dưỡng. Lúc đầu mới đến còn dùng lá tạp nuôi dưỡng chúng. Từ đó về sau, cây dâu rợp bóng. Vương phi mới khắc đá làm qui chế, chẳng cho phép sát thương, ngài tằm bay hết, mới được chế biến kén tằm, ai vi phạm thì thần minh chẳng hộ giúp. Người lén lấy tơ thì năm đến chẳng được nuôi tằm.”
Khảo chứng:
Tên chùa Ma-xạ, đời Tống vốn viết là “Lộc-xạ”, Phúc Châu viết là “Thử-xạ”, tuy ba cách truyền viết khác nhau, nhưng nay theo sách Cao-ly viết là “Ma-xạ”. Căn cứ theo sự ghi chép của ngài Huyền Trang thì tằm của Vu-điền vốn do nước phía Đông đem vào; còn theo truyện Tây Tạng nói là từ Trung Quốc truyền đến. Theo lịch sử Vu-điền của Tây Tạng, đời vua Vijayavirya, Phật giáo từ Ấn Độ lưu thông vào Vu-điền, trải qua hai đời đến vua Vijayavirya, cưới con gái của quân chủ Trung Quốc là Punyeshar, vị vương phi này từ bổn quốc mang theo giống tằm đến Vu-điền; sau này Vu-điền mới có nghề nuôi tằm. Nhà vua thờ vị Tăng Ấn Độ là Chúng Âm (Shamghaghoṣa) làm thầy, lại vì giống tằm mà cúng dường, mới xây tháp Potarya và ngôi chùa lớn Ma-xạ (Ma-dza; tham khảo, Rockhill: life of the Buddha, 338). Ngôi chùa tên Ma-dza trong truyện Tây Tạng, tương đương chùa Ma-xạ mà ngài Huyền Trang ghi, đều là danh xưng có quan hệ cùng nghề nuôi tằm. Khi ông Stein thám hiểm Vu-điền, ở tại địa phương cách phía Đông nam đô thành cũ chừng một dặm, phát hiện ngôi đền Thánh tên thường gọi là Kumishaidān. Đền Thánh này là nơi linh thiêng kiến quốc của quốc vương từ xưa đến nay, nên rất được nhân dân tôn sùng. Vị trí ngôi đền ấy khớp với lời ngài Huyền Trang nói “phía Đông nam vương thành 5, 6 dặm”. Căn cứ vào đây mà dò tìm thì có thể đoán đó là chùa Ma-xạ xưa (Stein: Ancient Khotan, I. 230).