Tìm kinh sách
Vần A-Z:
Nghiên cứu Phật Giáo Tây Vực

Nghiên cứu Phật Giáo Tây Vực

Tác giả: Cư sĩ Tuệ Khai, Phụ chú: Thích Tâm Nhãn. Dịch giả: Cư sĩ Tuệ Khai, Phụ chú: Thích Tâm Nhãn. Năm xuất bản: 2011. Số trang: 604.

Chương 59: V. Vu-Điền Trên Lịch Sử Trung Quốc (Trang 524 - 537)

Nếu tham chiếu những ghi chép cổ đại để suy tìm xác định chủng tộc nhân dân Hòa-điền ngày nay, thì có thể biết họ là những người di trú từ miền Tây bắc Ấn Độ, nơi thượng lưu sông Ấn Độ; nên ngôn ngữ và văn học trong văn thư cổ mà ông Stein phát hiện tại Niya, hiển nhiên là dạng thức của Ấn Độ cổ đại thế kỷ thứ III. Và dựa theo đó có thể xác minh: muộn lắm là thế kỷ thứ III, dân tộc hệ thống Ấn Độ-Iran đã chiếm một phần chủ yếu về số người ở Vu-điền. Đồng thời theo thuyết Vu-điền kiến quốc trong Tây Vực ký, thì dân di cư đến từ Ấn Độ và Trung Quốc; lại so sánh trong Ngụy thư ghi chép, thời Hậu Ngụy tồn tại từ năm 386 đến năm 532 Tây lịch, cho nên nếu Vu-điền lập quốc khoảng thế kỷ thứ III, thứ IV, thì dân di cư từ Trung Quốc đến cũng tương ứng với thế kỷ thứ III, thứ IV trở về trước. Như vậy, thời đại kiến quốc của Vu-điền đúng với thế kỷ thứ III trở về trước.
V. VU-ĐIỀN TRÊN LỊCH SỬ TRUNG QUỐC
1. Vu-điền đời Hán — Truyện Tây Vực trong Hán thư (quyển 96, thượng), trình bày hình thế của Vu-điền thời hậu bán thế kỷ thứ II trước kỷ nguyên Tây lịch như sau:
“Vương triều của vua nước Vu-điền ở Tây thành, cách Trường An 9.670 dặm. Dân số có 3.300 hộ, 19.300 người, binh hùng mạnh 2.400 người…. Từ Đông bắc đến chỗ trưởng quan Đô hộ là 3.947 dặm; phía Nam tiếp giáp với Nặc-khương, phía Bắc tiếp giáp Cô Mặc. Phía Tây Vu-điền, các dòng sông đều chảy về Tây, đổ vào Tây Hải; phía Đông cũng có nhánh sông chảy về Đông, đổ vào Diêm Trạch (đầm mặn). Nguồn sông sản sinh ra nhiều ngọc thạch.”
Chỗ Tây Thành tức là thành thị phía Tây sông Hòa-điền; vị trí thành ấy tương đương với Hòa-điền ngày nay. Phía Nam
gần Tây Tạng. Nhưng nói phía Bắc giáp với Cô Mặc (tức tiếp giáp Yaka-aryk) là lầm. Phía Đông rặng núi Karakoram, sông đều chảy về Đông, vào đến Lop Nor; phía Tây mạch núi ấy, nước sông đều chảy về Tây, giống với địa lý hiện nay. Sản vật ngọc thạch từ lâu đã truyền tới Trung Quốc. Truyện  Tây Vực trong Hậu Hán thư (quyển 88) thuật lại sự thật lịch sử Vu-điền thời thế kỷ thứ I, thứ II Tây lịch:
“Nước Vu-điền ở Tây Thành, cách chỗ ở của Trưởng sử 5.300 dặm, cách Lạc Dương 11.700 dặm, có 32.000 hộ, 83.000 người, binh hùng mạnh 30.000 người.”
