoạn, có chăng phần nhiều theo đường biển mà giao thông với phương Tây. Mãi đến đời Tuỳ mới bắt đầu có sự kinh doanh với Tây Vực, lúc ấy các nước Tây Vực đến triều cống rất đông.
1. Tam Quốc: Ba nước Ngụy, Thục, Ngô lập thế chân vạc, trong đó nước Ngụy mạnh nhất, phạm vi thế lực bao gồm phía Đông đến vùng Tây bắc Triều Tiên, phía Nam đến Giang Tô, An Huy v.v… phía Tây đến Tây Vực nên các nước Tây Vực thường đến hiến cống. Năm đầu niên hiệu Hoàng Sơ đời Ngụy Văn đế (năm 220 Tl.), Yên Kỳ, Vu-điền sai sứ phụng hiến. Năm Hoàng Sơ thứ 3 (năm 222 Tl.), vua các nước Thiện Thiện, Qui-tư, Vu-điền đều sai sứ tiến nhập triều. Năm Thái Hoà thứ 3 (năm 229 Tl.), vua Đại Nguyệt Thị sai sứ đến hiến cống. Năm Cảnh Sơ thứ 3, Tây Vực hiến vải không cháy.97 Năm đầu niên hiệu Cảnh Nguyên (năm 260 Tl.), Chu Sĩ Hành xuất phát từ Ung Châu đến Vu-điền tìm cầu kinh Bát-nhã. Nhà Ngụy đặt chức quan Mậu kỷ hiệu uý để bảo vệ Tây Vực.
97 Hán: Hỏa hoán bố 火浣布, một loại vải chịu đựng được lửa, gặp lửa không cháy. Vải này dùng Thạch miên 石綿 (Asbestos [amiăng] - chất khoáng mềm, màu xám, thể sợi, có thể dùng để làm vật liệu chịu lửa hoặc cách nhiệt) dệt thành.
2. Tây Tấn: Họ Tư Mã thay nhà Ngụy, đó là Tây Tấn. Năm đầu niên hiệu Thái Thỉ đời Hiếu Võ đế nhà Tấn (năm 265 Tl.), và năm Thái Thỉ thứ 3 (năm 267 Tl.), Khương Cư sai sứ đến hiến ngựa. Năm đầu niên hiệu Hàm Ninh (năm 275 Tl.), Mậu kỷ hiệu uý Tây Vực là Mã Tuần thảo phạt Tiên Ti. Năm sau ông lại dụng binh ở Tiên Ti. Sau đó bốn năm, các nước Xa Sư Tiền Bộ, Thiện Thiện, Qui-tư, Yên Kỳ v.v… của Tây Vực sai con vào hầu (ở làm con tin). Các nước bên ngoài Thông Lĩnh như Đại Uyển, Khương Cư cũng sai sứ cống hiến ngựa. Đến năm đầu niên hiệu Nguyên Khang đời Huệ đế (năm 291 Tl.), vua nước Qui-tư đến chầu, vua và phu nhân đều ban cho ấn tín và tua lụa buộc ấn tín. Chưa bao lâu thì “Bát vương hoạ Tấn”, nhà Tấn rối ren, nối tiếp nhau lại có “Ngũ Hồ loạn Hoa”, vua Nguyên đế phải sang phía Đông, đóng đô ở Kiến Nghiệp trở thành cục diện thiên an (an phận).
