Tìm kinh sách
Vần A-Z:
Nghiên cứu Phật Giáo Tây Vực

Nghiên cứu Phật Giáo Tây Vực

Tác giả: Cư sĩ Tuệ Khai, Phụ chú: Thích Tâm Nhãn. Dịch giả: Cư sĩ Tuệ Khai, Phụ chú: Thích Tâm Nhãn. Năm xuất bản: 2011. Số trang: 604.

Chương 27: Sự hưng khởi của tộc Thiết Lặc (Trang 204 - 206)

thổ, đông đến Kim Sơn (nay là núi A-nhĩ-thái), Tây đến Tây Hải, hầu hết các nước về phía Tây Ngọc Môn38 đều thần phục họ, kiến thiết vương triều39 ở núi Tam Di40 phía Bắc Qui-tư, cùng đối địch với Đông Đột-quyết. Xạ Quỹ chết, em là Thống Diệp Hộ Khả Hãn lên thay, phía Bắc chiếm Thiết Lặc, phía Tây chống Ba-tư, phía Nam tiếp giáp Kế Tân, chiếm cứ đất cũ của Ô Tôn, làm bá chủ cả Tây Vực, dời triều đình về Thiên Tuyền phía Bắc Thạch Quốc (một dải Tashkent). Hầu hết các nước Tây Vực đều được Tây Đột-quyết bảo vệ, sử gọi là “sự hưng thịnh của Tây Nhung chưa từng có vậy”. Đây là thời kỳ cực thịnh của Tây Đột-quyết.
Sự hưng khởi của tộc Thiết Lặc:
Thiết Lặc và Cao Xa nguyên là một bộ tộc, đều xuất phát từ Đinh Linh.41 Đinh Linh nguyên ở phía bắc Hung Nô, đến đầu nhà Ngụy, tộc đó bị nhà Ngụy đánh phá nên nhiều người trong tộc ấy dời về phía Nam sa mạc, xưng là Cao Xa. Những người lưu lại Mạc bắc (sa mạc phía Bắc) và đất cũ của tộc ấy sử gọi là Thiết Lặc.
Bộ tộc Thiết Lặc rất nhiều, “Bắc sử” từng  ghi chép:
“Tổ tiên của Thiết Lặc là con cháu của Hung Nô. Chủng loại rất nhiều, từ phía Đông của Tây Hải, họ nương theo núi chiếm cứ hang động ở, truyền thống thường như vậy chẳng dứt. Phía Bắc sông Độc Lạc (Sông Thổ Lạp ở Ngoại Mông ngày nay) có Bộc Cốt, Đồng La, Vi Hột,
 

38 Ngọc Môn 玉門: 1- Tên cổng, tức cổng Ngọc Môn (Ngọc Quan), phía Tây huyện Đôn Hoàng tỉnh Cam Túc ngày nay. 2- Tên huyện, phía Tây huyện Tửu Tuyền tỉnh Cam Túc.
39 Hán: Kiến nha. Xem cht. 28 trước.
40 Nay là núi Hán Đằng Cách Lý ở phía Bắc huyện Khố-xa. (cht. Tg)
41 Đinh Linh: Xem cht. 11 trước.
 
Bạt Dã Cổ, xét lại đều là hiệu của các họ Sĩ Cân, Mông Trần, Thổ Như Hột, Tư Kết, Hồn, Hộc Tiết v.v… binh lực hùng mạnh có thể đến hai vạn. Từ Y Ngô (nay là huyện Y Ngô tỉnh Tân Cương) trở về phía Tây, phía Bắc Yên Kỳ (nay là huyện Yên Kỳ tỉnh Tân Cương), cạnh núi Bạch Sơn thì có Khiết Tệ, Bạc Lạc Chức, Ất Hí, Tô Bà, Na Hạt, Ô Hộ Khất, Cốt Dã Hí, Ư Ni Hộ v.v… binh lực hùng mạnh có đến hai vạn. Phía Tây nam núi Kim Sơn có Tiết Diên Đà, Hí Lặc Nhi, Thập Bàn, Đạt Khiết v.v… hơn một vạn binh. Phía Bắc Khương quốc42 cạnh biển A-đắc (Hàm hải)43 thì có A Hí, Hạt Tài, Bát Hốt, Tỉ Can, Bối Hải, Hạt Tỳ Tất, Hà Tha, Tô Bạt, Dã Mạt, Yết Đạt v.v… có ba vạn binh. Ở Đông-Tây Đắc Nghi Hải (Nghi, hoặc Lý Hải)44 có các họ Tô Lộ Yết, Tam Tố, Yết, Miệt, Tróc Tát Hốt v.v… hơn tám ngàn binh. Phía Tây Phất Lâm (tức La-mã) thì có họ Ân Khuất, A Lan, Bắc Nhục, Cửu Ly, Phục Ốt v.v…  gần hai vạn người, phía Nam-Bắc Hải thì có Đổ Ba v.v… Tuy mang họ khác nhau nhưng gọi chung là Thiết Lặc, đều không có quân trưởng, phân chia thành hai hệ Đột-quyết Đông và Tây”.45
Nhưng trong Đường thư46 ghi chép về bộ lạc Thiết Lặc có sự thêm bớt:
 