So sánh những điều ấy với thời đại Tiền Hán thì số hộ như tăng thêm 10 lần, số nhân khẩu tăng 4, 5 lần, binh số thì gấp 12, 13 lần. Có thể biết vận nước trong thời gian này nhất định có sự tăng tiến rõ ràng. Theo Hậu Hán thư ghi chép sự giao thiệp của Trung Quốc và Vu-điền như sau:
Khoảng niên hiệu Kiến Võ đời Quang Võ đế (năm 25-55 Tl.), có vị vua Sa-xa ở vùng Yarkand, Karghalik ngày nay, tên là Hiền, công phá thôn tính Vu-điền. Sau đó nhà vua thuận theo số đông, đồng ý dời vào bên trong lãnh thổ Sa-xa. Niên hiệu Vĩnh Bình đời Minh đế (năm 58-75 Tl.), Võ tướng Vu-điền là Hưu Mạc Bá phản Sa-xa, tự lập làm vua Vu-điền. Hưu Mạc Bá chết, con người anh là Quảng Đức (Truyện Vu-điền trong Lương thư quyển 54, viết là Quảng Đắc) kế vị. Về sau lại chỉnh đốn luyện tập binh mã, tiêu diệt Sa-xa, thôn tính đất ấy, phía Bắc tiếp giáp biên giới Sơ-lặc. Ông ta lại chinh phục các nước lân cận phía Đông, chiếm hữu đất đai đến tận phía Đông Vu-điền 700 dặm. Trong các nước lưu vực sông Tarim, số nước phục tùng Vu-điền có đến 13 nước. Đương thời nước Thiện Thiện ở con đường phía Nam (Nam đạo) thuộc miền Đông rất giàu mạnh; Vu-điền đối kháng với
Thiện Thiện, xưng hùng ở miền Tây. Mùa Đông năm Vĩnh Bình thứ 16 (năm 74 Tl.), Ban Siêu vào Tây Vực, dùng uy lực của nhà Hán chinh phục các nước Tây Vực, nhưng bảo hộ Vu-điền. Ban Siêu đóng ở Tây Vực hơn 30 năm. Vào thời ấy, Vu-điền thường trợ giúp Trung Quốc, khi Ban Siêu đánh Sa-xa, tấn công Sơ-lặc, Vu-điền đều trung thực hiệp trợ, nên Vu-điền là nước thân thiện nhất trong các nước thuộc Tây Vực.
Năm Vĩnh Kiến thứ 6 đời Thuận đế (năm 131 Tl.), vua Vu-điền là Phóng Tiền sai sứ đến chầu, cống hiến sản vật địa phương. Năm đầu niên hiệu Nguyên Gia đời Hoàn đế (Đông Hán) (năm 151 Tl.), Trưởng sử Triệu Hứa ở Vu-điền bị bệnh ung thư mà chết. Con Triệu Hứa đi đến Vu-điền rước tang, trên đường về đến nước Câu-di, vua Câu-di tên là Thành Quốc, vốn có hiềm khích với Vương Kiến của Vu-điền, mới bảo con Triệu Hứa rằng: “Vua Vu-điền ra mật lệnh cho thầy thuốc, dùng thuốc độc đặt vào trong vết thương của Triệu Hứa, giết chết ông ấy”. Con Triệu Hứa tin lời của Thành Quốc, trở về tấu trình với thái thú Đôn Hoàng là Mã Đạt. Năm sau, Vương Kính thay nhận chức Trưởng sử, sắp vào Tây Vực, Mã Đạt lại đem lời tố cáo của con Triệu Hứa nói lại cho Vương Kính. Lúc Vương Kính đi qua Câu-di, Thành Quốc lại làm Vương Kiến của Vu-điền bị thương, Vương Kính liền tin điều đó. Đến được Vu-điền, ông liền bắt Vương Kiến giết đi. Tướng Vu-điền là Thâu-cức giận lắm, dẫn binh giết Vương Kính và quan lại đi theo ông ấy. Người trong nước vẫn lập con của Vương Kiến là An Quốc làm vua, từ đó oán thù với Trung Quốc.
2. Nước Vu-điền thời Hậu Ngụy — Truyện Tây Vực trong Ngụy thư (quyển 102) thuật về tình hình nước Vu-điền ở thế kỷ thứ V:
“Nước Vu-điền ở phía Tây bắc Thả-mạt, cách phía Bắc Thông Lĩnh hơn 200 dặm; phía Đông cách nước Thiện Thiện 1.500 dặm, phía Nam cách nước Nữ 2.000 dặm, cách Chu-câu-ba 1.000 dặm, phía Bắc cách Qui-tư 1.400 dặm, cách Đại Cửu 1.800 dặm. Đất nước ấy rộng hàng ngàn dặm, núi liền nhau, đô thành vuông 8, 9 dặm. Bên trong nước có 5 thành lớn, hơn mười thành nhỏ. Cách 30 dặm phía Đông thành Vu-điền có sông Mục-bạt, ở trong sông sản sinh ngọc thạch. Đất thích hợp ngũ cốc và cây dâu, cây mè, núi nhiều ngọc đẹp. Nước có ngựa hay, lạc đà, lừa. Hình pháp nước Vu-điền: giết người đền mạng, các tội khác đều theo nặng nhẹ mà trừng phạt. Ngoài phong tục và sản vật, còn lại giống với Qui-tư. Thường trọng Phật pháp, chùa tháp Tăng ni rất đông; vua rất tin chuộng Phật pháp, mỗi ngày thiết lễ trai Tăng, vua luôn đích thân quét dọn, đem dâng các món ăn…. Phong tục không lễ nghĩa, nhiều đạo tặc, dâm dục phóng túng… Cách thành về phía Đông 20 dặm có sông lớn chảy về Bắc, tên là sông Thọ Chi tức là Hoàng Hà, một tên khác là sông Kế Thức. Cách thành về phía Tây 55 dặm cũng có con sông lớn tên là sông Đạt Lợi, dòng chảy hợp với sông Thọ Chi đều chảy về phía Bắc.”