3. Tiền Lương: Sau khi Nguyên đế dời về phía Đông thì năm đầu đời Đông Tấn, Trương Tuấn (người Hán) chiếm cứ phía Tây Lương Châu Cam Túc ngày nay, sử gọi là Tiền Lương. Bấy giờ Hoa Bắc rơi vào loạn lạc nhưng vùng đất từ Cam Túc trở về phía Tây thì bình lặng, thế lực rất phấn chấn. Các nước Tây Vực cống hiến các vật phẩm trân quý như ngựa Hãn huyết, vải không cháy, trâu rừng, chim công v.v… Năm Thái Ninh thứ 2, đời Minh đế nhà Đông Tấn (năm 324 Tl., năm đầu niên hiệu Thái Nguyên nhà Tiền Lương), Trương Tuấn ra lệnh cho bộ tướng của ông là Dương Tuyên vượt qua sa mạc, thảo phạt bình định các nước Thiện Thiện, Qui-tư, do đó bên trong các nước Tây Vực hàng phục. Vua nước Thiện Thiện là Nguyên Mạnh dâng hiến mỹ nữ, các nước Yên Kỳ, Xa Sư Tiền Bộ, Vu-điền đều sai sứ cống hiến những sản vật địa phương.
Đến năm Hàm Hoà thứ 2, đời Thành đế nhà Đông Tấn (năm 327 Tl., năm Thái Nguyên thứ 4 nhà Tiền Lương), quan Mậu kỷ hiệu uý Tây Vực chẳng phục Trương Tuấn, sai binh sĩ bắt giữ Triệu Trinh, đem vùng đất cai trị của quan Mậu kỷ hiệu uý đổi làm quận Cao Xương, đây là lần đầu tiên Tây Vực thiết lập quận huyện. Về sau trở thành đất của Tiền Tần.
4. Tiền Tần: Thị tộc Phù Kiên chiếm cứ Quan Trung, thế lực nước ấy rất mạnh, phía Đông đến vùng Hoài Tứ (sông Hoài, sông Tứ), phía Tây đến Tây Vực, phía Nam đến Tứ Xuyên, phía Bắc đến tận sa mạc lớn. Nhưng nước ấy không muốn vượt xâm lược Đông Tấn mà muốn kinh doanh Tây Vực. Vào năm Thái Nguyên thứ 7, đời Hiếu Võ đế nhà Đông Tấn (năm 382 Tl., năm Kiến Nguyên thứ 18 nhà Tiền Tần), vua nước Xa Sư Tiền Bộ là Di Đề hội cùng với vua nước Thiện Thiện là Hưu Mĩ Sử đến triều yết Tần Phù Kiên, hiến dâng một bộ kinh Bát-nhã bản phạn (vì đất ấy Phật giáo đã thịnh hành). Phù Kiên ban cho họ triều phục, dẫn xem Tây đường, hai vua ấy thấy cung thất tráng lệ, uy nghi trang nghiêm, quá kinh ngạc nên nguyện xin hằng năm cống hiến. Vì đường Tây Vực xa xôi, Phù Kiên không cho, ban lệnh cứ 3 năm một lần cống, 9 năm một lần triều kiến. Hai vua ấy lại nói rằng: “Các nước Đại Uyển… tuy đến triều cống nhưng không trung thành, xin y theo Hán chế thiết lập lại sự đô hộ, nếu nhà vua xuất quân, xin nguyện làm hướng đạo”. Phù Kiên lập tức ra lệnh cho Lữ Quang làm Trì tiết đô hộ, đốc xuất binh sĩ bảy vạn năm ngàn người đi chinh phục Tây Vực. Đang khi Lữ Quang đốc suất binh đến quận Cao Xương thì nghe tin Phù Kiên tấn công Đông Tấn, ông muốn dừng binh ở Cao Xương, nhưng vì bộ hạ can gián nên ông tiếp tục hành quân về phía Tây. Binh của Lữ Quang đến Yên Kỳ thì vua Yên Kỳ hàng. Ông lại công phá tiếp Qui-tư và lập vua mới. Do đó uy danh
của họ Lữ chấn động rất xa, các nước Tây Vực đốc suất nhau, sai Phái viên ngoại giao với Tiền Tần.
