là ngôn ngữ của những vùng thuộc hệ thống ngôn ngữ Ấn Độ-Iran. Nếu vậy thì nhất định là phương ngữ Vu-điền viết bằng văn tự Brāhmi của Ấn Độ. Chứng cứ đó càng cho thấy việc ghi chép của ngài Huyền Trang chính xác chắc chắn.
III. TRUYỀN THUYẾT VỀ SỰ KIẾN QUỐC
Bản văn:8
Thuở xưa, nước này trống rỗng không có người, trời Tỳ-sa-môn dừng nghỉ ở đây. Thái tử của vua Vô Ưu9 ở nước Đát-xoa-thỉ-la bị móc mắt, vua Vô Ưu nổi giận trách phạt người hầu, đầy đọa cả gia tộc quyền quí ra phía Bắc Tuyết Sơn, ở vùng hang núi hoang vắng. Sau họ di chuyển và dẫn theo gia súc đến biên giới phía Tây nước ấy, suy cử tù trưởng lên làm vua. Lúc đó, thái tử con vua Vô Ưu bị trách phạt, lưu đày ở vùng đất phía Đông, được những người hầu cận tâu khuyên, thái tử mới tự xưng vương. Năm tháng đã lâu, tập quán và giáo dục bất đồng, một lần nhân đi săn bắn, hai bên (gia tộc quyền quí và thái tử) gặp nhau ở đầm hoang, hỏi về dòng dõi, rồi nhân đó mà tranh ngôi trưởng thượng, cả hai giận dữ từ giã, hẹn nhau giao chiến. Có người can gián: “Sao vội vàng như vậy? Nếu vì săn bắn mà quyết chiến thì chưa tận dụng hết thế lực hùng mạnh của quân đội, nên về
9 Thái tử vua A-thâu-ca Ấn Độ là Câu-na-la khi làm thái thú nước Đát-xoa-thỉ-la (tiếng Phạn là Taksasilā), người phi trẻ của vua muốn hại ông nên ngụy tạo sắc thư đưa đến Đát-xoa-thỉ-la, dối gạt là vua A-thâu-ca ban lệnh móc bỏ đôi mắt của thái tử, Câu-na-la bị mù. Vua A-thâu-ca nghe việc đó, giận, phế bỏ bà phi trẻ và xua đuổi bọn hào tộc có nhiệm vụ bảo hộ Câu-na-la. Hào tộc ấy mới ra phía Bắc Tuyết Sơn, cư trú vùng Sơn Cốc. Năm dời tháng đổi, lần lượt đi về phía Đông, vào lưu vực sông Tháp-lý-mộc (Tarim), đến phía Tây cảnh giới Vu Điền. (cht. Tg)