Tìm kinh sách
Vần A-Z:
Nghiên cứu Phật Giáo Tây Vực

Nghiên cứu Phật Giáo Tây Vực

Tác giả: Cư sĩ Tuệ Khai, Phụ chú: Thích Tâm Nhãn. Dịch giả: Cư sĩ Tuệ Khai, Phụ chú: Thích Tâm Nhãn. Năm xuất bản: 2011. Số trang: 604.

Chương 52: Phật Giáo Nước Vu- Điền - I. Sự Thành Lập Tên Vu-Điền và Diễn Biến Của Tên Ấy (Trang 497 - 503)

PHẬT GIÁO NƯỚC VU-ĐIỀN
                                                                                                                                   Đông Sơ
Thời đại Hán-Đường, các nước Tây Vực có hơn 50 nước, nhưng có quan hệ mật thiết với lịch sử, văn hóa và Phật giáo Trung Quốc thì chỉ một số nước như Vu-điền, Qui-tư, Tây Hạ, Cao Xương v.v… mà thôi. Một số kinh điển Phật giáo Đại thừa tại Trung Quốc, như nguyên bản kinh Hoa nghiêm, Bát-nhã, Pháp hoa, Niết-bàn v.v… đều từ Vu-điền, Qui-tư v.v… truyền đến. Những vị Tăng đi Tây cầu pháp như ngài Chu Sĩ Hành, Chi Pháp Lĩnh, Trúc Pháp Hộ, Trí Nghiễm v.v… đều lấy Vu-điền, Qui-tư v.v… làm mục đích điểm đến. Do đó đất Vu-điền, Qui-tư v.v… không những là vùng đất hỗn hợp văn hóa Trung-Ấn, mà còn là trung tâm thai nghén nuôi dưỡng kinh điển Phật giáo Đại thừa, rất nhiều kinh điển Phật giáo được dịch từ văn Qui-tư, Vu-điền thành văn Hán, hoặc văn Tây Tạng, gần như đó là sự thật. Nhưng nay cũng phải phân biệt để khảo chứng.
I. SỰ THÀNH LẬP TÊN VU-ĐIỀN VÀ DIỄN BIẾN CỦA TÊN ẤY
Vu-điền là một nước cổ Tây Vực, tiếng Phạn là “Cù-tát-đán-na — Ku-stana”, tiếng Tây Tạng là Li-yul, nên dịch là Vu-điền, Vu-chân, Vu-độn, Vu-điện, Hạn-bảo, tức là Hòa-điền (Khotan) ở phía Tây Tân Cương của Trung Quốc ngày nay. Theo Đại Đường Tây Vực ký quyển 121 giải thích, Cù-
 

1 Tây Vực ký 12, T51n2087_p943a11.
 
tát-đán-na, người đời Đường gọi là Địa Nhũ, đó là mỹ từ thông thường để chỉ về đất ấy, hay gọi là Hoán-na. Người Hung Nô gọi là Vu-độn, các dân tộc Hồ gọi là Khoát-đán, Ấn Độ gọi là Khuất-đan, xưa gọi Vu-điền là nhầm.
Ông Quật Khiêm Đức nói về nguyên lai những dị danh này: Khuất-đan là Ku-stana, truyền dịch Khotana là nhầm. Khotana lại chuyển thành Kanra tức là Hoán-na. Hoặc viết là Cát-đán — Khotan, Vu-độn là chuyển thể của Khotan thành ra u-tor. Lại nữa, ông Bạch Điểu Khố Cát thuyết minh về Vu-điền: chữ Vu là tiếng Tây Tạng, hàm ý là ngọc thạch (gyu), chữ Điền hàm ý là thôn xóm, thành ấp.
Đại phương đẳng đại tập kinh quyển 452 gọi là “Ca-la-sa-ma”; tiếng Tây Tạng là Li-yul, nếu theo Rockhill (W. W. Rockhill) v.v… nói thì tương đương với tiếng Phạn là Kamsa-desa, gọi là nước Thanh Đồng (T. Wattere), đều có ý là địa phương sản sinh ra loài bò rừng (mao ngưu).
Đại Đường Tây Vực ký quyển 12 trình bày về hình thế nước Vu-điền:
“Cù-tát-đán-na, chu vi hơn 4.000 dặm, quá nửa là sa mạc, lãnh thổ đất đai hạn hẹp, thích nghi lúa má, nhiều trái cây, sản xuất thảm lông, dạ mịn, kéo tơ, dệt sợi khéo léo, lại sản xuất ngọc trắng, ngọc đen. Khí hậu ôn hòa, gió thổi bụi bay, tục biết lễ nghĩa, tính người khiêm cung, hiếu học điển nghệ, rộng đạt kỹ năng, dân chúng giàu có, mọi nhà đều an cư lạc nghiệp. Nước chuộng âm nhạc, người ưa ca múa, ít mặc vải lông áo dạ, phần nhiều áo làm bằng dạ trắng. Nghi thức có lễ, phong tục có kỷ
 

