Tìm kinh sách
Vần A-Z:
Nghiên cứu Phật Giáo Tây Vực

Nghiên cứu Phật Giáo Tây Vực

Tác giả: Cư sĩ Tuệ Khai, Phụ chú: Thích Tâm Nhãn. Dịch giả: Cư sĩ Tuệ Khai, Phụ chú: Thích Tâm Nhãn. Năm xuất bản: 2011. Số trang: 604.

Chương 36: II. Phật Giáo Nước Khương Cư (Trang 357 - 372)

điều này vẫn chưa biết đích xác. Nhưng tìm kiếm đại khái là khoảng cuối thế kỷ thứ V Tây lịch, Phật giáo mới bắt đầu lưu hành ở An Tức. Thử khảo sát tập Tam luận tông do ngài Cát Tạng tập đại thành, tức là đại sư Gia Tường nổi tiếng, sinh ở Kim Lăng vào năm Đại Thanh thứ 3, đời Lương Võ đế (năm 549 Tl.). Tổ tiên ngài là người nước An Tức, tổ phụ vốn người An Tức, tránh cừu hận, đến Trung Quốc, đời đời đều là tín đồ Phật giáo. Cha ngài Gia Tường xuất gia tên là Đạo Lượng, lấy việc khất thực, thính pháp làm sự nghiệp (xem truyện Cát Tạng trong Tục cao tăng truyện quyển 11). Căn cứ vào đây thì tổ phụ của ngài Cát Tạng lúc còn ở bản quốc, e là vào cuối thế kỷ thứ V Tây lịch, vậy lúc bấy giờ nước An Tức đã tín phụng Phật giáo là rõ ràng. 
II. PHẬT GIÁO NƯỚC KHƯƠNG CƯ
Khương Cư cũng là nơi bắt nguồn cho thời kỳ đầu Phật giáo Trung Quốc, tên nước ấy có trong lịch sử Phật giáo. Khi Trương Khiên đi sứ Đại Nguyệt Thị, có người từ nước Đại Uyển đến, từng dẫn đường cho ông đi Đại Nguyệt Thị. Lãnh địa đương thời của nước Khương Cư, căn cứ truyện Đại Uyển trong Sử ký ghi: Khương Cư ở phía Tây bắc Đại Uyển hai ngàn dặm. Lấy nước Đại Uyển làm tiêu chuẩn để xác định vị trí cho Khương Cư, vậy đất nước ấy ở chỗ nào?
Truyện Tây Vực trong Ngụy thư cho rằng: Phá-lạc-na là nước Đại Uyển thời xưa. Phá-lạc-na tức là dịch âm của Ferghana, đã thành định thuyết của giới học thuật, không nghi ngờ gì nữa. Nhưng truyện Tây Vực trong Hán thư cho là vua nước Đại Uyển cai trị thành Quí Sơn. Truyện Đại Uyển trong Sử ký ghi chép thổ tục của Đại Uyển rất trọng cày cấy (nông nghiệp), nên thời đại của Sử ký, vua nước Đại Uyển quả thật thống trị thành Quí Sơn. Nếu địa vị của thành này tỏ
rõ thì vị trí của Khương Cư dễ xác định. Tuy nhiên, việc khảo định vị trí của thành này, ý kiến của học giả phân vân không chắc. Ông Richthofen cho thành này là chỗ mà ký giả A-rập gọi là Usrshna, Đường đại ký lục gọi là Tốt-đổ-lợi-sắt-na, nay là vùng Ura Tube (Richthofen: China, I. p. 541). Sau cùng, thuyết có sức thuyết phục nhất chính là của hai ông Lacouperie và Bretschneider, cho là địa phương Kāsān, và thuyết của ông Tam Trạch Mễ Cát cho là địa phương Khodjend; hai luận thuyết đó rất phổ biến.
Năm trước, ông Bạch Điểu Khố Cát căn cứ truyện Đại Uyển trong Sử ký để khảo chứng thành Đại Uyển và mối quan hệ với Hà Thủy thì cho rằng: Thành Quí Sơn tức là dịch âm của Kāsān. Nếu điều khảo chứng này không gì nghi ngờ thì thành Quí Sơn tức là Kāsān, gần Namangan ngày nay, mà vị trí nước Khương Cư cách phía Bắc, hoặc Tây bắc đất này 2.000 dặm. Đương thời, lãnh địa của Khương Cư là Jaxartes, là đồng cỏ Kirghiz mênh mông thuộc Bắc bộ sông Syr Daria và Siberia ngày nay. Ngày nay học giả Đông, Tây đều nhất trí công nhận căn cứ địa của dân tộc Khương Cư là Kirghiz!
