Ratnguptavihāra và Kumbhakuṇḍalavihāra, hoằng truyền giáo lý Đại thừa rồi sau ngài mất ở đất này.” (Lịch sử Phật giáo Ấn Độ của Kalhaṇa trang 135).
Theo văn truyện thì Đại thừa giáo nước này từng một thời thịnh hành, song thế lực ấy không thể địch nổi Tiểu thừa giáo.
IV. PHẬT GIÁO CA-THẤP-DI-LA TỪ THẾ KỶ THỨ VI TÂY LỊCH TRỞ VỀ SAU
Trong mục nước Trách-ca, Tây Vực ký quyển 4 chép, vài trăm năm trước (chỉ thời đại Huyền Trang), có vị vua tên là Ma-ê-la-cự-la (Mahirakula - Đại Tộc), cố đô của vua ấy là thành Xa-yết-la (Sīgala), nhà vua có tài trí, tính tình hùng dũng, các nước gần biên giới không nước nào chẳng thần phục, nhưng ông ngược đãi, bài xích Phật pháp, xua đuổi Tăng đồ. Đương thời, nước Ma-yết-đà (Magadha) có vị vua tên là Bà-la-a-điệt-đa (Bālāditya - Huyễn Nhật) sùng kính Phật pháp, yêu thương nuôi dưỡng lê dân, do vị vua kia dùng hình quá ác, cai trị bạo ngược nên xuất binh thảo phạt mà bắt được. Mẹ của vua Huyễn Nhật lòng dạ từ bi, mới xá miễn vua Đại Tộc, lệnh cho vua ấy trở về nước tự lập. Vua Đại Tộc mất ngôi mới đầu hàng nước Ca-thấp-di-la. Vua nước Ca-thấp-di-la gia thêm lễ rất hậu, thương kẻ mất nước phong cho thổ ấp. Qui hàng một thời gian khá lâu, sau đó vua Đại Tộc dẫn người trong ấp của mình giết vua Ca-thấp-di-la, tự lên ngôi, thừa uy chiến thắng ấy đánh về phía Tây lấy nước Kiền-đà-la, giết vua nước ấy, tàn sát hết quốc tộc đại thần, tiêu hủy tháp, phế bỏ Tăng, Già-lam gồm 1.600 ngôi, ngoài ra binh sĩ bị giết có hơn chín ức người đều bị tru lục không sót một người — khi quay trở về bổn quốc, vua ấy bị chết. Đoạn truyền thuyết này tuy có vẻ rất truyền kỳ, song đại thể có thể
chấp nhận là có liên hệ đến sự thật. Người mà ở trước gọi là Ma-ê-la-cự-la tức là tù trưởng của Bạch Hung Nô Mihirakula, lên ngôi khoảng năm 515 Tây lịch, đóng đô ở thành Xà-yết-la, thế lực của vua lan khắp vùng Áp-đạt (Ephthalite), Kabul, đến Trung Á. Ông ta đánh nhau với vua Huyễn Nhật nước Ma-yết-đà và Da-thâu-đạt-ma (Yasadharma), bị thất bại, thoái lui trốn vào nước Ca-thấp-di-la, việc này vào khoảng 10, hoặc 20 năm của năm 530 Tây lịch. Thời gian vị đó làm vua, tuy từng bức hại Phật giáo, nhưng đến năm 550 Tây lịch vua đó qua đời thì Phật giáo Ca-thấp-di-la hưng thịnh trở lại (Stein: Kalhaṇa’s Chronicle, n. I. 289).
Nhưng người mà ngài Huyền Trang gọi là Ma-ê-la-cự-la, nếu cho rằng là Mihirakula lên ngôi năm 515 Tây lịch thì đối chiếu niên đại ấy rất là sai khác, điểm này thật khó khăn và đáng ngờ. Ngài Huyền Trang cho rằng ông ấy là người của vài trăm năm trước, khảo xét Mị-chi-hạt-la-câu-la trong kinh Liên hoa diện quyển hạ,32 Di-la-quật của Phó pháp tạng truyện quyển 6,33 đều ghi ông ấy là vua nước Kế Tân, là người hủy diệt Phật pháp.
Theo sự ghi chép của hai sách trên, nếu vua Ma-ê-la-cự-la là Mihirakula, thì tìm xét vấn đề từ niên đại phiên dịch của quyển kinh Phật trên, quả thật vua Mihirakula là người xa xưa, ở tại năm 515 Tây lịch trở về trước. Thật vậy, niên đại cổ của Kalhaṇa đã ghi, tuy chưa đáng tin, nhưng nếu tin vào sự ghi chép của ông ấy mà tính toán niên đại của Mihirakula phải là người khoảng giữa thế kỷ thứ III Tây lịch (Watters:
32 Kinh Liên hoa diện 2 (Tam tạng Na-liên-đề-da-xá dịch thời Tuỳ, 2 quyển), T12n386_p1075c11.
33 Phó pháp tạng nhân duyên truyện 6, T50n2085_p321c15.
On Ynan Chwang, I. Trang 289–290). Ông Beal suy đoán, Mihirakula và Bālāditya là cùng thời, nhưng ở đời cuối, đại khái vào năm 420 Tây lịch (S. Beal: Buddhist Records. I, p. 168 n. 9), sự tính toán này cũng không chính xác.