Phù Kiên đánh Đông Tấn, bại ở sông Phì Thuỷ, Tiền Tần tan rã, các cường hào Hoa Bắc đều dấy lên, đất đai chia cắt. Lữ Quang thấy nước Qui-tư giàu có muốn lưu trú đất ấy, nhưng qua sự khuyên bảo của Sa-môn Cưu-ma-la-thập98 người Thiên Trúc, Lữ Quang mới trở về Đông. Ngài Cưu-ma-la-thập là vị Sa-môn rất được sùng bái ở Tây Vực. Khi Lữ Quang Tây chinh, Phù Kiên có lệnh rằng: “Nếu được ngài La-thập thì tức tốc đưa về ngay”, nhưng khi được La-thập thì Phù Kiên thất bại lại. Ngài La-thập khuyên Lữ Quang trở về Đông. Trong đại hội văn võ bàn bạc đại kế, nên trở về hay ở lại, mọi người cùng chủ trương trở về Đông, cuộc quay về dùng hơn hai vạn lạc đà chuyên chở đồ trân quý ngoại quốc và những kỹ nghệ kỳ đặc, trò chơi mới lạ, cầm thú quái dị, tuấn mã hơn một vạn con. Lữ Quang vào Ngọc Môn đánh lấy Lương Châu, kiến lập nước Hậu Lương. Quang lệnh cho con của mình làm Đô đốc đại đô hộ, coi hết những việc quân từ Ngọc Môn trở ra phía Tây, trấn thủ quận Cao Xương. Các
98 Cưu-ma-la-thập (Kumarajiva): Tổ tiên ngài là người Thiên Trúc đời đời làm tướng quốc. Cha là Cưu-ma-la-viêm từ bỏ tướng vị xuất gia, đi về phía Đông đến Thông Lĩnh, vua nước Qui Tư ra tận ngoài xa rước ngài vào nước, thỉnh làm quốc sư, lấy em vua là Kỳ-bà-thê-la sinh ra La-thập. La-thập lúc 7 tuổi theo mẹ xuất gia, 9 tuổi cùng mẹ qua sông Ấn Độ vào nước Kế Tân, lúc 12 tuổi theo mẹ trở về, sau được vua Qui Tư rước về, năm 20 tuổi thọ giới ở vương cung đã vang danh tới Trung Quốc. Thời Tiền Tần, Lữ Quang công phá Qui Tư bắt được ngài La-thập, khi Lữ Quang trở lại đất Lương xưng Lương Vương, La-thập sống ở Lương 18 năm không tuyên hóa được gì. Năm Hoằng Thỉ thứ ba đời Hậu Tần (năm 401 Tl.), Tần chủ Diêu Hưng thảo phạt Lương khắc chế được, rồi rước ngài La-thập vào Trường An, dùng lễ quốc sư đãi ngài. Diêu Hưng giúp ngài dịch kinh đến hơn tám trăm vị Sa-môn, trước sau dịch được hơn 300 quyển, năm Hoằng Thỉ thứ 11 đời Hậu Tần (năm 409 Tl.), ngài tịch ở ngôi chùa lớn thành Trường An. (cht. Tg)
nước Yên Kỳ, Qui-tư triều cống cho Lữ Quang. Nhà Hậu Lương kiến lập nước được 15 năm thì bị Tự-cừ-mông-tốn đoạt lấy, kiến lập Bắc Lương, cũng gồm quận Cao Xương và các nước Tây Vực.
5. Hậu Ngụy: Trước đã trình bày, từ Tiên Ti tộc Hậu Ngụy, đến lúc Thập Dực Kiện bị Tiền Tần Phù Kiên đánh bại diệt vong. Khi Tiền Tần loạn diệt vong thì cháu của Thập Dực Kiện là Thác Bạt Khuê vào Hoa Bắc chiếm lại, phục hưng Hậu Ngụy, đó là Đạo Võ đế. Đúng vào năm Thái Nguyên thứ 11, đời Hiếu Võ đế nhà Đông Tấn (năm đầu niên hiệu Đăng Quốc nhà Hậu Ngụy, năm 386 Tl.), ông quay trở lại đuổi Hậu Yên, lấy đất lại. Cháu ông là (Thát Bạt) Đảo tức là Thái Võ đế lại diệt các nước Hạ, Bắc Yên, Bắc Lương, thống nhất phương Bắc Trung Quốc, bao gồm những vùng đất ngày nay: Hà Bắc, Sơn Đông, Sơn Tây, Cam Túc, Giang Tô, Hà Nam, miền Bắc Thiểm Tây, miền Tây Liêu Ninh v.v...., thế nước lúc ấy rất mạnh.