Căn cứ việc truyền lại trong Sử ký, Khương Cư vốn là “Hành quốc” (du mục), giống với phong tục Nguyệt Thị, rõ ràng dân tộc Khương Cư và dân tộc Nguyệt Thị là người du mục.
Lại căn cứ vào thuyết của ông Bạch Điểu thì dân tộc Khương Cư và Đại Nguyệt Thị đều cùng chủng tộc người Thổ-nhĩ-kỳ. Ông Bạch Điểu cho rằng: danh xưng Khương Cư là tên gọi chủng tộc Kangar — tiếng Cagatai nghĩa là “dũng kiện 勇健” — dọc theo bờ Hàm hải (Aral Sea) và hạ lưu sông Sry Daria, khoảng thế kỷ thứ VIII Tây lịch. Hoặc dân tộc du mục ấy sống giữa Issyk Kul (Nhiệt Hải) và sông Ural đầu thế
kỷ thứ XIII Tây lịch, gọi là Kangli, ngôn ngữ Cagatai, nghĩa là “Xa 車”. Nhưng, tên gọi của hai chủng tộc này, khảo xét niên đại ghi chép trong sử phương Tây, cho Kangar là Khương Cư hình như thỏa đáng hơn.
Lúc Trương Khiên đi sứ Tây Vực, Khương Cư còn là nước nhỏ, thế yếu, Sử ký chép: “Khương Cư …. nước nhỏ, phía Nam buộc phải phụng sự Nguyệt Thị, phía Đông phụng sự Hung Nô.” Có thể thấy, lúc bấy giờ Khương Cư ở khoảng giữa, phía Đông ngăn cách bởi Hung Nô, phía Nam ngăn cách bởi Nguyệt Thị, mà phục tùng lệ thuộc hai nước. Đến thời đại Hán thư, thế nước của Khương Cư đã ít nhiều có sự thay đổi, như truyện Tây Vực trong Hán thư ghi chép về lĩnh vực của năm tiểu vương Khương Cư:
“Khương Cư có năm tiểu vương: - Một là Tô-giới vương, thống trị thành Tô-giới, cách Đô hộ15 5.776 dặm, cách Dương Quan 8.025 dặm. - Hai là Phụ-mặc vương, thống trị thành Phụ-mặc, cách Đô hộ 5.767 dặm, cách Dương Quan 8.025 dặm. - Ba là Dũ-nặc vương, thống trị thành Dũ-nặc, cách Đô hộ 5.266 dặm, cách Dương Quan 7.525 dặm. - Bốn là Kế vương, thống trị Kế Thành, cách Đô hộ 6.296 dặm, cách Dương Quan 8.555 dặm. - Năm là Áo-kiện vương, cai trị thành Áo-kiện, cách Đô hộ 6.906 dặm, cách Dương Quan 8.355 dặm. Đó là Năm vị vua thuộc Khương Cư.”
Nay căn cứ vào Tây Vực truyện bổ chú để nghiên cứu khái lược về địa vực, đô thành của các tiểu vương này:
 

15 Đô hộ: Cơ quan cai trị do nhà Hán lập.
 
Thứ nhất là thành Tô-giới, tức là chỗ mà ngài Huyền Trang gọi là nước Yết-sương-na (Kasana), tương đồng với Kesh ngày nay.
Thứ hai là thành Phụ-mặc, chỗ mà ngài Huyền Trang gọi là nước Khuất-sương-nhĩ-ca (Kusannika), ở vùng phụ cận Kerminch ngày nay.
Thứ ba là thành Dũ-nặc, nơi mà ngài Huyền Trang gọi là nước Giả Thời (Tyash), nay là địa phương Tashkend.
Thứ tư là thành Kế, nơi mà ngài Huyền Trang gọi là nước Bổ-hát (Bōkh), tức là Bokhara ngày nay.
Thứ năm là thành Áo-kiện, nơi mà ngài Huyền Trang gọi là nước Hóa-lợi-tập-di-đà (Khorismika), tức là Khiva ngày nay.
Tóm lại, năm tiểu vương quốc này là bao quát cả Túc-đặc (Sogdiana) cách sông Amu Darya, và Tashkend ngày nay. Ông Bạch Điểu Khố Cát khảo chứng truyện Tây Vực trong Hậu Hán thư cho là nước chư hầu của Khương Cư, âm chữ Túc-đặc là Zoku-Yoku, âm Nam kinh là Suk-dok, nên Sugdak là đối âm của Sogdiana, Ngụy thư gọi là Túc-đặc, đúng với Khiva ngày nay. Vậy lúc Trương Khiên đi sứ Tây Vực trở về sau, cho đến thời kỳ cuối nhà Tiền Hán, thế lực nước Khương Cư đã phát triển ở phía Nam là rõ ràng.
