LỜI NÓI ĐẦU
Đỉnh Himālaya nghìn đời tuyết phủ, rặng Thông Lĩnh hang sâu hiểm hóc, gió lạnh cắt da, sa mạc Gobi cát muối mênh mông, trên không có chim bay, dưới không có thú chạy, chỉ biết lấy xương khô người chết làm dấu mà đi…, những thách thức khắc nghiệt đó dễ làm nản lòng các thương buôn, lữ khách bộ hành trên sa mạc. Song có những người ra đi vì hạnh nguyện truyền đạo, cầu pháp, cát bụi thời gian không làm hao mòn được chứng tích lịch sử của họ. Nhìn lại quá khứ qua từng trang sử Phật giáo Tây Vực, chúng ta cảm thấy sinh mệnh đạo Phật gần như gắn liền với cuộc đời và sự nghiệp truyền giáo, phiên dịch của những vị Cao tăng, Cư sỹ Phật tử mà họ đã lưu lại.
Thời kỳ Phật giáo Tây Vực cực thịnh bắt đầu khoảng năm 260 trước Tây lịch, do vua Asoka sai ngài Majjhantika đến các vùng Tây Vực truyền giáo. Từ thế kỷ thứ II đến thế kỷ thứ V, Phật giáo đã phát triển ở các nước Kāshgar, Kashmir, Parthia, Kirghiz v.v… Đồng hành với dòng chảy tâm linh ấy, nghệ thuật Phật giáo với sự kết hợp của 3 nền văn minh Hy Lạp, La-mã, Ấn Độ như kiến trúc, hội họa, điêu khắc… cũng phát triển theo. Mãi đến thế kỷ thứ VI, khi những đạo quân xâm lược của các nước Hồi giáo, dùng bạo lực quân sự tiêu diệt Phật giáo, thì lúc ấy Phật giáo ở các nước Tây Vực mới tàn diệt, tuyệt tích dần.
Phật giáo Tây Vực một thời rực rỡ huy hoàng tưởng chừng sắp đi vào đêm đen mờ mịt, thì các cuộc nghiên cứu,
thám hiểm của các học giả thời cận đại đã khai quật, khảo cổ các văn vật, thư tịch, kinh điển Phật giáo Tây Vực, giúp công trình nghiên cứu có phần khởi sắc; họ đã giữ lại được vẻ đẹp của cảnh hoàng hôn dù nắng chiều đã khuất về Tây. Một thời quá khứ vàng son được hồi sinh.
Bản Việt ngữ “Nghiên cứu Phật giáo Tây Vực” được dịch từ nguyên tác “西域佛教研究”, trong bộ Hiện đại Phật giáo học thuật tùng san, gồm 100 quyển, do cư sĩ Trương Mạn Đào chủ biên, nhà xuất bản Đại thừa văn hóa ấn hành năm 1976. Tập “Nghiên cứu Phật giáo Tây Vực” là số 80 (trong 100 quyển), gồm 15 bài viết của nhiều tác giả Trung Quốc và Nhật Bản. Trong đó có 5 bài của học giả người Nhật là Hadani Ryōtai (Vũ Khê Liễu Đế, 1883-1974) viết trong tác phẩm “Phật giáo Tây Vực”, ấn hành năm 1933, ông Hạ Xương Quần và Hứa Địa Sơn dịch sang Hán.
Trong bản Việt dịch, có nhiều vấn đề mà chúng tôi cần chỉnh sửa khi chuyển ngữ:
1. Những bài viết trong bản nguyên tác (Hán văn), các chú thích của tác giả đều để cuối mỗi bài (hậu chú). Chúng tôi đưa lại phần cước chú, cho độc giả dễ tham khảo.
2. Có những chú thích của tác giả quá dài, nên chúng tôi đưa lên phần nội dung, để trong ngoặc đơn.
3. Có lẽ trong lúc biên soạn, trích dẫn, sao chép hoặc do công đoạn ấn loát, mà có nhiều sai sót trong bản nguyên tác, nhất là nhầm lẫn tự dạng. Chúng tôi dựa theo tạng kinh Đại Chánh tân tu (Taishō shinshū daizōkyō), tư liệu từ điển, và mạng điện toán toàn cầu, đối chiếu chỉnh sửa, đính chính thẳng vào bản Việt dịch. Thí dụ như: kinh A-hàm chánh hạnh 阿鋡(含)正行經, viết nhầm kinh A-linh chánh hạnh 阿鈴正行經; kinh Chánh trai 正齋經, viết nhầm là kinh Chánh tê 正
齎經; Tước Ly Phật-đồ 雀離佛圖 (tháp Tước Ly), viết nhầm Tước Ly Phật quốc 雀離佛國; Tăng-già-bạt-trừng 僧伽跋澄, viết nhầm Tăng-già-bạt-đăng 僧伽跋登; đại vương Mithradates, viết nhầm Mithradatse; núi Dantaloka-giri, in là núi ntaloka-giri v.v… Chúng tôi cũng sửa lại một số từ Sanskrit, Pāli mà trong sách in nhầm.
4. Trong tác phẩm này có một số tên người, địa danh, thuật ngữ, danh từ… các học giả Trung Quốc phiên âm không nhất quán, hoặc thấy không mang tính phổ thông quốc tế, hay khi phiên âm mất đi ý nghĩa từ nguyên của nó, thì chúng tôi bỏ phần phiên âm, viết lại nguyên ngữ gốc (La-tinh). Chẳng hạn, trong bài “Phật giáo nước đại Nguyệt Thị” (tác giả Hadani Ryōtai), có đề cập đến tên một tác phẩm là “Periplus of the Erythraean”, ông Hạ Xương Quần dịch và phiên âm “Ái-lý-nặc-á (Erythraean) hải chi Bá-lợi-phất-tư (Periplus) [愛里諾亞海之伯利弗斯]”. Nếu dịch qua Việt “Bá-lợi-phất-tư của biển Ái-lý-nặc-á” thì khó hiểu. Vì từ ngữ tên tác phẩm đó mang ý nghĩa từ gốc Hy Lạp cổ đại, cho nên chúng tôi chuyển lại tên tiếng Anh “Periplus of the Erythraean”, rồi phụ chú giải thích thêm v.v...
Bản Việt ngữ dịch xong vào năm 2003, Cố Hòa thượng Trưởng ban phiên dịch duyệt và cho in lưu hành nội bộ, nhưng lúc ấy vẫn là hình thức Cảo bản. Để được một ấn bản hoàn chỉnh, năm 2009, chúng tôi lại chỉnh sửa, phụ chú thêm, thì phát hiện thấy cả bản nguyên tác và bản Việt có nhiều chỗ nhầm nên chưa ấn hành được. Đến năm 2010, trong mùa an cư Phật lịch 2554, chúng tôi cố gắng tham khảo tra cứu thêm một số dữ kiện, sự kiện lịch sử có liên quan, hiệu chỉnh, bổ túc những sai sót lần cuối trước khi chính thức xuất bản.
Mặc dầu đã thận trọng qua ba lần sửa chữa, nhưng chưa thể gọi là một dịch phẩm hoàn chỉnh, chúng tôi rất mong các bậc cao minh, thức giả chỉ giáo thêm, để lần tái bản sau được hoàn thiện hơn. Hoàn thiện qua từng con chữ, như gởi chút tấm lòng của kẻ hậu bối đang dò dẫm theo vết đạo xa xưa mà các bậc Tổ sư đã đánh cuộc với tử sinh để ra đi...
Ban Biên Tập
Pháp tạng Phật giáo Việt Nam