Tóm lại, chúng ta có thể nhận thấy, Mihirakula trên văn khắc và tiền cổ, cùng với Ma-ê-la-cự-la trong Tây Vực ký là một vị vua. Tuy không thể không nghi ngờ, nhưng cũng nên theo thuyết của ông Fleet (Fleet: The History and Date of Mihirakakula, Indian Antiquary, xv. trang 245-252), cho đó là đồng một người, sinh ở tiền bán thế kỷ thứ VI Tây lịch.
Vào khoảng thế kỷ thứ IV Tây lịch, Áp-đạt vốn phụ thuộc phục dịch Nhu Nhiên tức là Nhuyễn Nhuyễn, nhưng sau ấy dời về phía Tây, đến biên giới Đông bắc Ba-tư. Khoảng năm 425 Tây lịch trở lại, đắc thế dần, khuếch trương lãnh thổ về phía Đông nam rồi xâm chiếm miền Bắc Ấn Độ. Năm đầu niên hiệu Chánh Quang (năm 520 Tl.), ngài Huệ Sinh khi đến nước Kiền-đà-la thì nước này đã bị Áp-đạt tiêu diệt mà lập Tegin làm vua, trải qua hai đời. Việc nước này mất về tay Áp-đạt, chương trước đã bàn, ước chừng tại năm 480 Tây lịch. Theo ngài Huệ Sinh ghi chép, vua nước này tính tình hung bạo, bừa bãi tàn sát, chẳng tin Phật pháp, sùng kính quỷ thần (Thấp-bà).34 Thế thì Phật giáo bị vua ấy giày xéo, chắc chắn không chỉ một mình nước Càn-đà-la, mà những nơi bị Áp-đạt chinh phục — Phật giáo ở vùng Tân Cương như Bắc Ấn Độ, Sơ-lặc, Vu-điền, Yên Kỳ v.v… đều chịu một cuộc áp bức lớn, không gì nghi ngờ nữa. Nhưng khi ngài Huệ Sinh vào nước Càn-đà-la, hình như nước Ca-thấp-di-la chưa bị Áp-đạt chinh phục; căn cứ lời dẫn chứng là vua Áp-đạt của Càn-đà-la chiến đấu với vua nước Kế Tân nhiều năm liền.
34 Thần Thấp-bà: Xem cht. 41, tr. 280.
Như trước đã thuật, vào khoảng 20 năm của năm 530 Tây lịch, nước Ca-thấp-di-la cũng bị vua Áp-đạt là Mễ-hắc-lạt-khố-lạt chi phối, thì nhất định Phật giáo nước này cũng từng bị pháp nạn.
Từ đó cho đến thời kỳ đầu thế kỷ thứ V Tây lịch, Tăng đồ nước này vẫn tiếp tục đến Trung Quốc truyền đạo. Từ đời Đường trở về sau thì một người cũng không có, hầu như trong khoảng 200 năm, sự giao thông qua lại giữa Phật giáo Ca-thấp-di-la và Trung Quốc dứt tuyệt. Nhưng sau khi Mễ-hắc-lạt-khố-lạt chết, Phật giáo Ca-thấp-di-la mới dần khôi phục, ngài Huyền Trang thuật lại tình huống hưng thịnh ấy rất rõ.
Ngài Huyền Trang vào nước Ca-thấp-di-la nhằm năm 631 Tây lịch. Căn cứ Từ Ân truyện quyển 2,35 ngài từ cửa Tây nước này mà tiến hành, lễ bái Già-lam, nghỉ đêm tại chùa Hộ-sắt-ca-la (Huviṣkāra) do Huviṣka, vua nước Đại Nguyệt Thị kiến lập. Những vị Tăng trong chùa nằm mơ thấy thần đến mách bảo, họ (kinh sợ) mới tinh tấn “kinh hành thiền tụng” (đến sáng), nên ngài Huyền Trang mới nhận được sự sùng kính của họ rất nhiều. Trải qua như vậy vài ngày, ngài Huyền Trang đi dần đến gần vương thành (Đường thư gọi là thành Pháp-la-vật-la [Pravarapara nay là Srīnagar]), được vua Đạt-ma-xá-la (Dharmasāla - Phước Xá) và quần thần dẫn hơn 1.000 vị Sa-môn trong thành, phần nhiều cầm tràng phan (cờ), bảo cái (lọng), hương hoa đến nghênh đón, lễ bái hết mực ân cần. Thỉnh ngài Huyền Trang cỡi voi lớn vào kinh đô, nghỉ lại ở chùa Xà-da-nhân-đà-la (Jayendra). Ngày hôm sau, quốc vương thỉnh ngài vào trong cung cúng dường, cùng với vài mươi vị đại đức bàn luận hỏi đáp, nhà vua nghe rất