Nhưng, ông Bạch Điểu cực lực chủ trương: Khi Trương Khiên đi sứ Tây Vực, đến Đại Uyển (khu vực phía Tây Đại Uyển có Ura Tube), Đại Uyển nghe Khiên nói Hán có nhiều của cải, nên sai Khiên làm người dẫn đường đi đến Khương Cư, rồi từ Khương Cư đến Đại Nguyệt Thị; nhưng khoảng giữa Túc-đặc và Đổ-hóa-la có sự hiểm trở của Thiết Môn (thuộc tỉnh Hà Nam ngày nay), do địa thế thiên nhiên giữa hai nước (Đại Nguyệt Thị và Hán) bị sự hiểm trở như vậy mà
tuyệt giao. Quốc gia ở lưu vực sông Zarafshan và lãnh thổ Tashkend cùng Turkestan v.v… đều trong phạm vi thế lực của Đổ-hóa-la, nếu muốn phát mệnh lệnh đến đất này e rằng chẳng phải dễ, vì trên địa thế rất nhiều khó khăn. Đồng thời, ông Bạch Điểu phản bác thuyết của ông Tomaschek và Franke, cho là Túc-đặc nguyên là lãnh thổ Đại Nguyệt Thị mà sau bị Khương Cư đoạt được. Ông Bạch Điểu cho rằng Khương Cư từ đời Hán Võ đế đã chiếm lấy đất của Túc-đặc. Ông Bạch Điểu khước từ chủ trương từ thời đại của Sử ký, Đại Nguyệt Thị đã chinh phục Đại Hạ mà chiếm hữu đất ấy. Tuy vấn đề này được chứng minh, song miễn cưỡng cho rằng đất của Túc-đặc là lãnh vực của Khương Cư thì chưa khỏi lầm lẫn vậy. Ông Bạch Điểu gợi ý về cuộc hành trình của Trương Khiên đi sứ Nguyệt Thị để làm chứng cứ cho chủ trương của ông có sức thuyết phục, nhưng khảo sát khoảng thời gian Trương Khiên hội kiến vua Đại Uyển thì nhất định Trương Khiên từng đến đô thành Quí Sơn của Đại Uyển, tức là Kāsān, không gì nghi ngờ nữa. Rồi từ đây mà đi đến căn cứ địa của Đại Nguyệt Thị — vương đình ở phía Bắc sông Qui (Qui thủy), không thể không vòng trở lại đi qua lãnh vực phía Nam Khương Cư, tức là địa phương Tashkend ngày nay. Theo mục nước Khương Cư trong truyện Tây Vực của Hán thư ghi, vua Khương Cư đã nhiều lần đi đến thành Ti Điền, và theo sự khảo chứng của ông Bạch Điểu, thành đó ở vùng đất trải dài từ Turkestan đến Chimkend hiện nay. Vậy vùng đất từ phía Nam Chimkend cho đến sông Syr Daria trở ra Bắc, lúc bấy giờ nhất định ở trong phạm vi thế lực của nước Khương Cư, tương đương với Kāsān về phía Tây bắc Namangan ngày nay. Lại từ lĩnh vực của Khương Cư đi đến căn cứ địa của Đại Nguyệt Thị (nay là Tashkend) là thuận đường. Nay tạm gác lại, không luận về địa lý, phải biết việc Đại Uyển phái Trương Khiên ra khỏi Khương Cư, chuyển
đến Đại Nguyệt Thị chỉ là khả năng đứng trên phương diện ngoại giao, còn ông Bạch Điểu chỉ căn cứ vào việc khảo sát địa thế để luận đoán, e rằng luận đoán chưa chính xác.
Lại có người nói, khoảng giữa Túc-đặc và Đổ-hóa-la, tuy có sự hiểm trở của Thiết Môn, nhưng đương thời phong tục du mục vẫn tồn tại, dân tộc Đại Nguyệt Thị lại dũng cảm, hung hãn, thiện chiến, cho rằng họ không thể vượt qua sự hiểm trở của Thiết Môn để dòm ngó đất Túc-đặc, là điều chúng ta không dám khẳng định.