2 Đại phương đẳng đại tập kinh 45 (Tam tạng Na-liên-đề-da-xá, người Thiên Trúc dịch thời Tuỳ), T13n397_p294c16.
 
cương, văn tự hiến chương tuân theo Ấn Độ. Sửa đổi chút ít về thể thế, phần lớn có noi theo mà cải cách. Ngôn ngữ khác các nước, sùng tín chuộng Phật pháp, Già-lam hơn 100 ngôi, Tăng đồ hơn 5.000 người, phần nhiều đều học tập giáo pháp Đại thừa, vua rất kiêu hãnh oai vũ, kính trọng Phật pháp, tự nói rằng: đời đời nối dõi theo trời Tỳ-sa-môn3 vậy”.
Theo văn trên có thể biết một loạt những phong tục, quốc tình của nước ấy vào thời ngài Huyền Trang đi đến Ấn Độ. Do vị trí nước Vu-điền ở giữa mặt phẳng nghiêng phía Bắc mạch núi Côn Lôn và sa mạc Taklamken, nên đa số các dòng sông đều chảy rót vào. Trong số ấy, dòng sông chính là sông Hắc Ngọc (Kara-kash Darya) và sông Bạch Ngọc (Yurung-kash Darya) đều chảy hướng về phía Bắc, đến phía Bắc thành Hòa-điền thì hợp dòng chảy, khiến cho đất màu mỡ, khí hậu ôn hòa, thực vật tốt tươi rậm rạp, và các thứ khoáng vật, ngọc quí, dã thú lại nhiều. Lĩnh vực nước ấy hiện nay thuộc sáu địa phương là Hòa-điền (Khotan), Karakasr, Vururgkash, Tchina, Kiria và Niya, mỗi địa phương đều có đô thị khác tên. Phía Đông nam thành Hòa-điền Varkahd 150 dặm, cách sa mạc 6 dặm, chính là vùng trung tâm nghề nghiệp sản xuất thạch cao, lụa, nhung tía v.v… Nơi ấy cũng chính là điểm trọng yếu của con đường phía Nam mà xưa nay Trung Quốc thông qua Ấn Độ, tự nhiên trở thành địa điểm giao lưu văn hóa Đông-Tây. Những tư liệu lịch sử liên quan đến Vu-điền: Trong văn Tây Tạng thì có li-yul-gyilo-rgyus-Pa (Vu-điền sử), li-yul-lun-bstar-Pa (Vu-điền quốc huyền ký), dgha-neom-pa-dge-
 

3 Trời Tỳ-sa-môn 毘沙門天: Skt. Vaiśravana, Pāli. Vessavaṇa, dịch là Đa Văn, là một trong bốn vị Thiên vương. Vì thường đến nghe đức Phật thuyết pháp nên gọi là Đa Văn.
 