35 Từ Ân truyện 2, T50n2053_p231a11.
hoan hỷ, vua còn lệnh cho 20 người trợ giúp ngài viết kinh, 5 người hầu hạ sai bảo, đồng thời chi cấp mọi phí dụng. Cũng sách ấy (Từ Ân truyện) nói, vua nghe ngài Huyền Trang sắp lên đường về lại Đường (Trung Quốc), ra khỏi nước Đát-xoa-thỉ-la, mới sai xứ nghênh tiếp pháp sư, nghe ngài đã đến thành Ô-đạc-ca-hán-trà (Udakakhanḍa), chẳng ngại đường xa, đích thân đến nghênh bái, nhiều ngày mới về. Vậy nhà vua kiến lập chùa Đạt-ma-xá-la là để chuẩn bị chỗ nghỉ cho các vị Tăng hành cước, và cung cấp chỗ nghỉ ngơi cho người bần cùng, đất ấy cách vương thành một do-tuần.36 Căn cứ những điều ghi trong Rājataraṅgiṇī, Già-lam Xà-da-nhân-đà-la là do cậu của Pravarasena đời thứ hai tên là Jayendra kiến lập mà đặt tên (Tham khảo Rājataraṅgiṇī, III, 255). Nghiên cứu trên đồng tiền của Pravarasena đời thứ hai thì vị vua đó xác thật là người của thế kỷ thứ VI Tây lịch. Từ Ân truyện quyển 2 giải thích chùa Xà-da-nhân-đà-la: “Chùa, do cậu của vua lập”, người gọi là cậu là chỉ cho anh em cùng mẹ làm ra, nên Pravarasena đời thứ hai phải là cháu của Xà-da-nhân-đà-la. Khi ngài Huyền Trang đến nước Ca-thấp-di-la thì vị vua đó còn. Cho rằng vua ấy ở ngôi vị cai trị ước chừng 60 năm, tức là khoảng từ thế kỷ thứ VI đến thế kỷ thứ VII, nước Ca-thấp-di-la đều dưới sự thống trị của vua ấy. Nếu thế thì Pravarasena đời thứ hai rõ ràng là người sùng kính Tam bảo.
Ngài Huyền Trang được sự bảo hộ của Pravarasena đời thứ hai, và thờ vị đại đức số một của nước này là ngài Tăng Xứng (Samghayasas) làm thầy, lĩnh hội pháp luận nơi vị ấy.
36 Do-tuần 由旬: Skt=Pāli. Yojana, dịch hạn lượng… Đơn vị đo độ dài thời xưa ở Ấn Độ. Phạn ngữ Yojana, có nghĩa “mang ách”, phát xuất từ gốc “yuj”, tức chỉ đoạn đường con bò mang ách đi một ngày. Theo Đại Đường Tây Vực ký 2, một Do-tuần chỉ lộ trình một ngày hành quân của vua.
Lúc bấy giờ, ngài Tăng Xứng đã quá 70 tuổi, khí lực suy lắm rồi, nhưng thấy căn khí của ngài Huyền Trang thâm hậu, mới cố gắng vào trước giờ ngọ (buổi sáng) giảng Câu-xá luận, sau giờ ngọ (buổi xế) giảng Thuận chính lý luận, buổi chiều giảng Nhân minh và Thanh minh. Đương thời, Sa-môn nước Ca-thấp-di-la học hành đức hạnh không có người hơn được pháp sư Tăng Xứng. Nhưng những vị Tăng học Đại thừa như Tỳ-tuất-đà-tăng-ha (Visuddhasimha - Tịnh Sư Tử), Thần-na-phạn-trà (Jimabandhu - Tối Thắng Sấn); Tăng học Tát-bà-đa bộ như Tô-già-mật-đa-la (Sugatamitra - Như Lai Hữu), Bà-tô-mật-đa-la (Vasumitra - Thế Hữu); Tăng học Tăng-kỳ bộ như Tô-lợi-da-đề-bà (Suryadeva - Nhật Thiên), Chấn-na-đát-la-đa (Jinatrāta - Tối Thắng Cứu) v.v… tài năng đạo nghiệp của họ đều vang dội trong hàng Sa-môn. Ngài Huyền Trang đã luận đạo với những vị đại đức này, nhờ thế tài năng của ngài mới giỏi thêm. Do lúc bấy giờ ở nước Ca-thấp-di-la ngoài Tiểu thừa giáo Hữu bộ, Đại chúng bộ ra, cũng có không ít những đại sư Đại thừa giáo. Tuy Đại thừa, Tiểu thừa giáo lưu hành cùng lúc, nhưng người đứng đầu của giới chấp giáo hình như vẫn là người học Tiểu thừa giáo. Căn cứ lời nói của ngài Huyền Trang, phía Đông nam thành hơn 10 dặm có một ngôi Già-lam, Tăng đồ hơn 300 người, trong tháp có thờ chiếc răng Phật dài chừng nửa tấc; phía Nam thành 14, 15 dặm, có ngôi Già-lam nhỏ, trong ấy có đắp một pho tượng Bồ-tát Quán Tự Tại đứng, rất là linh nghiệm. Phía Đông nam thành hơn 30 dặm có một núi lớn, trên núi có một ngôi Già-lam cổ trang nghiêm, hoành tráng phi thường, mà hoang phế không thể tả, ở một góc Già-lam có hơn 30 người giáo đồ của Đại thừa cư trú. Lại phía Tây vương thành 140, 150 dặm có ngôi Già-lam của Đại chúng bộ, Tăng đồ hơn 100 người. Tổng kết lúc bấy giờ nước này có hơn 100 ngôi Già-lam,
Tăng đồ hơn 5.000 người. Nhưng ngài Huyền Trang lại nói rằng:37
“Giống người Cật-lợi-đa thường đem Tăng đồ ra tiêu diệt tông tự (tông phái tế tự), oán ấy chồng chất ganh ghét Phật pháp, năm tháng đã xa, lại tự xưng vương, nên nay nước này chẳng sùng tín lắm. Đền thờ trời ngoại đạo rất coi trọng”.