Tóm lại, ông Bạch Điểu chỉ căn cứ vào luận chứng đã trình bày mà cho rằng, từ thời Võ đế nhà Tiền Hán,16 Túc-đặc đã thuộc về Khương Cư là chưa xác đáng. Vả lại, việc nước Khương Cư được ghi chép trong Sử ký và Hán thư, rõ ràng có sai khác. Sử ký cho Khương Cư là nước nhỏ, bị kiềm chế, phụng sự Nguyệt Thị và Hung Nô, mà Hán thư chỉ nói Khương Cư thuần phục Hung Nô, chưa nói bị kiềm chế, phụng sự Nguyệt Thị. Thêm vào đó, thời đại Hán thư, nhân số binh sĩ của Khương Cư gia tăng đến 2, 3 vạn, dân số nước ấy cũng tăng ước chừng 20 vạn — Sử ký tuy chưa nói rõ về dân số của Khương Cư, nhưng Hán thư đã ghi tỷ lệ về binh số và số người nước ấy, từ đó có thể suy tính binh số tương ứng của nước ấy mà trong Sử ký ghi chép — sau khi Trương Khiên đi khỏi Tây Vực, đến cuối thời Tiền Hán, thế nước của Khương Cư vẫn thấy phát triển, là điều không có gì nghi ngờ.
Lại nữa, lời văn ở mục Nguyệt Thị, truyện Đại Uyển trong Sử ký viết rằng: “Khởi đầu, Nguyệt Thị cư trú ở khoảng giữa Đôn Hoàng, Kỳ Liên, đến khi bị Hung Nô đánh bại mới đi xa, qua nước Đại Uyển, về phía Tây đánh Đại Hạ mà bắt
 

16 Tiền Hán: Xem cht. 46, tr. 63.
 
họ thần phục, rồi đóng đô ở phía Bắc sông Qui (Qui thủy) làm vương đình”. Rõ ràng dân tộc Đại Nguyệt Thị thông qua Đại Uyển, tức là vùng đất Ferghana để chiếm cứ Túc-đặc, rồi vượt qua Thiết Môn, sau đó chinh phục Đại Hạ. Nhưng lúc bấy giờ Nguyệt Thị thiết lập vương đình ở vùng đất phía Bắc sông Amu Darya, hình như đã thoát khỏi phong tục du mục của thời Hán thư. Họ lại dời căn cứ về phía Nam sông Amu Darya, nên Khương Cư thừa lúc Túc-đặc phòng ngự yếu kém mà đánh chiếm, thế nước càng mạnh thêm, thế thì làm sao có việc lệ thuộc phụng sự Nguyệt Thị được!? Theo sự khảo sát này thì chân tướng đương thời tự sáng tỏ.
Như trên đã thuật, thời đại Tiền Hán, thế lực nước Khương Cư tăng tiến; thời đại Hậu Hán, Túc-đặc thuộc vương quốc của nước ấy, nhưng vẫn bảo tồn được thế lực của nước mình, còn tin tức về sau thì Hán sử không rõ. Duy chỉ có Ngụy chí và Hán thư ghi chép, năm Hàm Hi thứ 2, đời Ngụy Thiếu đế (năm 265 Tl.) và năm Thái Thỉ thứ 3, đời Tấn Võ đế (năm 267 Tl.), vua nước Khương Cư là Na-tỵ sai sứ cống hiến ngựa hay. Năm Thái Khang thứ 8, đời Võ đế (năm 287 Tl.), cũng đem ngựa hay đến cống hiến. Đến thời Bắc Ngụy thì tên nước Khương Cư đã mất, sau chỉ còn danh xưng Tất-vạn-cân, Giả Thiệt. Tất-vạn-cân là địa phương Samarkand ngày nay. Giả Thiệt là chỗ ngài Huyền Trang gọi là nước Giả-thời, tức Tashkend ngày nay. Nhưng từ Bắc Ngụy trở về sau, hậu Khương Cư có tên thông dụng là Khương quốc. Truyện Tây Vực trong Ngụy thư (quyển 102), Tấn thư (quyển 83), Bắc sử (quyển 97) đều ghi:
“Khương quốc là hậu Khương Cư vậy… Các nước Tây Vực phần nhiều quy thuận về đó, nước Mễ, nước Sử, nước Tào, nước Hà, nước An, nước Tiểu An, nước Na-sắc-ba, nước Ô-na-hạt, nước Mục, đều theo về nước ấy.”