Nguyên buổi đầu thời Đạo Võ (Đạo Võ đế), kinh doanh của Trung Nguyên chưa thong thả và tứ phương lại xa xôi mà việc cống nạp của Tây Nhung chẳng đến. Có vị quan Tư tấu trình y theo việc xưa của nhà Hán, tâu xin thông giao với Tây Vực, Đạo Võ đế nói rằng: “Nhà Hán chẳng bảo vệ biên cương, vỗ yên nhân dân mà mở mang ra tận Tây Vực, khiến cho trong nước hao tốn trống rỗng, nào có lợi gì? Nay nếu mở thông ra đó thì trước tiên tệ hại thêm cho trăm họ!” Vua chẳng nghe theo.99 Trải qua thời Minh Nguyên đế (Thát Bạt Tự) cũng không chấp thuận việc đó. Đến đời cháu của Đạo Võ đế là Thái Võ đế, vào năm đầu niên hiệu Thái Diên nhà Ngụy (Tấn đã mất, năm Nguyên Gia thứ 12 đời Tống Văn đế, năm 435
99 Xem Bắc sử quyển 97, Liệt truyện (Tây Vực) thứ 85. (cht. Tg)
Tl.), chín nước Tây Vực là Sơ-lặc, Qui-tư, Ô Tôn, Duyệt Bát, Hát-bàn-đà,100 Thiện Thiện, Yên Kỳ, Xa Sư, Túc-đặc sai sứ cống hiến. Do đó Thái Võ đế nhà Ngụy sai sứ là Vương Ân Sinh, Hứa Cương v.v.... hơn 20 người sang đáp lại. Họ Vương và những người khác ra đến sa mạc thì bị Nhu Nhiên bắt giữ. Thái Võ đế sai người đánh phạt, Nhu Nhiên Khả Hãn là Ngô Đề (cha của Ngô Đề là Đại Đàn bị Thái Võ đánh bại, lúc này Ngô Đề đang thờ Ngụy), ông liền phóng thích bọn Vương Ân Sinh về, cuối cùng việc đi Tây Vực không đạt kết quả.
Đến năm Thái Diên thứ 3 nhà Ngụy (năm Nguyên Gia thứ 14 đời Tống Văn đế, năm 437 Tl.), vua lại sai Tán kỵ thị lang là Đổng Uyển, Cao Minh v.v.... mang theo nhiều gấm lụa ra đến nước Thiện Thiện, chiêu an vỗ về chín nước. Đổng Uyển qua chín nước, đi về phía Bắc đến nước Ô Tôn (lúc này bị Nhu Nhiên xâm chiếm, dời về phía Tây ở trong núi Thông Lĩnh). Ô Tôn sai người địa phương dẫn đường đi về phía Tây đến nước Phá-lạc-chu (nước Đại Uyển xưa), Giả Thiệt (nước Khương Cư xưa), do đó các nước Tây Vực theo nhóm Đổng Uyển vào triều cống có đến 16 nước.101 Từ đó về sau nối tiếp nhau, năm nào cũng đến triều cống chẳng gián đoạn. Sứ giả nhà Ngụy cũng nhiều hơn mười đoàn.