Lại nói rằng:
“Tập quán địa phương khinh bạc, tính người hèn nhát, nước được rồng bảo hộ nên hùng bá những nước bên cạnh. Dung mạo xinh đẹp, tính tình dối trá, hiếu học biết nhiều, tà chánh tin hết.”
Vậy từ sau khi tín đồ dị giáo xâm nhập, Phật giáo Ca-thấp-di-la thường gặp sự ngược đãi, đại khái tình hình thế lực ấy bớt đi sự giết hại. Sau đó tuy trải qua khôi phục, nhưng tín ngưỡng dị giáo của thần Śiva (Thấp-bà) đã hỗn nhập vào dân gian, không còn là nước Phật giáo thuần túy.
Trong Tây Vực chí của Vương Huyền Sách so với việc đi Tây Vực của ngài Huyền Trang thì hơi chậm, nhưng cũng có ghi chép về Phật giáo Ca-thấp-di-la:
Nước Kế Tân sùng kính Phật giáo, bên trong đô thành nước ấy có chùa, tên là chùa Hán (Hán tự). Ngày xưa Hán sứ ở chỗ đó kiến lập Phật (Phù-đồ), dùng đá cấu trúc nên, cao 100 thước, người đạo kẻ tục cung kính rất ư lạ thường. Trong chùa có xương đỉnh đức Phật, cũng có tóc Phật màu xanh, xoắn ốc, dùng bảy báu trang sức, đựng trong hộp vàng. Phía Tây bắc đô thành của vua có
37 Tây Vực ký 3, T51n2087_p887b4.
ngôi chùa vua, trong chùa có tượng Bồ-tát Thích-ca tuổi ấu niên, cao một tấc; thứ đến là chùa vương phi ở phía Tây nam thành ấy, chùa có tháp (Phù-đồ) đồng vàng cao 100 thước, trong tháp có xương Xá-lợi, mỗi khi đến ngày lục trai, ban đêm phóng ra ánh sáng, chiếu soi quanh tháp, cho đến lúc rạng đông (Pháp uyển châu lâm quyển 38).38
Đoạn ký sự này, tuy nghi ngờ tạp nhạp, lộn xộn, nhưng cũng có điểm khiến cho người ta có ít nhiều chú ý thêm. Chùa Hán mà Vương Huyền Sách nói, tuy ngài Huyền Trang không có ghi chép, nhưng chúng ta không thể nhân đây mà hoài nghi lời nói của Vương Huyền Sách. Bởi vì nước Ma-yết-đà từng có ngôi Già-lam xây riêng cho Tăng đồ Trung Quốc. Căn cứ ghi chép trong Sa-môn Tân La Tuệ Luân truyện, về việc theo Huyền Chiếu đi đến Thiên Trúc trong niên hiệu Trinh Quán đời Đường thì gần Già-lam Lộc Dã, vua Thất-lợi-cấp-đa (Srigupta) đã từng vì Tăng đồ Trung Quốc kiến lập ngôi Già-lam hiệu là Chi-na Tự (chùa Trung Quốc), mà lúc bấy giờ có hơn 20 vị Đường Tăng cư trú (xem Cầu pháp cao tăng truyện quyển thượng).39
Lại năm Càn Đức thứ 2 đời Tống Thái Tổ (năm 964 Tl.), Tam tạng Kế Nghiệp đi đến Ấn Độ, Lữ hành ký của ngài cũng có nói bên trong nước Ma-yết-đà có ngôi chùa Hán và gọi là Già-lam của Chi-na Tây Tự (xem Ngô thuyền lục quyển thượng).40 Vậy nước Ca-thấp-di-la e rằng cũng có sự