42 Khương quốc 康國: Nay phía Bắc dải Samarkand, Trung Á.
43 A-đắc thuỷ 阿得水, hay gọi là biển (hồ) A-lạp 阿拉(湖)海 (Aral Sea), tức biển Hàm (Hàm Hải). Vị trí giữa nước Cộng hoà Uzbekskaja và Kazakhstan, miền Tây nam nước Nga. Hồ này lớn thứ tư thế giới. (xem thêm cht. 19, tr. 20).
44 Lý Hải: Xem cht. 25 trước.
45 Xem Bắc sử quyển 99. (cht. Tg)
46 Tân Đường thư: Xem cht. 11, tr. 126.
 
“Bộ lạc ấy gọi là Viên Hột, Tiết Diên Đà, Khiết Bật Vũ, Đô Bá, Cốt Lợi Cán, Đa Lãm Cát, Bộc Cốt, Bạt Dã Cổ, Đồng La, Hồn, Ân Kết, Hộc Tiết, Hề Kết, A Trật, Bạch Tập, gồm mười lăm chủng tộc đều ở rải rác phía Bắc dải sa mạc”.47
Các bộ lạc nêu trên đều thần phục với Đột-quyết, vì người Thiết Lặc giỏi cưỡi ngựa bắn cung nên thường cung cấp cho Đột-quyết kỵ binh, nhưng Đột-quyết đối đãi người Thiết lặc như trâu ngựa:
“Năm đầu niên hiệu Đại Nghiệp, Xử La Khả Hãn của Đột-quyết đánh các bộ tộc Thiết Lặc, đánh thuế nặng, thu lấy sản vật của họ, lại nghi kỵ Tiết Diên Đà v.v… sợ họ làm binh biến, liền tập họp tướng lĩnh của họ hơn trăm người giết hết. Do đó họ đồng loạt nổi dậy làm phản”.48
Từ đó họ ủng hộ và lập Ca Lăng của bộ tộc Khiết Bật làm Mạc Hạ Đại Khả Hãn, Dã Hí của bộ tộc Tiết Diên Đà làm Tiểu Khả Hãn, thường đánh phá binh của Xử La. Mạc Hạ được nhiều bộ tộc khác ủng hộ, Y Ngô, Cao Xương, Yên Kỳ đều quy thuận. Năm Đại Nghiệp thứ ba (năm 607 Tl.), họ cướp phá biên giới, Dương đế sai tướng ra Đôn Hoàng, thất lợi, Thiết Lặc liền sai sứ tạ tội, Bùi Củ phụng sứ vỗ yên họ. Đến khi Xạ Quỹ của Tây Đột-quyết tấn công giết chết Xả La thì Mạc Hạ, Dã Hí đều bỏ Hãn, đồng loạt trở lại thần phục Tây Đột-quyết.
Tóm lại, các tộc nêu trên đều lấy vùng biên giới phía Bắc làm căn cứ địa, nhưng Tây Đột-quyết và Thiết Lặc thì lấy
 

47 Xem Tân Đường thư 142, thượng. (cht. Tg)
48 Xem Bắc sử quyển 99. (cht. Tg)
 
/75
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
🙏 Trợ Lý Phật Pháp AI »