hdurhphel-gyis, lurs-bstah-pd samg havardhana (A-la-hán huyền ký), r-glar-iulur-bstar (Ngưu Giác huyền ký) v.v…
Nay theo Vu-điền quốc huyền ký mới có cái nhìn về sự biến thiên của lịch sử nước này. Nói chung, vào thời đức Phật Ca-diếp, Phật pháp đã lưu hành ở đất này, về sau nhân dân dần dần chẳng tin Phật, các rồng nổi giận hóa thành hồ nước. Sau đó đức Phật Thích-ca ra đời đi đến nước này, dạy ngài Xá-lợi-phất và trời Đa Văn làm cho nước hồ khô cạn. Sau khi hồ cạn mất, gọi đất ấy là Liyul và tiên đoán rằng U-then sẽ được kiến thiết thành thị. Chuyện ấy ở trong kinh Đại phương quảng đại tập truyền lại đại để giống nhau. Khi Phật diệt độ được 234 năm, chưa bao lâu ở Ấn Độ có vương phi của vua Đạt-ma A-dục, hạ sinh một người con, nhân sợ con đoạt ngôi vua liền đem bỏ ở đất này. Đất ấy lại sinh ra buồng sữa, nuôi dưỡng vương tử, nên gọi là Ku-stana (sữa đất [địa nhũ]). Đại thần vua A-dục là Da-xá (Yasas) cũng đến đất này, muốn giao chiến với vương tử. Nhờ trời Đa Văn và thiên nữ Cát Tường phân xử, cho nên chưa giao chiến mà vương tử được làm vua đất này, Da-xá làm thuộc hạ vua ấy. Đại Đường Tây Vực ký quyển 12 ghi chép việc kiến lập nước này có chỗ hơi khác. Nói rằng, vua A-dục buông bỏ hào tộc của mình, cho kiến lập quốc ở biên giới phía Tây đất này; đồng thời vùng đất phía Đông cho một vương tử kiến lập vương quốc ở biên giới phía Đông, rồi hai vua gặp nhau giao chiến, kết quả vua phía Tây thất lợi, vua phía Đông thừa thắng, chiêu tập kẻ mất nước, thôn tính toàn bộ lãnh thổ ấy. Về sau vì tuổi già, vua sợ tuyệt tự tông đường mới cầu đảo cúng tế trời Tỳ-sa-môn, sinh được một người con trai, vương tử dùng sữa đất sinh sống cho đến thành người, trí dũng song toàn, đại chấn uy vũ. Vua nước ấy nhân nhờ sữa đất nuôi lớn thành người nên dùng từ “sữa đất” (địa nhũ) làm quốc hiệu.
Trong “Thích-ca Mâu-ni Như Lai Tượng pháp diệt tận ký’’4 do ngài Pháp Thành dịch, tường thuật việc kiến lập nước Vu-điền giống trong Vu-điền kiến quốc huyền ký. Huyền ký nói rằng, nước Vu-điền vào thế kỷ thứ VII, thời vua Tỳ-tả-da-cật-đa, có vị La-hán Tăng-già-bà-nhĩ-đà-na cư trú trong núi Bà-ca-da-kỷ-na ở nước ấy, nói với các đệ tử rằng: Sau khi đức Thích-ca Như Lai diệt độ 2.000 năm, ba nước Vu-điền, Sơ-lặc và An Tức theo về Hán, xâm lược Xích Diện (tức là Tây Tạng), Tô-tỳ, Đột-quyết, Hồi Cốt v.v…, Phật pháp suy vi. Không lâu, Tăng chúng Sơ-lặc, An Tức di trú vào Vu-điền. Về sau Vu-điền thuộc về nước Xích Diện, chánh pháp lưu hành rộng rải. Nhưng chẳng lâu, vua (vua Song-tán-tư-cam-phổ) đời thứ 7 nước Xích Diện lấy công chúa Bồ-tát nhà Hán (tức là công chúa Văn Thành nhà Hán) làm phi, thì Phật pháp rất hưng thịnh, Tăng chúng nước Vu-điền đều di trú đến nước Xích Diện. Song nước Xích Diện phát khởi bệnh đậu mùa do Tăng chúng tộc Nhung, Di mang đến, nên nhà nước đuổi hết người ngoại quốc. Chưa bao lâu, Tăng chúng các nước lại chạy đến nước Càn-đà-la, cũng gặp cảnh xua đuổi. Về sau họ di trú đến nước Câu-thiểm-di. Nhưng nội bộ Tăng chúng khởi lên sự tranh đấu, giết hại lẫn nhau, cuối cùng Tượng pháp5 diệt tận. Sau quyển Áo nghĩa thư6 còn có Thích-ca Mâu-ni Như Lai Tượng pháp diệt tận nhân duyên
 

4 Thích-ca Mâu-ni Như Lai Tượng pháp diệt tận chi ký, 1 quyển, Pháp Thành dịch đời Đường, T51n2090_p996.
5 Tượng pháp 像法: Một trong ba thời Chính, Tượng, Mạt. Tượng nghĩa là tương tự. Giáo pháp thời kỳ này tương tự thời Chính pháp nhưng chỉ có người thuyết giáo và tu hành, rất ít người chứng quả.
6 Áo nghĩa thư 奧義書: Skt. Upaniṣad, sách triết học Ấn Độ, chứa đựng tư tưởng triết học cội nguồn của Ấn Độ. Sách ghi giáo nghĩa bí truyền giữa thầy và trò nên gọi là Áo nghĩa thư.
 