Sách này cho là diện tích lãnh thổ Vu-điền dài rộng một ngàn dặm, thủ phủ vuông 8, 9 dặm, bên trong lãnh thổ có 5 thành lớn, vài chục thành nhỏ, vì thế kỷ thứ V, Vu-điền là một nước lớn ở lưu vực sông Tarim. Sông Mục-bạt (Bắc sử quyển 97 viết là sông Thủ-bạt) là sông Bạch Ngọc, sông Đạt Lợi là sông Hắc Ngọc, sông Thọ Chi là sông Kế Thức, có thể là sông Hòa-điền. Từ quốc vương cho đến thần dân đều tin Phật, Tăng ni rất đông.
Trong Ngụy thư ghi chép về sự giao thiệp giữa Vu-điền và Trung Quốc như sau: Năm Thái Diên thứ 4, Thế Tổ Thái Võ đế nhà Hậu Ngụy (năm 439 Tl.) chinh phạt Lương Châu, Mộ Lợi Diên của Thổ-cốc-hồn sợ, dẫn bộ hạ trốn ở lưu vực sông Tarim. Thế Tổ sai sứ dụ ông về cho ở lại bổn quốc, lập con của anh ông là Vĩ Đại làm vua, nhưng Mộ Lợi Diên giết Vĩ Đại. Năm sau là năm đầu niên hiệu Thái Bình Chân Quân (năm 440 Tl.), Thế Tổ sai Cao Lương Vương Na phát binh đánh Mộ Lợi Diên. Mộ Lợi Diên cả sợ, lại dẫn bộ hạ chạy vào lưu vực Tarim. Quân Ngụy truy kích theo, Mộ Lợi Diên tiến về phía Tây đến Vu-điền, giết vua nước ấy, giết cả nhân dân Vu-điền (tham chiếu truyện Thổ-cốc-hồn trong Ngụy thư quyển 201). Năm Hoàng Hưng thứ 4, đời Hiển Tổ Hiến Văn đế (năm 470 Tl.), bộ tộc Nhuyễn Nhuyễn cướp phá Vu-điền, Vu-điền sai sứ đi cầu cứu Ngụy. Nhưng Nhuyễn Nhuyễn chỉ cướp đoạt chưa thể tấn công thành. Trung Quốc tuy có sai viện binh, nhưng trú đóng ở Vu-điền không quá một hai năm, nên không giúp ích gì. Về sau do không có việc gì phải bãi binh.
3. Vu-điền thời Tiêu Lương — Truyện Tây Vực trong Lương thư (quyển 54), ghi tình hình nước Vu-điền ở thế kỷ thứ VI: “Nước Vu-điền thuộc Tây Vực… Đất ấy nhiều vùng sa thạch (cát đá kết), mưa ngập, khí hậu thích nghi cho lúa nước, lúa mì, nho; có sông sản sinh ngọc tên là sông Bạch Ngọc. Người trong nước giỏi nghề đúc đồ đồng. Chính quyền nước ấy ở thành Tây Sơn, có nhà cửa chợ giếng. Hoa quả rau trái giống Trung Quốc. Rất kính Phật pháp. Nhà ở của vua có tô vẽ màu đỏ. Mũ vua khăn bịt bằng vàng như mũ Hồ công12 ngày nay. Cho vợ cùng ngồi tiếp khách. Phụ nữ trong nước
 

12 Mũ Hồ công 胡公帽: Dân tộc thiểu số vùng Tây Vực thường đội. Loại mũ này dùng nhiều gấm kim tuyến dệt thành, hơi dày. Trên đỉnh mũ để lộ một chóp nhọn nhỏ, xung quanh thêu hoa văn…
 
đều bện tóc, mặc váy áo cừu. Cung cách của người nước ấy là gặp gỡ nhau thì quì; cách quì của họ là một gối đặt xuống đất. Sách thì dùng gỗ làm giấy bút, dùng ngọc làm ấn. Người trong nước được sách là đội ở trên đầu, sau mới mở ra xem.”