Nước Khương nay là Samarkand, các nước theo về đều ở bên trong lãnh thổ giới Túc-đặc. Vậy rõ ràng là nước Khương thời Nam Bắc Triều là Khương Cư của đời Hán, nước chư hầu của nước Khương chính là đất của Mễ-dặc. Nước này xưa nay là trung tâm thương nghiệp, theo truyện Tây Vực trong Hán thư, thời Thành đế (năm 32-7 trước Tl.), vua Khương Cư sai con đến chầu nhà Hán và cống hiến, nhưng rồi tự cho xa xôi cách biệt, một mình kiêu mạn, không chịu giao hòa với các nước. Quan Đô hộ Quách Thuấn có nói: Việc nước ấy sai con vào chầu chẳng qua muốn buôn bán mà dối trá bằng lời tốt đẹp vậy. Căn cứ Lương cao tăng truyện quyển 1, năm Xích Ô thứ 10 nhà Ngô (năm 247 Tl.), ngài Khương Tăng Hội đến Kiến Nghiệp. Cha ngài chính là người nước Khương Cư, do buôn bán mà di trú đến Giao Chỉ (nay là Việt Nam). Căn cứ báo cáo của ông Pelliot và ông Stein về những văn kiện thương nghiệp viết bằng ngôn ngữ Túc-đặc, khai quật ở thành luỹ hoang phế dọc theo con đường xưa, từ Lop Nor đến Đôn Hoàng vào thế kỷ thứ I trước Tây lịch, và trong văn thư cổ khác do ông Stein khai quật, cho biết là thời kỳ đầu thế kỷ thứ VII, dân tộc nước Khương từng kiến lập một vùng đất thực dân ở nơi giao thoa giữa con đường phía Nam Lop Nor và phía Nam Turkestan. Về sau, khoảng hơn 100 năm, nơi đó vẫn bảo tồn được tổ chức của thể chế tự trị của họ. Theo đây có thể biết quốc dân Khương Cư, hoặc chạy theo cái tầm thường mà chuyển chỗ ở đến các vùng đất khác, thậm chí di cư đến Trung thổ, hoặc vì tránh quốc nạn, hoặc vì truyền bá Phật giáo mà đến Trung Quốc, hình như số này rất nhiều.
Pháp hoa kinh truyện ký quyển 5, ghi chép về ngài Thích Trí Nghi, ở chùa Tịnh Pháp tại Kinh sư (đô thành đế vương) nhà Tùy, vốn họ Khương, là dòng dõi của vua Khương Cư,
tiên tổ ngài vì xa lánh quốc nạn, theo về với Ngụy, được phong đất ở Tương Dương, trải qua hơn 10 đời. Lại nữa, Lương cao tăng truyện quyển 11, chép rằng, ngài Thích Tuệ Minh cư trú ở chùa Chương An Đông, đời Tề, gởi lòng ở cửa Thiền. Vua Cảnh Lăng Văn Tuyên nhà Tề dùng lễ thờ thầy đối đãi ngài, cuối niên hiệu Kiến Võ (năm 494-497 Tl.), ngài mất ở trong núi, thọ 70 tuổi. Ngài Tuệ Minh cũng họ Khương, là người Khương Cư, tổ phụ của ngài tỵ cư ở Đông Ngô. Thời Tam Quốc, tiên tổ của ngài cũng vì tránh quốc nạn mà đến Trung Quốc. Vậy thời Tam Quốc hình như Khương Cư thường bị người ngoài xâm lược. Duyên cớ ấy có thể là do vương triều Sassanid hưng khởi và người An Tức bị đuổi khỏi vùng đất miền Đông Ba-tư mà xâm nhập Khương Cư.
Trong Tăng truyện và Kinh lục, người vốn có họ Khương rất nhiều, nhưng kinh điển mang lại trực tiếp từ bổn quốc của họ thì e rằng chẳng nhiều. Năm Trung Bình thứ 4, đời Hán Linh đế (năm 187 Tl.), ở Lạc Dương, Sa-môn Khương Thần 康臣 (hoặc viết là Cự 巨) dịch kinh Vấn địa ngục sự, 1 quyển. Các Kinh lục đều cho ngài là người Tây Vực, có chí tuyên dương hoằng pháp Phật giáo mà đến Trung thổ, đại khái cũng là người Khương Cư.
Thứ đến là ngài Khương Mạnh Tường, từ khoảng năm đầu niên hiệu Hưng Bình đời Hiến đế (năm 194 Tl.), đến năm Kiến An thứ tư (năm 199 Tl.) đã dịch:
Kinh Thái tử bản khởi thụy ứng (Thụy ứng bản khởi), 2 quyển.
Kinh Phạm võng, 1 quyển (hoặc 3 quyển).
Kinh Tứ đế (dịch khác của kinh Trung A-hàm quyển 7), 1 quyển.
Kinh Báo phước, 1 quyển.
Kinh Xá-lợi-phất, Ma-ha Mục-kiền-liên du tứ cù (dịch khác của kinh Tăng nhất A-hàm quyển 41), 1 quyển.
Kinh Hưng khởi hạnh (kinh Nghiêm giới túc duyên), 2 quyển.