38 Pháp uyển châu lâm 38 (Sa-môn Đạo Thế soạn thời Đường, 100 quyển), T53n2122_p589a2.
39 Cầu pháp cao tăng truyện 1, T51n2066_p5a15.
40 Du phương ký sao 1 (Kế Nghiệp Tây Vực hành trình), T51n2089_p981b28.
tồn tại của loại Già-lam này. Vào thời Tuyên đế, Nguyên đế, Thành đế nhà Hán thường sai sứ đi đến nước Kế Tân, vậy điều Vương Huyền Sách nói là không phải truyền lại lầm lẫn. Trong lời của Vương Huyền Sách dẫn ở đoạn văn trên, đã khen ngợi ngôi chùa ấy “người đạo kẻ tục cung kính, rất ư lạ thường”, cùng lời ngài Huyền Trang thuật ở trước với lời bình là “Tập quán địa phương khinh bạc, tính tình dối trá”, sự quan sát của hai người hoàn toàn đối ngược nhau. Khoảng cách giữa hai người ấy chỉ có 20 năm mà nhân tình phong tục của nước này đã đột biến đến như vậy thì e rằng chưa chắc đúng. Điều chủ yếu là phương diện quan sát ở hai người đều có bất đồng về điểm nhắm đến. Ông Vương Huyền Sách vốn đứng trên quan điểm tôn giáo để lập luận, còn ngài Huyền Trang thì theo phương diện thế tục mà nói. Chỗ mà Vương Huyền Sách gọi là chùa Vương Phi, chùa có Phù-đồ (Phật) đồng vàng, từ điểm này truy tìm lượng định, tức là ngôi tháp cùng ngôi Tăng Già-lam Indradeva, do bà phi Indradeva của vua Meghavahana kiến tạo mà văn trên đã thuật, chắc chắn như thế.
Cuối thế kỷ thứ VII Tây lịch, nước Ca-thấp-di-la có vài vị Sa-môn đi đến Trung Quốc theo sự nghiệp phiên dịch. Năm đầu niên hiệu Nghi Phụng đời Đường Cao Tông (năm 676 Tl.), ngài Phật-đà-ba-lợi (Buddhapāla - Giác Hộ) đến Trung Quốc. Ngày mùng 5 tháng giêng năm thứ 4 niên hiệu ấy, Đỗ Hành Khải41 vâng chiếu phiên dịch; lại ngày 23 tháng 5 năm đầu niên hiệu Vĩnh Thuần (năm 682 Tl.), ngài
41 Đỗ Hành Khải 杜行顗: Người Bắc Kinh, làm chức Hồng Lô tự điển khách thự (chức quan phụ trách đón tiếp người khả kính, vương công ngoại quốc tại chùa Hồng Lô). Bấy giờ, Sa-môn Phật-đà-ba-lợi đến Trường An, dâng hiến bản kinh Phạn văn “Phật đảnh tôn thắng đà-la-ni”, Cao Tông ban sắc Hành Khải và Tam tạng Nhật Chiếu cùng dịch.
Nhật Chiếu dịch lại kinh Phật đảnh tôn thắng đà-la-ni 1 quyển. Tiếp theo, năm Thiên Hậu Trường Thọ thứ 2 (năm 693 Tl.), ngài A-nễ-chân-na (Ratuakinta - Bảo Tư Duy) đến Lạc Dương, sau đó vào năm Thần Long thứ 2 đời Trung Tông (năm 706 Tl.), ngài A-nễ-chân-na ở chùa Thọ Ký, chùa Thiên Cung, chùa Phước Tiên v.v… phiên dịch kinh Bất-không-la-sách đà-la-ni tự tại vương chú 3 quyển, kinh Quán Thế Âm bồ-tát như ý ma-ni đà-la-ni 1 quyển, kinh Văn-thù Sư-lợi căn bản nhất tự đà-la-ni 1 quyển v.v... gồm 7 bộ, 9 quyển. Lúc ngài A-nễ-chân-na ở chùa Thiên Cung phiên dịch thì có vị Sa-môn nước Ca-thấp-di-la tên là Thi-lợi-nan-đà-thiết (Srīnandīsa), chịu trách nhiệm duyệt và hiệu đính. Còn có vương tử nước này là A Thuận cũng tham gia ở dịch trường (nơi dịch kinh) của ngài Nghĩa Tịnh. Có thể biết được người đến Trung Quốc theo việc truyền đạo của Tăng đồ Ca-thấp-di-la lúc bấy giờ rất nhiều. Nhưng mà kinh điển họ dịch phần nhiều là Mật giáo, tức là thời bấy giờ Bí mật tông của Phật giáo rất thịnh hành ở nước này cũng như các nước khác tại Tây Vực. Thời Đường (không rõ năm nào), lại có vị Sa-môn nước ấy tên là Phật-đà-đa-la (Buddhatrāta - Giác Cứu), đến Lạc Dương, ở chùa Bạch Mã dịch kinh Đại phương quảng viên giác Tu-đa-la liễu nghĩa 1 quyển. Thế thì khoảng thế kỷ thứ VII, nước Ca-thấp-di-la còn lưu hành Đại, Tiểu thừa giáo, đồng thời Mật giáo cũng được phụng hành, rõ ràng thế!