Thành Tây Sơn đó giống với Tây Thành trong Hán thư. Ngày nay ở Hòa-điền vẫn còn sản xuất gạo, lúa mì, nho, đúc tạo đồ đồng. Việc có sa mạc và sông sản sinh ngọc, giống với việc ghi chép của ngài Huyền Trang. Viết sách ở trên vỏ cây hoặc mảnh vân gỗ, chính giữa xoi lỗ xâu lại cũng giống tập tục, phong cách Ấn Độ cổ đại. Trong Lương thư ghi Vu-điền giao thiệp với Trung Quốc là bốn lần: Năm Thiên Giám thứ 9 đời Lương Võ đế (năm 510 Tl.), năm thứ 13, năm thứ 18 và năm Đại Đồng thứ 7 (năm 541 Tl.), lần sau cùng mới hiến tặng tượng Phật điêu khắc bằng ngọc.
4. Nước Vu-điền thời Tùy-Đường — Truyện Tây Vực trong Tùy thư (quyển 83) tuy có ghi chép tình hình nước Vu-điền, từ cuối thế kỷ thứ VI đến đầu thế kỷ thứ VII, nhưng tất cả nội dung giống trong Ngụy thư, chỉ thêm tên một vị quốc vương họ Vương tên Ty mà thôi. Truyện Tây Vực trong Cựu Đường thư (quyển 198) thuật tình hình nước Vu-điền, từ thế kỷ thứ VII đến hết thế kỷ thứ IX:
“Nước Vu-điền, phía Tây nam dải Thông Lĩnh, tiếp giáp với nước Qui-tư, cách phía Tây đô thành đế vương là 9.700 dặm. Binh hùng mạnh 4.000 người. Nước ấy sản xuất ngọc đẹp, phong tục nhiều kỹ xảo khéo léo, ưa thờ yêu thần (Hỏa giáo Ba-tư), cũng sùng tín Phật giáo. Trước thần phục với Tây Đột-quyết.”
Truyện Tây Vực trong Đường thư (quyển 221) lại nói:
“Vu-điền… cách kinh sư đế vương 9.700 dặm, Qua Châu13 hơn 4.000 dặm. Đồng thời có đất cũ của năm nước là Hán, Nhung Lư, Can Di, Cừ Lặc, Bì Sơn. Căn cứ của Vu-điền là thành Sơn Tây. Binh hùng mạnh 4.000 người. Có sông ngọc, người trong nước ban đêm thấy chỗ nhiều ánh sáng trắng thì nhất định có ngọc đẹp. Nhà của vua có vẽ vời. Phong tục kỹ xảo khéo léo, lời lẽ nhiều quanh co, ưa thờ yêu thần và pháp Phù-đồ (Phật). Song dáng mạo kính cẩn, gặp gỡ nhau đều quì. Dùng gỗ làm sách chép truyện, dùng ngọc làm ấn. Phàm nhận được sách đội lên đầu rồi mới mở ra xem. Từ đời Hán Võ đế trở lại, chiếu thư, thẻ bài Trung Quốc, vua nước ấy trao nhau truyền dùng. Người nước ấy ưa ca múa, khéo xe sợi dệt tơ. Phía Tây có sa mạc Thử…, phía đông Vu-điền 300 dặm có sông Kiến Đức Lực, cách 700 dặm thì có nước Tinh Tuyệt.14 Phía đông dòng sông có Hãn Di,15 nơi căn cứ là thành Đạt Đức Lực, cũng gọi là thành Câu Di, tức thành cũ Ninh Di, đều là nước nhỏ…”
Xét theo nột dung trong hai tập sách ấy thì nước Vu-điền đời Đường, ngoài đất cũ Vu-điền đời Hán, còn gom luôn đất của Nhung Lư, Can Di, Cừ Lặc, Bì Sơn, đặt thủ phủ ở thành Tây Sơn. Quân thường đủ 4.000 người. Bên trong lãnh thổ có sông Ngọc, sản sinh ra ngọc. Phong tục nhân dân đều thích mỹ thuật. Nhà ở của quốc vương bốn mặt đều có bích họa.
 

13 Qua Châu 瓜州: Đất thời xưa của Tây Nhung, nay thuộc vùng huyện Đôn Hoàng tỉnh Cam Túc.
14 Nước Tinh Tuyệt 精絕國: Một trong những nước ở Tây Vực thời Hán. Vị trí hiện nay trong sa mạc Qua-bích, phía Đông huyện Hòa Điền tỉnh Tân Cương.
15 Hãn Di 汗彌: Hay gọi Ninh Di, Câu Di v.v…, một nước xưa ở Tây Vực thời Hán. Vị trí hiện nay là di tích cổ thành Câu Di, phía Đông sông Khắc-lý-nhã, huyện Vu-điền tỉnh Tân Cương.