Đang khi Thái Võ diệt Bắc Lương, em vua Bắc Lương kiêng sợ, sai em mình là An Châu đến bang giao Thiện Thiện. Vua Thiện Thiện thấy Bắc Lương mất, nước ông ta gần nước Ngụy, nếu thông giao (với Bắc Lương) thì chắc chắn nước Ngụy biết sự việc nước Thiện Thiện, nguy cơ mất
100 Hát-bàn-đà 喝槃阤: Khiết-bàn-đà 朅槃阤 (xem cht. 41, tr. 61).
101 Cùng với Hậu Ngụy thông sứ giả có 16 nước là Tất-vạn-cân, Mễ, Thạch quốc, Nữu Mật, Tào, Hà quốc, Giả Thiệt, Thổ-hỏa-la, Áp-đạt, Phá-lạc-na, Duyệt Bát, Túc-đặc, Đại Nguyệt Thị, Kế Tân, Nam Thiên Trúc, Ba-tư... (cht. Tg)
nước nhất định cận kề, chẳng bằng chống lại Bắc Lương. Nhân đó, cho lấp nghẽn lối đi, chận giết sứ giả đến, chẳng thông giao vài năm. Đến năm Nguyên Gia thứ 22 đời Tống Văn đế (năm Thái Bình Chân Quân thứ 6 đời Ngụy, năm 445 Tl.), Ngụy Thái Võ đế lệnh cho Châu Công, Vạn Độ Qui dẫn binh tấn công Thiện Thiện, vua nước ấy hàng, Thái Võ cho Hàn Bạt làm vua Thiện Thiện, Hộ Tây Vực hiệu uý, trấn thủ Thiện Thiện, coi như quận huyện. Về sau, vào năm Nguyên Gia thứ 25 (năm Thái Bình Chân Quân thứ 9 nhà Ngụy, năm 448 Tl.), Vạn Độ Qui đem năm ngàn kỵ binh chinh phạt Yên Kỳ, vì nước ấy thường chận đường giết sứ giả Ngụy, tháng 9 năm ấy triệt hạ Yên Kỳ, vua nước ấy chạy trốn sang Qui-tư, họ Vạn đuổi theo đến Qui-tư, rồi bình định luôn Qui-tư, Tây Vực lại thông suốt, người đi triều yết nối gót nhau mà đến.
6. Nước Cao Xương: Cao Xương là đất cũ của Tiền Xa Sư. Từ Đông sang Tây 200 dặm, từ Nam ra Bắc 500 dặm, bốn bề nhiều núi lớn, xưa Hán Võ sai binh thảo phạt phía Tây, quân đội đình trệ rất khốn đốn, nhân đó trú đóng ở đây. Đất ấy có thành lũy đóng quân cao ngất nên gọi là Cao Xương. Quan Trưởng sử Tây Vực đời Hán và quan Mậu kỷ hiệu úy chia nhau cư trú. Nhà Tấn lấy đất này làm quận Cao Xương, quan Mậu kỷ hiệu úy cũng trụ ở đây. Trương Quỹ, Lữ Quang, Tự-cự-mông-tốn khi chiếm cứ Hà Tây đều đặt quan Thái thú để thống lĩnh Cao Xương. Bên trong bờ cõi có nhiều người Hoa, họ là những người dân di trú của thời Hán-Ngụy. Lúc đó, nhà Bắc Lương mất, em vua nước ấy không kiêng dè vùng sa mạc mà tập kích Cao Xương, lại xâm lược đất Xa Sư Tiền Bộ. Đến năm Đại Minh thứ 4, đời Hiếu Võ đế nhà Tống (năm 460 Tl.), Nhu Nhiên đánh phá Cao Xa, lập người Hán là Hám Bá Châu làm vua Cao Xương, đó là lần đầu tiên kiến lập nước Cao Xương. Sau khi
Bá Châu chết, con ông ấy là Nghĩa Thành lên thay, về sau bị người anh họ là Thủ Qui giết chết, Thủ Qui lại làm vua Cao Xa, mở rộng đến tận nước La Sát.102 Sau đó, người Đôn Hoàng là Trương Mạnh Minh làm vua, ông lại bị nhân dân nước ấy giết chết để lập Mã Nhu lên, rồi người trong nước giết Mã Nhu lập Khúc Gia lên làm vua, ông này xưng thần với Nhu Nhiên, họ Khúc vốn người Kim Thành (huyện Cao Lan), cũng thuộc người Hán.