Trong Rājataraṅgiṇī chép rằng, thời vua Pravarasena đời thứ hai, khoảng 100 năm trước tức là cuối thế kỷ thứ VII, bà phi của vua Raṇāditya tên là Amṛtaprabhā, và bà phi của vua Meghavahana tên là Bimā cùng xây dựng ngôi Già-lam, trong đó an trí một pho tượng Phật rất đẹp. Lại vào thời kỳ đầu thế kỷ thứ VIII, có vua Lalitāditya-Muktāpīda — trong
Rājataraṅgiṇī cho rằng vua này lên ngôi năm 700 Tây lịch, thật ra còn sau hơn 20 năm — là người tín phụng thần Viṣṇu (Tỳ-thấp-noa), nhưng do sự chi phối cảm tình của tông phái nên bỏ ra số vàng lớn để xây dựng chùa Vua (Vương tự - Rājavihāra), lại lập ra Phương đình (Catuḥālā), Chi-đề (Caitya)42 lớn và tượng Phật lớn (Rājataraṅgiṇī IV. 200). Vua dùng đồng hơn một vạn cân kiến tạo pho tượng Phật rất tráng lệ, cao tít tầng mây (IV. 203), lại càng kinh ngạc thán phục sự kiến trúc ngôi Già-lam Ca-da-y (Kayyavihāra) nổi tiếng (IV. 210). Lại có vị tể tướng của nhà vua, người Đổ-hóa-la tên là Caṅkuṇa, cũng kiến trúc ngôi Già-lam Caṅkuṇa, sánh với tháp do nhà vua kiến tạo rất là cao, đồng thời dùng vàng ròng tạo tượng Phật và kiến tạo nhiều ngôi Già-lam hoành tráng (VI. 248-62). Theo sự ghi chép trong sách ấy, có thể biết vương công, đại thần nước đó đều tận lực bảo hộ Phật giáo. Do vậy mà Phật giáo Ca-thấp-di-la mới dần dần đi vào tình thế hưng thịnh.
Vào đầu thế kỷ thứ VIII, khi ngài Tuệ Siêu đi đến Thiên Trúc, đã ghi chép tình huống Phật giáo Ca-thấp-di-la thời bấy giờ như sau:
“Ca-di-la này cũng chính là Bắc Thiên Trúc, nước này hơi lớn, vua có 300 đầu voi, trụ ở trong núi, đường đi hiểm trở, chẳng bị nước ngoài xâm phạm, nhân dân rất đông… vua và các thủ lĩnh, bá tính rất kính Tam bảo. Trong nước có một cái ao rồng, vua rồng ở đó mỗi ngày cúng dường vị Tăng La-hán không đều, tuy không có
42 Chi-đề 支提: Skt. Caitya, Pāli. Cetiya, dịch là tụ tướng (tháp miếu). Theo luật Ma-ha Tăng-kỳ, tháp có thờ xá-lợi gọi là tháp (Tốt-đổ-ba); tháp không thờ xá-lợi gọi là Chi-đề. Địa trì kinh luận chủ trương, bất luận tháp có thờ xá-lợi hay không thờ xá-lợi đều gọi là Chi-đề.
người thấy vị Thánh Tăng đó ăn, nhưng qua giờ ngọ trai thấy bánh, cơm từ dưới nước rối rít lộn xộn nổi lên, do đây mà biết, đến nay cúng dường chẳng dứt. Vua và đại thủ lĩnh đi ra ngoài cưỡi voi, quan nhỏ cưỡi ngựa, bá tính đều cùng đi bộ, trong nước đủ chùa đủ Tăng. Đại, Tiểu thừa đều lưu hành, theo phép năm nước Thiên Trúc, trên đến quốc vương, vương phi, vương tử, dưới đến thủ lĩnh và vợ, tùy theo năng lực của họ đều tự tạo chùa. Họ lại làm riêng, chẳng tạo dựng chung, họ cho rằng công đức của riêng mình, sao phải tạo chung, đây đã vậy, những vương tử khác cũng vậy. Phàm tạo chùa cúng dường, rồi đem cho thôn trang bá tính, cúng dường Tam bảo, không có ai tạo chùa không thí cho bá tính, là phép của nước ngoài. Vua và phi hậu đều có thôn trang bá tính riêng, vương tử, thủ lĩnh đều có bá tính, bố thí tự do, chẳng hỏi vua. Tạo chùa cũng vậy, nên tạo là tạo ngay, cũng chẳng hỏi vua, vua cũng chẳng dám ngăn sợ chuốc lấy tội. Nếu bá tính giàu có, tuy không có thôn trang bố thí, nhưng cũng gắng sức tạo chùa, để tự liệu lý cho được vật cúng dường Tam bảo, vì năm nước Thiên Trúc chẳng bán người, không có nô tỳ, cần phải bố thí cho bá tính thôn trang.”43
Nếu xét theo đoạn văn ghi chép trên, thì Phật giáo nước Ca-thấp-di-la đương thời, từ ngài Huyền Trang trở sau, đã hiện bày trạng thái hoạt động sôi nổi, trên là quốc vương đại thần, dưới là thứ dân bá tính đều sùng tín Tam bảo, số Già-lam cũng nhiều; Đại, Tiểu thừa giáo đồng lưu hành. Ngài Tuệ Siêu ghi chép tình trạng tạo lập chùa, chắc chắn là phong tục tập quán chung của nước Thiên Trúc, chẳng hạn định ở một