 
Toàn quốc kẻ trên người dưới đều sùng bái thần Mã-trí-đạt (Ahura Mazda) của Yêu giáo (Zoroastrism), hoặc phụng thờ Phật giáo. Thường ca múa, phần nhiều làm nghề kéo sợi dệt tơ. Dân trọng lễ nghĩa, nghiêm cẩn kính trọng người. Cách 300 dặm về phía Đông Vu-điền có sông Kiến Đức Lực. Phía Đông sông có nước Câu Di, tức là nước mà đời Đường gọi là nước Hãn Di, có thành Đạt Đức Lực.
Lại nữa, từ hai sách ấy mà nghiên cứu sự giao thiệp giữa Trung Quốc và Vu-điền:
Dòng dõi vương thất Vu-điền họ Úy-trì (Vijava, trong truyện của Tây Tạng) tên là Khuất-mật (Đường thư viết là Ốc-mật), đời Đường Thái Tông năm Trinh Quán thứ 6 (năm 632 Tl.), sai sứ đến hiến sản vật địa phương. Năm thứ 13 (Trinh Quán), A-sư-na-xã-nhĩ phụng sắc dụ của Thái Tông, chinh phạt Qui-tư; vua Vu-điền là Phục-xà-tín xuất ra 300 đầu ngựa, lạc đà để giúp đỡ binh Đường. Khi bộ hạ Xã-nhĩ về Trung Quốc, Phục-xà-tín theo họ đến Trường An. Thái Tông mất, Cao Tông lên ngôi. Nhà vua cả mừng, trao cho Phục-xà-tín danh hiệu Đại tướng quân; con ông ấy là Điếm cũng được ban cho chức Tướng quân. Họ lưu lại vài tháng mới trở về bổn quốc. Họ còn xin với triều đình cho con cháu họ ở lại Trường An học tập. Đầu niên hiệu Thượng Nguyên đời Cao Tông (năm 674 Tl.), Phục-xà-tín chết, Phục-xà-hùng lên ngôi. Phục-xà-hùng dẫn con em, tù trưởng, thủ lĩnh gồm 70 người đi đến Trung Quốc, trợ giúp Trung Quốc đánh Thổ-phồn (người Tây Tạng), họ được công trạng rất nhiều. Vua Cao Tông mới đặt Tỳ sa đô đốc phủ, phong Phục-xà-hùng làm Đô đốc, cho cai quản Vu-điền và đất của 10 châu gần nước ấy. Năm Thiên Thọ thứ 3 đời Võ Hậu (năm 692 Tl.), Phục-xà-hùng chết, con ông là Cảnh lên ngôi. Năm Khai Nguyên thứ 16 đời Huyền Tông (năm 728 Tl.), Cảnh chết,
Uý-trì-phục-sư-chiến (Cựu Đường thư lược bỏ chữ chiến) kế vị. Phục-sư-chiến chết, Phục-xà-đạt nối ngôi. Rồi Uý-trì-khuê, Uý-trì-thắng kế tục nhau nối ngôi. Năm đầu niên hiệu Chí Đức đời Túc Tông (năm 756 Tl.), loạn An Lộc Sơn, binh sĩ Vu-điền tại Trường An đều trợ lực quân Đường chiến đấu. Nên năm Càn Nguyên thứ 3 đời Túc Tông (năm 760 Tl.), em của Uý-trì-thắng (vua Vu-điền) là Diệu, khi đốc suất binh sĩ ở Trung Quốc, được triều đình ban cho Diệu chức Thái bộc viên ngoại lang, cho làm quan chuyên coi về việc giao tế với các nước thuộc vùng Tây Vực.