1 quyển. Sơ khởi sách này bằng văn Tây Tạng, chỉ là một phần, không phải là bản hoàn bị. Ông P. Pelliot phát hiện thấy bản Hán dịch ở Đôn Hoàng. Không lâu, năm 1920, hiệp hội Châu Á Paris phát hiện thấy bản kinh đó trùng hợp với bộ Đan-châu-nhĩ7 của kinh tạng Tây Tạng.
Căn cứ vào chương thứ tư Huyền ứng âm nghĩa cũng như Đại Đường Tây Vực ký đã truyền lại, thì sau khi lập quốc năm 165, có vị vua tên là Vijayasambhava tự xưng là hóa thân của đức Di-lặc, lại có chỗ nói là hóa thân của đức Văn-thù, hoặc là Tỳ-lô-chiết-na (Vairocana), là vị thiện tri thức đầu tiên đến nước này chấn hưng Phật pháp, nhà vua vì ngài Tỳ-lô-chiết-na kiến lập ngôi Già-lam lớn. Đại Đường Tây Vực ký quyển 12 và Ngụy thư Liệt truyện quyển 90 v.v… cũng nói về việc kiến lập Già-lam. Trải qua vài đời sau vua Vijayasambhava, là vị vua Vijarirya, Di-lặc hóa thân, rồi có ngài Buddharamdita từ Ấn Độ đến làm quốc sư, xây dựng ngôi Già-lam trên núi Cù-thất-tuấn-già (Gosrnga - Ngưu Giác) ở núi Ngưu Đầu. Trải qua hai đời vua, có vua Vija Yajaya cưới vương nữ từ Trung Quốc về làm hoàng hậu (công chúa Văn Thành nhà Đường), hoàng hậu truyền nghề dâu tằm cho nước này, lại còn vì vị ấy xây dựng tháp và (Già-lam) Ma-xạ (Ma-dza) v.v… cúng dường. Đại Đường Tây Vực ký quyển 12, Đường thư Tây Vực Liệt truyện quyển 146 v.v… cũng có ghi chép về sự du nhập nghề nuôi tằm. Nhà vua có ba người con trai, người anh giữa nối ngôi vua, người anh lớn là Dharmaranda lưu học Ấn Độ, truyền bá giáo nghĩa Đại chúng bộ, người em út là hdor-hdros (mantasfdhi) về sau nối ngôi vua, truyền thừa giáo nghĩa Hữu bộ, cưới vương nữ từ Trung Quốc về làm hoàng hậu. Sau lại có vua Vijayakirti xâm nhập
 

7 Đan-châu-nhĩ: Xem cht. 88, tr. 79.
 
Ấn Độ, thu được nhiều xá-lợi của đức Phật. Khi đức Phật diệt độ được 1.500 năm, có vị vua không tin Phật giáo, nhân dân cũng dần dần lạt lòng với Tam bảo, Tăng lữ chùa Tán-ma nối tiếp nhau chạy trốn sang Tây Tạng. Theo Tiền Hán thư Liệt truyện quyển 66 ghi:
“Nước Vu-điền, nơi vua ngự trị ở Tây Thành, cách Trường An 9.670 dặm, có 3.300 hộ, 19.300 nhân khẩu, binh hùng mạnh 2.400 người, Phụ quốc hầu, Tả hữu tướng, Tả hữu kỵ quân, Đông, Tây Thành trưởng, Dịch trưởng đều một người, từ Đông bắc đến trị sở Đô hộ là 3.947 dặm; phía Nam tiếp giáp Nặc-khương, phía Bắc tiếp giáp Cô Mặc, vùng Tây Vu-điền. Sông nước đều chảy về Tây, rót vào Tây Hải. Phía Đông nước ấy, nước sông chảy về Đông, rót vào Diêm Đàm (đầm muối), bình nguyên theo dòng sông xuất hiện nhiều ngọc thạch.”
Theo truyện Tây Vực trong Hậu Hán thư quyển 78, đồng sách Ban Lương Liệt truyện quyển 37, và sách Thuận Đế bản kỷ quyển 6 v.v… thì năm Vĩnh Bình, đời Minh đế nhà Hậu Hán, tướng Vu-điền là Hưu Mạc Bá làm phản Sa-xa, tự lập làm vua nước Vu-điền. Hưu Mạc Bá chết, sau khi lập con của anh vua là Quảng Đức, đánh tan nước Sa-xa, thôn tính lãnh thổ nước ấy, rồi chinh phục luôn 13 nước lân cận. Nước Thiện Thiện ở phương Đông và Vu-điền trở thành hai nước lớn ở phía Đông Thông Lĩnh. Năm Vĩnh Bình thứ 16 đời Minh đế, năm Vĩnh Kiến thứ 6 đời Thuận Đế, vua Vu-điền sai sứ đến tiến cống. Trong các nước Tây Vực thì nước ấy thân thiện với Trung Quốc nhất. Về sau, ở các triều đại Hậu Ngụy, Lương, Bắc Ngụy, Bắc Châu, Ngụy, Tùy, Đường, Ngũ Đại, Tống, Minh v.v…. họ đều đến Trung Quốc tiến cống. Diễn biến lịch sử nước Vu-điền xem như đã trình bày xong.
/75
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
🙏 Trợ Lý Phật Pháp AI »