Lịch đại tam bảo kỷ chỉ nói ngài là Sa-môn ngoại quốc, nhưng Khai Nguyên thích giáo lục thì cho tổ tiên của ngài là người nước Khương Cư, nhân đi buôn bán, hoặc vì lý do khác mà đến Trung Quốc. Ngài quả là con cháu của người Khương Cư, không có gì nghi ngờ. Cho nên những kinh điển do ngài dịch có quan hệ ít nhiều với nước Khương Cư, nhưng phải biết kinh điển ấy tuyệt đối chẳng phải từ Khương Cư mang lại.
Lại nữa, vào năm Gia Bình thứ tư, nhà Ngụy (năm 252 Tl.), ngài Khương Tăng Khải (Saṃghavarman) ở chùa Bạch Mã tại Lạc Dương, dịch kinh:
Úc-già trưởng giả sở vấn, trong bộ Bảo tích (Úc-già-la-việt vấn bồ-tát hạnh), 1 quyển (hoặc 2 quyển).
Kinh Vô lượng thọ, 2 quyển.
Tứ phần tạp yết-ma (Đàm-vô-đức luật bộ tạp yết-ma), 1 quyển.
Lương cao tăng truyện gọi ngài là Sa-môn ngoại quốc, còn các Kinh lục nói ngài là Sa-môn nước Thiên Trúc, vì đầu tiên ngài lấy họ Khương, hoặc ngài là người gốc Khương Cư, từng du học Thiên Trúc. Ngài Khương Tăng Hội thuật ở trước, vào năm Xích Ô thứ 10, đầu tiên đến Kiến Nghiệp, quy y cho Tôn Quyền, Tôn Quyền vì ngài kiến tạo chùa Kiến Sơ, ngài ở chùa này dịch vài bộ kinh, nhưng Cao tăng truyện17 chép rằng:
 

17 Cao tăng truyện 1, T50n2059_p325a13.
 
“Khương Tăng Hội, tổ tiên ngài là người Khương Cư, nhiều đời sống ở Thiên Trúc. Cha ngài nhân buôn bán dời đến Giao Chỉ. Năm Hội hơn 10 tuổi, song thân đều mất, đến khi hiếu phục (chịu tang) xong là xuất gia, gắng sức tu hành rất nghiêm túc, là người học rộng, nhã đạm, có hiểu biết, bao dung.”
Vậy ngài thật sự trưởng thành tại Giao Chỉ, sau khi song thân mất mới xuất gia. Những kinh điển ngài dịch hầu như không có quan hệ gì với nước Khương Cư. Biết được điều đó là sau khi tham khảo đoạn văn trên. Còn đối với những kinh ngài dịch, lược thuật qua sau đây:
Số bộ kinh ngài Tăng Hội dịch, việc ghi chép ở các Kinh lục phần nhiều có bớt ra, thêm vào.
Xuất tam tạng ký tập ghi là  2 bộ, 14 quyển.
Lịch đại tam bảo kỷ ghi là 14 bộ, 29 quyển.
Khai Nguyên thích giáo lục chép là 7 bộ, 20 quyển.
Có kinh Lục độ tập (kinh Lục độ vô cực, kinh Độ vô cực tập, kinh Tạp vô cực), 8 quyển (hoặc 9 quyển).
Kinh Cựu tạp thí dụ (kinh Tạp thí tập 2 quyển, kinh Ngô phẩm, Tiểu Phẩm bát-nhã), 5 quyển.
Kinh Bồ-tát tịnh hạnh (dịch khác của Đại tập bảo kế phẩm), 1 quyển.
Kinh Quyền phương tiện, 1 quyển.
Kinh Bồ-tát nhị thập ngũ pháp, 1 quyển (hoặc 2 quyển).
Kinh Tọa thiền, 1 quyển.
Theo Lịch đại tam bảo kỷ của Phí Trường Phòng, ngoài những kinh Khương Tăng Hội dịch nêu trên, còn có bốn bộ:
Kinh A-nan niệm di (kinh Pháp A-nan niệm), 2 quyển.
Kinh Cảnh diện vương, 1 quyển.
Kinh Sát-vi vương, 1 quyển.
Kinh Phạn Hoàng vương, 1 quyển.