5. Nước Vu-điền thời Ngũ Đại — Thời Ngũ Đại, bên trong Trung Quốc loạn liên miên, triều đình không thể để sức đến vùng Tây Vực, nhưng Vu-điền vẫn giao thiệp với Trung Quốc vài lần. Truyện Tây Vực trong Ngũ Đại sử (quyển 74) có ghi chép về tình hình của Vu-điền ở thế kỷ thứ X:
Năm Thiên Phước thứ 3 đời Tấn Cao Tổ (năm 938 Tl.), vua nước Vu-điền là Lý Thánh Thiên, sai sứ giả Mã Kế Vinh đến cống sản vật địa phương. Cao Tổ sai Trương Khuông Nghiệp và Cao Cư Hối đi sứ Vu-điền. Mùa Đông tháng 12, Khuông Nghiệp hành trình xuất phát từ Linh Châu, hai năm đến Vu-điền. Mùa Đông năm Thiên Phước thứ 7, ông trở lại Trung Quốc, trình bày tình cảnh của Vu-điền:
“Áo mũ của Thánh Thiên như Trung Quốc. Cung điện của vua đều hướng về Đông, gọi là điện Kim Sách. Có lầu Thất Phụng. Lấy nho làm rượu, lại có rượu màu đỏ tía, rượu màu xanh, chẳng biết cách gây men ra sao mà mùi vị rất ngon. Người nước ấy ăn cơm gạo trộn với mật, cơm gạo trộn với cao sữa. Y phục của họ bằng vải, lụa. Có vườn tược trồng hoa, trồng cây. Thông thường ưa quỉ thần nhưng cũng thích phụng thờ Phật. Chỗ ở của Thánh
Thiên thường có 50 vị Tăng áo tía hầu cận… Phía Đông nam nước ấy gọi là Ngân Châu, Lư Châu, My Châu. Cách 1.300 dặm về phía Nam nước ấy gọi là Ngọc Châu. Người ta kể rằng, Trương Khiên đời Hán đã đến tận đầu nguồn con sông ở Vu-điền, núi nhiều ngọc là núi này. Nguồn sông ấy chảy đến Vu-điền phân ra làm ba nhánh, chảy về Đông gọi là sông Bạch Ngọc, hai dòng chảy về Tây gọi là sông Lục Ngọc, và sông Ô Ngọc. Ba dòng sông đều có ngọc mà màu sắc khác nhau. Mỗi năm vào mùa Thu nước cạn, quốc vương lặn mò ngọc ở sông, sau đó mới đến người trong nước lặn mò ngọc… Thánh Thiên lại sai Đô đốc Lưu Tái Thăng hiến tặng ngọc cho Trung Quốc hàng ngàn cân và ấn ngọc, chày hàng ma v.v…  Năm đầu niên hiệu Càn Hựu nhà Hán lại sai sứ giả là Vương Tri Đạc đến.”
Đương thời Vu-điền làm rượu nho và các loại rượu khác, dùng gạo lúa nước, mạch nha, cao sữa làm đồ ăn, dùng lụa, vải may quần áo, giống với thời trước của Chính sử. Tôn giáo của Vu-điền là Phật giáo và Yêu giáo. Đông nam có Ngân Châu, Lư Châu, My Châu, phía Nam cách 1.300 dặm có Ngọc Châu. Bốn châu này hình như nằm trong 10 châu mà Đường thư nói Thời Cao Tông sai Phục-xà-hùng là vua nước Vu-điền quản lý. Còn ba dòng sông Bạch Ngọc, Lục Ngọc, Ô Ngọc thì như đã thuật trước. Mỗi năm vào cuối Thu, nước sông cạn, quốc vương trước tiên cùng thị thần đến sông lượm ngọc, sau đó mới đến nhân dân lượm ngọc. Vua Vu-điền Lý Thánh Thiên sai bộ hạ là Lưu Tái Thăng đến Trung Quốc hiến tặng ngọc với số lượng rất nhiều. Năm đầu niên hiệu Càn Hựu (năm 948 Tl.), Hán Ẩn đế lại sai Vương Tri Đạc đến Vu-điền. Quan sát tên họ từ quốc vương Lý Thánh Thiên trở xuống, như Lưu Tái Thăng, Vương Tri Đạc v.v… thì Vu-
điền hiển nhiên đã Hán hóa cực độ, sử dụng họ tên theo hình thức Trung Quốc, hơn nữa cùng Trung Quốc qua lại rất mật thiết, sự việc rất minh bạch.
