PHẬT GIÁO
NƯỚC ĐẠI NGUYỆT THỊ
Vũ Khê Liễu Đế
I. ĐẠI NGUYỆT THỊ CHINH PHỤC ĐẠI HẠ VÀ QUI Y PHẬT GIÁO
Căn cứ vào truyện Đại Uyển trong Sử ký quyển 123 ghi, ban đầu Nguyệt Thị cư trú giữa Đôn Hoàng (phủ An Tây, Cam Túc) và Kỳ Liên, thế lực họ đang lớn mạnh thì đúng lúc Hung Nô xuất hiện, Mạo Đốn Đan Vu1 đánh phá Nguyệt Thị; đến khi Lão Thượng Đan Vu (con Mạo Đốn Đan Vu) của Hung Nô (năm 158-147 trước Tây lịch) giết vua Nguyệt Thị, Nguyệt Thị mới dời về phía Tây công kích dân tộc Tắc (Saka) ở lưu vực sông Y-lê (Ili), chiếm lấy vùng đất ấy. Truyện Trương Khiên trong sách Hán thư quyển 31 thuật việc đó rất rõ. Tộc người Ô Tôn nguyên cư trú cùng Nguyệt Thị ở vùng Kỳ Liên-Đôn Hoàng, rồi Nguyệt Thị công phá họ, giết vua tộc ấy là Nan Đâu Ma, đoạt lấy lãnh địa của họ, do vậy mà oán cừu rất sâu. Về sau Côn Mạc của Ô Tôn được sự viện trợ của Hung Nô, tập kích Nguyệt Thị, Nguyệt Thị không địch nổi, thua chạy về phía Tây nam, rồi di trú đến phương Bắc sông Amu Darya (Qui thủy), sau đó lại thần phục Đại Hạ (Bactria) ở phương Nam, rồi kiến lập nước Đại Nguyệt Thị tại đó. Trương Khiên đi sứ Nguyệt Thị là thời
1 Mạo Đốn Đan Vu 冒頓單于 (?- 174 trước Tl.), người Hung Nô Đan Vu, họ Loan Đề tên Mạo Đốn. Năm đầu đời Nhị Thế Hoàng đế nhà Tần (năm 209 trước Tl.), ông giết cha tự lập Đan Vu, kiến lập chế độ quân chính, Đông diệt Đông Hồ, Tây đánh Nguyệt Chi…
điểm này, nhằm năm đầu niên hiệu Nguyên Sóc đời Hán Võ đế (năm 128 trước Tây lịch). Chương trước2 đã thuật việc Trương Khiên thuyết phục Nguyệt Thị đồng minh với Hán để đánh Hung Nô. Nguyệt Thị cho nước mình phì nhiêu, ít giặc cướp, nhàn rỗi hưởng an vui, hơn nữa xa cách với Hán, không có ý phục thù Hung Nô, tức là thời kỳ này vậy.
Truyện Đại Uyển nói rằng:
“Đại Nguyệt Thị ở phía Tây Đại Uyển, rộng đến hai, ba ngàn dặm, phía Bắc là sông Qui thủy, phía Nam nước ấy là Đại Hạ, phía Tây là An Tức, phía Bắc là Khương Cư, là một ‘Hành quốc’,3 theo súc vật mà dời chỗ ở”.
Thời đại mà Sử ký thuật là năm 91 trước Tây lịch trở về trước, thời ấy Nguyệt Thị còn chiếm cứ phía Bắc sông Amu Darya, có thể biết là họ vẫn chưa vượt qua sông dời về phía Nam. Nhưng căn cứ truyện Tây Vực trong Hán thư quyển 96, ghi:
“Nước Đại Nguyệt Thị cai trị ở thành Giám-thị, cách Trường An 11.600 dặm, chẳng lệ thuộc Đô hộ, có mười vạn hộ, gồm 40 vạn khẩu, lính thiện chiến mười vạn người. Phía Đông Đô hộ4 trị sở (điều hành) dài 4.740 dặm, phía Tây đến An Tức, đi mất 19 ngày đường, phía Nam tiếp giáp với Kế Tân.”
Từ khi sử ghi thành sách, chép vào Hán thư, đất sở tại của Nguyệt Thị hình như ít biến đổi. Lại nói “thành Giám-thị” cùng với thành Lam-thị mà trong truyện Đại Uyển ở mục Đại Hạ chép:
2 Cùng bài viết của Tác giả Vũ Khê Liễu Đế.
3 Hành quốc: Xem cht. 30, tr. 130.
4 Đô hộ 都護: Tên chức quan tối cao, tổng giám vùng Tây Vực, được thiết đặt thời Tây Hán Tuyên đế.