Những kinh ghi thêm đều phát xuất từ kinh Lục độ tập. Ngoài ra, vào đời Thành đế nhà Đông Tấn (năm 327-342 Tl.), Sa-môn Khương Pháp Thúy sao chép gom tập các kinh, soạn thành kinh Thí dụ (Kinh Chánh thí dụ) 10 quyển, và năm Thái Nguyên thứ 21, đời Hiếu Võ đế nhà Đông Tấn (năm 396 Tl.), ngài Khương Đạo Hòa dịch kinh Tư ích. Kinh truyện không ghi chép ngài là người nước nào, nhưng đại để cũng là người có quan hệ với nước Khương Cư. Lại nữa, đời Hiếu Võ đế nhà Tấn (năm 373-396 Tl.), Thích Pháp Bình cùng em mình là Pháp Đẳng18 xuất gia ở chùa Bạch Mã, là đệ tử của Sa-môn Chi-đàm-dược, nước Nguyệt Thị, cũng là người Khương Cư. Cuối thời Đông Tấn, Cao tăng Chi-đàm-đế (không phải ngài Đàm-đế dịch Đàm-vô-đức yết-ma) vân du các phương tuyên dương Phật pháp, vốn là người Khương Cư (căn cứ lời viếng Chi-đàm-đế chép trong sách Quảng hoằng minh tập quyển 23).19
Thời Tống Hiếu Kiến (Hiếu Võ đế - Lưu Tuấn) (năm 454-456 Tl.), ngài A-na-ma-để (Ratnamati - Bảo Ý) đến Trung Quốc, tương truyền ngài cũng là người Khương Cư, tinh thông thiền lý, kinh, luật. Thời Văn Huệ, Văn Tuyên nhà Tùy, Thái Võ đế nhà Lương đều dùng lễ bậc thầy để kính ngài, nhưng không thấy ngài dịch quyển kinh Phật nào.
Dựa vào những Phật tăng Khương Cư nêu trên, chắc chắn thời Hán không phải dân tộc Khương Cư lấy vùng hoang dã Kirghiz làm căn cứ địa, mà đại đa số là người Túc-đặc (Sogdiana), thuộc nước chư hầu của Khương Cư. Như lời tiến sĩ Bạch Điểu nói, dân tộc cư trú ở vùng hoang dã Kirghiz là chủng tộc Thổ-nhĩ-kỳ du mục, dũng mãnh, hung hãn, nhưng
 

18 Cao tăng truyện 13, T50n2059_p413c14.
19 Quảng hoằng minh tập 23, T52n2103_p263b6.
 
quốc gia Túc-đặc - chư hầu của nước ấy mới là nơi bắt nguồn văn hóa xưa nay, và nhân dân nước ấy phần nhiều chuyên giữ hòa bình, xưa đến giờ đều là giống người Iran. Thế thì Phật giáo Túc-đặc nhất định do Đại Hạ truyền vào, nên cuối thế kỷ thứ II Tây lịch, khi Khương Thần (Cự) và Khương Mạnh Tường đến Trung Quốc truyền giáo thì Phật giáo Khương Cư đã phát triển cực hưng thịnh. Đối với vấn đề kinh Phật do Khương Cư truyền vào Trung Quốc, phần nhiều là kinh điển Đại thừa thuộc bộ Phương đẳng và bộ Bảo tích, số còn lại là kinh điển Tiểu thừa thuộc bộ A-hàm, và các kinh khác thuộc về bộ Đại thừa Bát-nhã, Luật tạng với bộ Đàm-vô-đức v.v… như trước đã nói đến. Vậy có thể biết Phật giáo Khương Cư, Đại Nguyệt Thị và An Tức cùng một hệ thống giáo pháp, kinh Phật phiên dịch do nước này lưu hành cũng giống với Đại Nguyệt Thị. Ông Pelliot thám hiểm Trung Á từng thu hoạch được nhiều kinh Phật quan trọng bằng ngôn ngữ Túc-đặc, nhưng chưa thấy ông báo cáo tỉ mỉ rõ ràng, nên không biết được nội dung việc ấy.
Tóm lại, dân nước Khương Cư cũng vì mục đích thương nghiệp, truyền giáo mà đến Trung Á và Trung Quốc sinh hoạt, cư trú. Họ đã cống hiến cho nền văn minh phương Đông quả thật không phải là ít.
Từ giữa thế kỷ thứ IV Tây lịch trở lại, Áp-đạt đuổi Đại Nguyệt Thị, chiếm cứ Đại Hạ, đóng đô ở Khiva ngày nay. Khương Cư cũng là quốc gia chư hầu của nước ấy nên Phật giáo ở đất Túc-đặc không thể không bị nước ấy áp bức. Áp-đạt chắc chắn là dân tộc chẳng tin Phật giáo mà tin ngoại thần, trước đã trình bày rồi. Mục nước Áp-đạt, truyện Tây Vực trong Ngụy thư nói rằng: “Vua nước ấy đóng đô ở thành Bạt-để-diên (Bactria), là thành Vương-xá. Thành ấy vuông hơn 10 dặm, nhiều chùa tháp, đều trang sức bằng vàng.”