6. Nước Vu-điền đời Tống — Truyện Tây Vực trong Tống sử (quyển 490) ghi lại sự thật về mối quan hệ ngoại giao của Trung Quốc và Vu-điền, từ thế kỷ thứ X đến thế kỷ thứ XII rất rõ ràng, nay trích những điểm chủ yếu như sau:
Tháng 5 năm Càn Đức thứ 3, đời Tống Thái Tổ (năm 965 Tl.), vua Vu-điền sai hai vị Phật tăng là Thiện Danh, Thiện Pháp mang quốc thư đến Trung Quốc. Mùa Đông cùng năm, vị Tăng Trung Hoa là Đạo Viên qua Vu-điền, quốc vương mới sai Cống sứ theo Đạo Viên sang Trung Quốc. Năm thứ 4 (Càn Đức), vương tử Đức nước Vu-điền phụng theo vương mệnh, mang theo quốc thư sang chầu, cống hiến sản vật địa phương. Năm Khai Bảo thứ 2 Đời Thái Tổ (năm 969 Tl.), sứ giả Trực Mạt Sơn đến Trung Quốc. Cùng năm, ngài Thiện Danh lại đến Trung Quốc, quốc vương là Nam Tổng từng ủy thác cho ông hiến dâng đao ngọc. Năm thứ tư (Khai Bảo - năm 971 Tl.), vị Tăng tên Cát Tường đem theo quốc thư đến, trong văn có nói rằng: “Gần đây phá nước Sơ-lặc, bắt được một con vũ tượng (voi múa), muốn hiến cho Trung Quốc, chưa biết triều đình có thưởng nạp không?” mới lệnh cho đưa đến. Năm Đại Trung Tường Phù thứ 2 đời Chân Tông (năm 1009 Tl.), vua Vu-điền là Hắc-hàn (Khākān) dùng Cốt-la-tư-ôn v.v… làm sứ giả, đi đến Trung Quốc cống sản vật địa phương. Năm Thiên Thánh thứ 3 đời Nhân Tông (năm 1025 Tl.), vua Vu-điền sai chánh sứ La-diện-vu-đa, phó sứ Kim-tam, Đô giám Triệu-đa v.v… đến chầu, hiến tặng yên, dây cương bằng ngọc, dây lưng bằng bạch ngọc, gấm người Hồ, lạc đà một bướu v.v… Năm Gia Hựu thứ 8 đời Nhân Tông (năm 1063 Tl.), sai sứ giả là La-tát-ôn đến Trung Quốc cống
sản vật địa phương; triều đình thưởng cho 5.000 quan tiền vàng, chở trên con lạc đà một bướu đã hiến tặng để đi về. Từ khoảng niên hiệu Hi Ninh đời Thần Tông (khoảng năm 1068-1077 Tl.), đến niên hiệu Nghi Hòa đời Huy Tông (năm 1119-1125 Tl.), hàng năm đều triều cống Trung Quốc, thậm chí có năm đến hai lần. Vu-điền chầu thì hiến tặng châu ngọc, san hô, các loại hương, hổ phách, gấm Tây Vực, Thất diện điểu,16 Ột nạp tề17 v.v… Trung Quốc thì thưởng cho họ gấm vóc, y phục, khí cụ v.v…
Sự giao thiệp của Vu-điền đời Tống có hai điểm đáng chú ý: Một là người đảm trách việc ngoại giao qua lại thường là Tăng lữ Phật giáo. Hai là từ thời Chân Tông trở về sau, sứ giả đến Trung Quốc và tên của vua Vu-điền đều là gọi theo dân tộc Hồi giáo. Nay giải thích sơ lược lý do ấy như sau:
Thế kỷ thứ X, cháu của Satok Boghra Khān, dũng tướng của dân tộc Hồi giáo Abūl-Hasan Nasr, vươn thế lực của mình ra đến lưu vực sông Tarim, tấn công Sơ-lặc, áp bức tín đồ Phật giáo, buộc theo tôn giáo Muhammad. Sơ-lặc bị thất bại và phục tùng. Vua Vu-điền là Jagālū Khalkhālū đánh Sơ-lặc, không thể hạ được mới rút về. Tứ đó vùng Sơ-lặc bị tín đồ Hồi giáo chi phối. Song miền Tây Turkestan lại sinh biến loạn, bị tướng quân tín đồ Hồi giáo là Hasan Boghra Khān sang thảo phạt. Bấy giờ thừa lúc binh lực ở lưu vực sông Tarim trống không, Sơ-lặc làm phản, chiến đấu với quân Hồi giáo. Nhưng Yūsuf Qadr Khān lại dẫn đại quân vây hãm Sơ-lặc, tín đồ Phật giáo ở Sơ-lặc chạy sang Vu-
 

16 Thất diện điểu 七面鳥: Tên khác Thổ thụ kê 吐綬雞 (Meleagris gallopavo), Hoả kê 火雞… tức là gà tây (Turkey).
17 Ột nạp tề 膃肭臍: Ột nạp là hải cẩu, Ột nạp tề là dái của nó dùng làm thuốc.