43 Du phương ký sao 1, T51n2089_p976c15.
nước Ca-thấp-di-la. Những điều ấy là do người ghi chép dành riêng cho nước này, hình như rõ ràng đó là phong tục, tập quán ở nước Ca-thấp-di-la. Xem ra việc vương công, phi hậu, vương tử, thủ lĩnh và phu nhân v.v…. ở nước ấy tùy theo năng lực của họ kiến tạo Già-lam, quả thật cùng với sự ghi chép của Kalhaṇa và Vương Huyền Sách chính xác giống nhau. Những người đó không những lấy việc kiến lập chùa viện làm mãn ý, mà họ còn hành bố thí, cúng dường Tam bảo cho thôn trang, bá tính thuộc của họ. Những việc làm thánh thiện xây chùa, bố thí này chắc chắn không chỉ hạn chế ở vua chúa, mà vương phi, vương tử, thủ lĩnh cũng được tự do làm việc đó. Ngay đến cả hàng thứ dân giàu có, nếu không có thôn trang cũng được tự do làm việc xây dựng chùa viện, đem toàn lực kiến thiết việc đó. Vậy có thể biết, lúc bấy giờ Phật giáo nước này phát triển toàn quốc, tất cả mọi người thôi thúc nhau hành thiện.
Đến đây muốn nói thêm, ở mục nước Kế Tân,44 ngài Tuệ Siêu cũng ghi chép, ngài từ nước Lãm-ba (ngài Huyền Trang gọi là nước Lạm-ba — Lamghām) đi về phía Tây, trải qua đường núi 8 ngày đến nước Kế Tân, từ Kế Tân đi về phía Bắc 7 ngày là đến nước Phạm-dẫn (ngài Huyền Trang gọi là Phạm-diễn-na — Bamiyan). Chỗ mà ngài gọi là nước Kế Tân, theo ông Đằng Điền Phong Bát khảo chứng thì không phải nước Ca-thấp-di-la mà thật ra là nước Ca-tất-thí (Kapisa). Người trước xem hai nước này là một, không chỉ có ngài Tuệ Siêu mà cả ngài Viên Chiếu. Ở nước Ca-tất-thí, ngài Viên Chiếu có chú giải: “Nói Kế Tân là lược nói sai” (Tục Khai Nguyên lục quyển Thượng).45
44 Du phương ký sao 1, p977c18.
45 Đại Đường Trinh Nguyên tục Khai Nguyên thích giáo lục 1, T55n2156_p755c23.
Từ thời ngài Tuệ Siêu trở về sau, tình hình Phật giáo Ca-thấp-di-la càng hưng thịnh. Năm Chí Đức thứ 2 đời Đường Túc Tông (năm 757 Tl.), khi ngài Ngộ Không (hay gọi Pháp Giới - Dharmadhatu) từ Càn-đà-la vào nước này nói rằng, có hơn 300 ngôi tự viện, tháp tượng linh ứng rất nhiều. Nếu đúng như đã nói thì khoảng hơn 200 năm, số chùa viện nước Ca-thấp-di-la đã tăng gấp ba lần, số Tăng sĩ cũng theo đó gia tăng. Chính là từ thời ngài Huyền Trang trở về sau, Phật giáo nước này rất phát triển. Ngài Ngộ Không ở nước này bốn năm, thờ ba vị cao tăng là Văn-thù-thỉ-niết-địa, Ổ-bất-sằn-đề, Đà-lý-ngụy-địa làm thầy, thọ luật nghi, ở chùa Mông-đề (Mandivihāra) tại nước này tụng Thanh văn giới, lại nghe giảng, học tập luật nghi căn bản. Ngoài chùa Mông-đề còn có chùa A-di-đà-bà-vãn (Āmitābha-vana?), chùa A-nan-đa (Āndanda?), chùa Kế-giả-sầm, chùa Não-dã-la, chùa Nặc-nặc, chùa Tướng Quân, chùa Dã-lý-đặc-lặc, chùa Khả-đôn v.v… đều là những tự viện danh tiếng của nước này. Ngài Ngộ Không lại ghi trong số ấy thì chùa Dã-lý-đặc-lặc là do vương tử Đột-quyết kiến tạo, chùa Khả-đôn là do hoàng hậu Đột-quyết lập.
Lại nữa, ông Stein cũng từng khảo chứng ngôi chùa mà ngài Ngộ Không gọi là chùa Tướng Quân, tức là ngôi chùa mà ông Kalhaṇa gọi là Già-lam Caṅkuṇa-Vihāra. Căn cứ lời nói đó thì từ “Tướng 將” (tsang) và từ “Quân 軍” (Kiun) của Hán văn, tương đương với văn tự Đổ-hóa-la viết là Can và Kuṇ (Stein: Kalhaṇa’s Chronicle; n. IV, 211). Thuyết này rất rõ, tên tự viện do ngài Ngộ Không truyền lại đều là nguyên âm được dịch ra chữ Hán. Vả lại ngôi Già-lam Caṅkuṇa do Kalhaṇa ghi chép là ngôi tự viện do ông Caṅkuṇa người Đổ-hóa-la, thủ tướng nước Ca-thấp-di-la kiến tạo, nên dùng tên ông ấy đặt tên chùa. Vậy trong số chùa viện ngài Ngộ Không ghi chép, cũng có vương tộc Đột-quyết kiến tạo, e rằng cả hai thật ra là dịch
âm cùng một người. Nếu xét sự kiện này thì thời đại của hai người cũng không có xung đột.