Những chùa tháp này là di vật của đời trước, có thể là bằng chứng Áp-đạt không phụng sự Phật giáo. Cho nên Phật giáo Khương Cư rõ ràng từng bị tín đồ dị giáo thuộc tộc người Áp-đạt áp bức, nhưng sau đó thì Phật giáo nước Khương vẫn chưa tuyệt mất. Mục nước Khương, truyện Tây Vực trong Ngụy thư nói: “Tổ triều lập quốc, lấy tháng 6 để tế lễ, các nước đều trợ giúp cúng tế, phụng thờ Phật là theo sách Hồ.”
Truyện nước Khương trong Tùy thư (quyển 83) cũng nói: “Tục phụng thờ Phật là theo sách Hồ.” Cựu Đường thư, quyển 198: “Nước này hầu hết có Phật pháp.” Đường thư, quyển 221: “Nước này còn pháp Phù-đồ (Phật), đền thờ Thần”; song Đỗ thị thông điển quyển 193, Văn hiến thông khảo quyển 338 lại ghi rằng:
“Nước Khương Cư thông thương thời Hán. Cách Tây bắc Đại Uyển đến hai ngàn dặm… Tây phiên ký của Vi Tiết nói rằng: Người nước Khương đều giỏi buôn bán, con trai lên 5 tuổi thì cho học sách, đứa ít thông hiểu thì cho học buôn bán, lấy việc được nhiều lợi làm tốt. Người nước ấy thích âm thanh, lấy ngày mồng 1 tháng 6 làm đầu năm… Tục thờ Thiên thần, sùng kính rất nặng, cho rằng thần nhi bảy ngày chết thì mất hài cốt. Người thờ thần mỗi khi đến tháng ấy đều mặc áo đen nhiều lớp, đi chân trần, đấm ngực gào khóc, nước mắt đầm đìa. Đàn ông, phụ nữ hàng năm ba trăm người, tràn ra đồng cỏ tìm kiếm hài cốt Thiên nhi, bảy ngày mới thôi. Bên ngoài quốc thành, đặc biệt có hơn hai trăm hộ chuyên lo tang sự, xây riêng một ngôi viện, bên trong viện ấy nuôi chó, mỗi khi có người chết, liền đến lấy thây về đặt bên trong viện này, cho chó ăn hết thịt rồi thu lấy hài cốt, chôn cất không có quan quách.”
Hai quyển sách này không nói một chút gì về Phật giáo Khương Cư, mà trình bày nghi thức dị giáo lại rất rõ ràng. Nhưng trong Từ Ân truyện quyển 220 ghi chép, vua nước Samarkand và bá tánh nước ấy chẳng tin Phật pháp, phụng thờ Hỏa giáo, có 2 ngôi chùa. Nếu có Phật, Tăng đến ở thì dân Hồ lấy lửa đốt họ. Ngài Huyền Trang đã ở nước này tuyên nói Phật pháp, vua liền quy y, trên dưới đều chân thành kính tín phụng sự Phật pháp, thiết lập đại Pháp hội, thu nhận Phật giáo đồ. Căn cứ điều này thì sau khi ngài Huyền Trang truyền giáo, Phật giáo nước này hơi chấn hưng trở lại, nhưng không hưng thịnh bằng ngày xưa, cuối cùng cũng bị ngoại giáo áp bức, tiêu diệt.
Cho nên vào đầu thế kỷ thứ VIII Tây lịch, lúc Tuệ Siêu vào nước này đã nói:
“Từ nước Đại Thật trở về phía Đông đều là những nước của Hồ, tức là nước An, nước Tào, nước Sử, nước Thạch Loa, nước Mễ, nước Khương. Trong những nước ấy tuy có vua, nhưng đều thuộc sự cai quản của Đại Thật, là những nước nhỏ hẹp, binh mã chẳng nhiều, có thể tự thủ hộ… Lại 6 nước này đều thờ Thần lửa (Hỏa yêu giáo), chẳng hiểu biết Phật pháp, chỉ nước Khương có một ngôi chùa, một vị Tăng, lại không tỏ lòng kính trọng.”21
Nói Hỏa yêu giáo tức là tôn giáo Zoroaster. Lúc này, nước Khương chỉ còn một ngôi chùa, một vị Tăng, khiến ta liên tưởng đến dấu vết còn lại của pháp sư Huyền Trang vào những năm ngài truyền giáo tại đây.     
 

20 Từ Ân truyện (Đại Đường Đại Từ Ân tự tam tạng pháp sư truyện) 2, T50n2053_p227c11.
21 Du phương ký sao 1, T51n2089_p978b22.
 
/75
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
🙏 Trợ Lý Phật Pháp AI »