 
điền. Yūsuf Qadr Khān lại tấn công Vu-điền. Chiến tranh lúc bấy giờ hoàn toàn là chiến tranh tôn giáo. Lúc đó Thổ-phồn (tức là người Tây Tạng) có quan hệ với Phật giáo cũng là Phật tử nên từ phương Nam trợ giúp Vu-điền. Đồng thời người Hồi Hột (Uighur) từ trước đến giờ thường là quốc gia đối địch với tín đồ Hồi giáo, cũng từ phương Bắc cứu giúp Vu-điền. Vu-điền được hai nước ấy viện binh càng phấn đấu đánh nhau rất lâu. Nhưng quân địch quá đông có đến bốn vạn, không thể phá được. Vu-điền phòng thủ được 20 năm, cuối cùng cung gãy, tên hết, đành khuất phục. Quốc vương Jagālū Khalkhālū chết, Yūsuf Qadr Khān tự lập làm vua Vu-điền. Lúc này là năm 1000 Tây lịch (hoặc năm 1001). Vậy năm 1009 và những năm sau ấy, vua nước Vu-điền và sứ giả nước ấy giao thiệp với Trung Quốc đều mang tên họ của dân tộc Hồi giáo. Lại từ năm 965 Tây lịch trở về sau, sở dĩ Tăng lữ Vu-điền làm sứ giả qua lại với Trung Quốc, bởi vì tín đồ Hồi giáo dùng thế mạnh tinh nhuệ từ phương Tây tập kích đến, để đối lại loại áp bức này nên những giáo đồ Phật giáo hi vọng nhờ một tay trợ lực những người Trung Quốc đồng giáo, cùng kháng cự với tín đồ Hồi giáo. Sự qua lại của Tăng lữ tức là biểu thị sự hi vọng trên phương diện chính trị và tôn giáo mà thôi (tham chiếu Stein: Ancient Khotan, I. 180-181).
Vu-điền thông hiếu với Tống, đồng thời cũng thông hiếu với nước Liêu. Bài Biểu nước chư hầu trong Liêu sử18 (quyển 17) ghi: Tháng 2 năm Thống Hòa thứ 7, thời Liêu Thánh Tông (năm 989 Tl.), sứ giả Vu-điền đến hiến tặng sản vật địa phương, tháng 11 cùng năm, sai Trương Văn Bảo, tháng 2
 

18 Liêu sử 遼史: Tên bộ sử, gồm 116 quyển, do Thoát Thoát (Thác-khắc-thác) v.v… phụng mạng biên soạn vào đời Nguyên.
 
năm sau, lại sai sứ cống hiến sản vật địa phương. Những việc giao thiệp này có thể giải thích là sự qua lại trên phương diện thương nghiệp, và là đầu mối để phòng ngự Hồi giáo.
7. Nước Vu-điền từ đời Tống trở về sau — khoảng từ năm 1125 đến 1208 Tây lịch - tức là thời đại mà lãnh thổ Tây Liêu Kara-Khitai19 có lưu vực sông Tarim, sử liệu Vu-điền thiếu khuyết chẳng rõ. Năm 1218, lưu vực sông Tarim và Vu-điền đều trở thành lãnh thổ của Thành-cát-tư-hãn. Vào khoảng năm 1271 đến năm 1275, Ông Marco Polo đi đến Trung Á, lúc đi qua Vu-điền đã ghi: “Nhân dân tin theo giáo phái Muhammad, trên phương diện chính trị thuộc về Đại Khã Hãn (tức là Hốt-tất-liệt)”. Sau khi Hốt-tất-liệt chết, đến thế kỷ thứ XIV thì lưu vực Tarim do hai gia tộc Sát-hạp-đài (Chagatai) phân chia thống lĩnh, tranh đoạt nhau. Truyện ngoại quốc trong Minh sử20 (quyển 332) có chép sự giao thiệp giữa Vu-điền và Trung Quốc từ thế kỷ thứ XIV đến thế kỷ thứ XVII: Năm Vĩnh Lạc thứ 4 đời Minh Thế Tổ (năm 1406 Tl.), quốc vương Đả-lỗ-oa cống hiến đá ngọc cho Trung Quốc, năm thứ 18 (Vĩnh Lạc), quốc vương Giai-cáp-liệt-bát cống ngựa hay, năm thứ 20, năm thứ 22 (Vĩnh Lạc) đều cống hiến sản vật địa phương. Khoảng năm Vạn Lịch đời Thần Tông (năm 1573- 1619 Tl.), họ vẫn nạp cống vật.
 

19 Tây Liêu (西遼) Kara-Khitai, còn gọi là Hãn quốc Kara Khiết-đan (Háp-lạt Khiết-đan), vương triều Khiết-đan, do Da Luật Đại Thạch (耶律大石) thành lập. Nhà nước này tồn tại cho đến khi các đội quân kỵ binh Mông Cổ của Thành-cát-tư-hãn tràn xuống tiêu diệt. Người châu Âu thường gọi là Kara-Kitai, Kara-Khitai… còn Trung Quốc gọi là Tây Liêu.
20 Minh sử 明史: Tên bộ sử, gồm 336 quyển, do Trương Diên Ngọc v.v… phụng sắc biên chép vào đời Thanh.
 
/75
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
🙏 Trợ Lý Phật Pháp AI »