Sở học của ngài Ngộ Không ở Ca-thấp-di-la là Tiểu thừa giáo, mà trong truyện ấy lại ghi các nước Bắc Thiên Trúc đều học phái Tát-bà-đa, tựa hồ khoảng giữa thế kỷ thứ VIII, Phật giáo Ca-thấp-di-la lại thịnh hành Tiểu thừa Hữu bộ. Nên năm Kiến Trung thứ 3 (năm 782 Tl.), ngài Kiều-đáp-ma Bát-nhã (Gautama-Prajrā), người nước Ca-tất-thí đến Trung Quốc dịch ba bộ kinh điển Đại thừa — có người cho vị ấy là người nước Kế Tân là lầm — trước kia ngài đã ở chùa Na-lan-đà (Nalanda) tại Trung Ấn Độ, học tập Đại thừa, ngài từng thờ vị đại đức nước Ca-tất-thí tên là Điều Phục Quân làm thầy, nên đi đến nước Ca-thấp-di-la tu học. Trong truyện ký ấy (Tục Khai Nguyên lục quyển Thượng) ghi:
Lại theo thầy đi đến Ca-thấp-mật, đến năm 20 tuổi thọ Luật nghi cụ túc, tụng Tát-bà-đa gần bốn vạn tụng và tụng Câu-xá luận hai vạn tám ngàn tụng đều là Đại-bà-sa, rồi thêm bảy năm thọ học nghĩa lý những kinh điển ấy. Nước này học tập Tiểu thừa”.
Vậy đương thời, Tiểu thừa giáo ở nước Ca-thấp-di-la theo giáo luật của Tát-bà-đa bộ thịnh hành nhất, là sự thật không gì nghi ngờ. Từ thế kỷ thứ IX Tây lịch trở về sau, tư liệu về Phật giáo Ca-thấp-di-la thiếu khuyết, rất khó khảo chứng. Duy chỉ biết là Rājataraṅgiṇī chép rằng, khoảng giữa thế kỷ thứ IX, vua nước Ca-thấp-di-la tên là Jayāpīḍa-Vinayāditya, là người tin Phật thành kính, đã tạo ba pho tượng Phật và ngôi Già-lam lớn. Lại nữa, Phật Tổ thống kỷ quyển 43 và Chí Nguyên khám đồng tổng lục46 đã ghi, năm Thái Bình Hưng Quốc thứ 5 đời Tống
46 Chí Nguyên khám đồng tổng lục: Hay gọi Chí Nguyên pháp bảo khám đồng tổng lục (lược Chí Nguyên lục), là mục lục đại tạng kinh gồm
Thái Tông (năm 980 Tl.), ngài Thiên Tức Tai từ nước này đến Trung Quốc, dịch kinh Đại thừa trang nghiêm bảo vương 4 quyển, kinh Phân biệt thiện ác báo ứng 2 quyển, kinh Kim Diệu đồng tử 1 quyển v.v… gồm 18 bộ kinh điển Mật tông thuộc Đại, Tiểu thừa. Thời kỳ giữa thế kỷ thứ X, ngài Tam tạng Kế Nghiệp chu du Ấn Độ, tuy trải qua nước Ca-thấp-di-la, nhưng không ghi chép gì về Phật giáo nước này. Từ việc phiên dịch Phật điển của ngài Thiên Tức Tai mà tìm thì cuối thế kỷ thứ X, Đại, Tiểu thừa giáo và Mật tông trong nước Ca-thấp-di-la đều cùng lưu hành, điều này có thể biết được.
Lại nữa, lúc đó quốc vương Haisadeva cũng là tín đồ Phật giáo, Phật giáo nước này hình như cũng phát triển sinh khí hoạt động. Căn cứ theo văn bia tàn hủy Đạo tàng (ngụy) kinh47 (xem Phật Tổ lịch đại thông tải quyển 33)48 thì thời Hiến Tông nhà Nguyên (Bài tựa của Biện ngụy lục nói rằng, khoảng năm Ất mão, là năm Hiến Tông thứ 5 tức là năm 1255 Tl.), học trò của đạo sĩ có làm ra Ngụy kinh để khinh miệt, bức hại Phật pháp. Vị trưởng lão chùa Thiếu Lâm là ngài Phước Hựu, đem việc này trình bày với đại sư Kế Tân là ngài Lan-ma, hiệu là đại sư Lan-ma, hình như là người nước Ca-thấp-di-la; có lẽ liên quan đến Sa-môn đương thời từ nước này đi đến Trung Quốc, không gì nghi ngờ. Vậy một mình Phật giáo nước này có thể duy trì cho đến đời sau, thì vị trí vùng đất ấy quả thật cùng có quan hệ. Đến thời vua Sangrāma (năm 1003–1028 Tl.), bị vua Mahmūd tín đồ Hồi giáo của Ghaznī công phạt, đánh bại, rồi nương hình thế tự
10 quyển, do 29 vị đại đức như Khánh Cát Tường… phụng chiếu biên soạn vào đời nhà Nguyên.
47 Thánh chỉ cấm đoán Đạo giáo tàng trữ ngụy kinh (kinh tà ngụy) (Phật Tổ lịch đại thông tải, T49n2036_p719a28).
48 Phật Tổ lịch đại thông tải, 22(33), p715c.