Họ Khúc kiến lập quốc, tất cả lễ nghi quan phủ đại lược đều theo phép người Hán, văn tự cũng đồng, có sử dụng thêm sách vở người Hồ, tin dùng “Ngũ kinh, Chư sử”,103 đặt chức học quan để giáo dục mọi người, nhưng đều là ngôn ngữ người Hồ. Trong Vương thất vẽ tượng Lỗ Ai Công104 hỏi việc chính trị với đức Khổng Tử, chế định niên hiệu của triều đại ấy, lại có những niên hiệu như Trùng Quang, Chương Hòa, Vĩnh Hòa, Kiến Xương, Diên Hòa, Nghĩa Thọ v.v.... đều ảnh hưởng văn hóa Hán. Tục thờ thiên thần và tin Phật pháp, trải nhiều đời phụng sự nước Nhu Nhiên, Đột-quyết và Thiết Lặc, có lúc phụng sự Trung Quốc. Thời Hậu Ngụy từng sai sứ cống hiến sản vật địa phương, thời Bắc Châu có 16 thành, thời Tùy có 18 thành, nước ấy một mặt thì bảo trì văn hóa Hán, một mặt thì hấp thu văn hóa các dân tộc ở bên ngoài biên giới, tạo nên một hình thức văn hóa tổng hợp tiêu biểu.
7. Triều Tùy: Việc kinh doanh Tây Vực của các nước Tống, Tề, Lương, Trần ít thấy biểu hiện, vì đường xá xa xôi, núi sông cách trở, nhưng những người đi đến Tây Vực cầu
102 Nước La Sát 羅剎國: Hoặc gọi La Thiền, tức nước Nga.
103 Ngũ kinh, Chư sử: Thi, Thư, Dịch, Lễ, Xuân Thu và những bộ sử.
104 Lỗ Ai Công 魯哀公: Một trong những vị quân chủ nước Lỗ thời Xuân Thu, tại vị được 27 năm, từ năm 494 đến năm 468 trước Tây lịch.
kinh thì rất nhiều, như ngài Pháp Hiển đến Ấn, ngài Huệ Sinh, Tống Vân v.v... đi về phía Tây Ấn Độ, cho đến các vị sư ở các nước Tây Vực nối gót nhau đi về phía Đông phiên dịch kinh điển (xem thêm ở tiết sau), khiến cho văn minh Phật giáo phát triển cực thịnh. Đến khi Tùy Văn đế thống nhất Trung Quốc, nước giàu dân thịnh, phía Bắc còn kiêng dè Đột-quyết. Thời Dương đế thì có tâm nghĩ đến Tây Vực, lúc ấy có thể vì thấy Trương Dịch là nơi thương nhân Tây Vực buôn bán, nên nhà vua mới ra lệnh cho Bùi Củ quản lý việc buôn bán của thương nhân người Hồ. Họ Bùi thăm dò hỏi han những thương nhân người Hồ, biết rõ phong tục, núi sông, chỗ hiểm yếu của từng nước, rồi soạn vẽ ra ba quyển “Tây Vực đồ ký” dâng lên vua. Dương đế rất vui lòng, ra lệnh cho họ Bùi chiêu tập các nước Tây Vực.
Năm Đại Nghiệp thứ 4 nhà Tùy (năm 608 Tl.), Dương đế lệnh cho Tiết Thế Hùng làm Ngọc Môn hành quân đại tướng, liên hiệp với Khải Dân Khả Hãn của Đông Đột-quyết đánh Y Ngô. Lúc ấy Y Ngô thuộc về Thiết Lặc. Quân ra khỏi Ngọc Môn, binh của Khải Dân Khả Hãn chẳng đến, chỉ một mình quân của họ Tiết vào sâu, đầu tiên Y Ngô cho là quân Tuỳ không thể đến nên khi nghe Thế Hùng đến thì xin hàng. Thế Hùng cho xây dựng ngôi thành ở phía Đông thành Y Ngô, rồi để lại hơn một ngàn người đóng giữ ở đó.
Đến tháng 6 năm Đại Nghiệp thứ 5 (năm 609 Tl.), Dương đế đi tuần phương Tây đến Trương Dịch. Trước khi đi tuần, vua lệnh cho Bùi Củ đi đến Tây Vực thuyết phục vua Cao Xương, quan Thổ-đồn-thiết ở Y Ngô, dùng lợi lộc nhiều, nhử cho họ vào triều yết. Xa giá vua vừa đến núi Yên Kỳ thì vua Cao Xương là Bá Nhã và quan Thổ-đồn ở Y Ngô cùng sứ giả của 27 nước Tây Vực đều triều yết ở bên trái đường, họ được lệnh đeo vàng ngọc, mặc gấm dạ, đốt hương tấu nhạc, lại
lệnh cho trai gái của Võ Uy, Trương Dịch ăn mặc trang sức lộng lẫy; xe, ngựa không đẹp thì quận huyện giám sát, kiểm tra. Quan Thổ-đồn-thiết hiến đất đến vài ngàn dặm, sau đó người vào cống hơn 30 nước, đặt quan Hiệu úy Tây Vực để ứng tiếp họ. Bấy giờ ngoại trừ Cao Xương, Y Ngô phía Nam núi, còn có các nước Yên Kỳ, Qui-tư, Sơ-lặc, Vu-điền v.v... đều sai sứ vào cống. Bên ngoài núi Thiết Lặc Tây Đột-quyết cũng thông hảo với nhà Tùy, sứ giả thông giao ra ngoài Thông Lĩnh hơn 20 nước.105
Về sau ở vùng đất phía Tây Thả-mạt, Nặc Khương thiết trí hai quận là Thả-mạt và Thiện Thiện. Nguyên vì Thiết Lặc vi phạm biên giới, Dương đế sai Bùi Củ công phạt, Thiết Lặc tạ tội, lấy việc đánh Thổ-cốc-hồn (nay tại Thanh Hải) làm điều kiện. Năm Đại Nghiệp thứ 4 (năm 608 Tl.), quả nhiên Thiết Lặc đánh, đại phá Thổ-cốc-hồn, quân Tùy lại sai Vũ Văn Thuật truy đuổi họ, đến hai thành Bạt-mạn-đầu và Xích Thủy, bắt được từ vương công nước ấy trở xuống hơn 200 người, người qui hàng kể cả nam nữ hơn mười vạn. Vua Thổ-cốc-hồn là Phục Duẫn chạy về phía Nam Tuyết Sơn (tại tỉnh Tây Khương ngày nay), đất bỏ lại từ Đông sang Tây tới bốn ngàn dặm, từ Nam ra Bắc hai ngàn dặm, đều thành sở hữu của nhà Tùy, cắt đặt làm bốn quận là Tây Hải, Hà Nguyên, Thiện Thiện, Thả-mạt, lưu đầy những tội nhân trong thiên hạ làm lính thú để giữ vùng đó. Mở mang đồn điền ở trấn Thích Thạch (nay là Thích Thạch Sơn), chế ngự Thổ-cốc-hồn để giữ lưu thông con đường Tây Vực, toàn bộ Thanh Hải thẳng đến phía Nam núi Thiên Sơn đều thuộc về Trung Quốc.
105 Cùng với Tùy thông sứ giả có nước: Khương, Mễ, Sử, An, Tào, Hà, Thạch, Tào, Mục Quốc, Thổ-hỏa-la, Áp-đạt, Duyệt Bát, Phạt Hãn, Ô-na-át, Nữ quốc v.v.... (cht. Tg)