“Đại Hạ ở cách hơn hai ngàn dặm phía Tây nam Đại Uyển, về phía Nam sông Qui thủy; tập tục, đất đai, thành quách, nhà cửa giống Đại Uyển, không có ‘Đại vương trưởng’, thường ở thành ấp có đặt vị tiểu trưởng. Binh lực nước ấy yếu, sợ chiến tranh, giỏi mua bán. Đến khi Đại Nguyệt Thị dời về phía Tây, đánh bại họ, dân chăn nuôi Đại Hạ đều chịu lệ thuộc. Đại Hạ dân nhiều, có thể đến hơn trăm vạn, thủ đô nước ấy gọi là thành Lam-thị, có chợ buôn bán các vật.”
Xem ra thành Lam-thị tương đương với thành Giám-thị. Nếu vậy thì từ năm 91 đến năm 80 trước Tây lịch, dân tộc Đại Nguyệt Thị đã triệt bỏ vương đình ở phía Bắc sông mà dời về phía Nam sông vậy! Trị sở của nước ấy tức là đô thành Lam-thị của Đại Hạ. Chỗ Sử ký gọi là thành Lam-thị, Hán thư gọi là thành Giám-thị, Hậu Hán thư gọi là thành Lam-thị, Ngụy thư gọi là thành Giám-thị, Bắc sử gọi là thành Thặng-giám-thị, tên gọi nào trong số ấy là chính xác đều không thể biết. Nhưng nếu đô thành của Đại Hạ là Balkh thì có phải do các tên trên dịch âm của Balkh không, cũng chưa chắc chắn. Ông S. Lévi cho là có một chữ Puṣkarāvatī, chữ ấy có nghĩa là “Thành phố mang màu xanh”, vì chỉ cho đô thành của Đại Hạ, tức là dịch ý của thành Lam-thị (S. Levi: Notes Sur les Indoscythes, J. A., 1897. tome IX. p. 9). Ông Specht phản đối thuyết này, cho là bàn luận vị trí Puṣkarāvatī thì tuyệt đối không thể chứng minh được là đô thành của Đại Hạ; bởi vì Balkh là biệt danh truyền nhầm của Alexandria (Ed. Specht: Les Indoscythes et l’epoque de regne de Kamichka J. A. 1897, tome X. p. 158-61). Hoặc giả thuyết của Specht là chính xác, nhưng cũng chưa thể biết được.
Lại nữa, trước đã bàn luận việc Hán thư đã ghi ở mục nước Đại Nguyệt Thị rằng:
“Đất đai khí hậu, vật loại sở hữu, tập tục, tiền của giống với An Tức, nước có nhiều lạc đà. Đại Nguyệt Thị vốn là ‘Hành quốc’ (nước du mục), theo súc vật di dời chỗ ở, tập tục giống Hung Nô, phạm vi sinh hoạt trong vòng hơn mười vạn dặm nên yếu hơn Hung Nô. Họ vốn cư trú trong vùng Đôn Hoàng - Kỳ Liên, rồi Hung Nô đến Mạo Đốn Đan Vu giết Nguyệt Thị, lấy đầu của họ làm đồ uống nước, Nguyệt Thị mới bỏ đi xa, qua khỏi Đại Uyển, về phía Tây đánh lấy Đại Hạ mà bắt nước đó thần phục, lấy đô thành ở phía Bắc sông Qui thủy làm vương đình; còn lại một số ít người của tộc ấy không thể đi thì bảo hộ người Khương ở phía Nam núi, lấy hiệu là Tiểu Nguyệt Thị. Đại hạ vốn không có ‘Đại quân trưởng’, các thành ấp thường đặt vị Tiểu trưởng, dân yếu sợ đánh nhau nên khi Nguyệt Thị dời đến ở thì họ trở thành kẻ chăn nuôi phục tùng.”
Xem đoạn văn trên ta có thể biết thời, Trương Khiên đến Tây Vực, thì Đại Hạ là nước chư hầu của Đại Nguyệt Thị, nhưng có đô thành ở phía Nam sông, hình thái vẫn đủ một quốc gia. Đến năm cuối thời Tiền Hán, Đại Nguyệt Thị dời căn cứ về phía Nam sông, chiếm lĩnh hoàn toàn nước Đại Hạ. Ông Marquarht, ông O. Franke là những học giả rất giỏi, đã khảo chứng đúng như vậy. Nhưng tiến sĩ Bạch Điểu Khố Cát đem những việc ghi chép trong Sử ký và Hán thư so sánh với nhau, cho rằng Hán thư ghi chép về Đại Nguyệt Thị và Đại Hạ là noi theo những điều đã nói của Sử ký, chỉ lược bớt lời văn thôi, thật ra chưa thêm được những sự thật mới gì. Song đối với việc ghi chép của hai quyển sách trước, ông Marquarht rất xem trọng câu “khi Nguyệt Thị dời đến ở thì họ trở thành kẻ chăn nuôi phục tùng”, cho rằng câu “Khi Đại Nguyệt Thị dời về phía Tây
đánh bại họ, đều trở thành người Đại Hạ chăn nuôi phục tùng” chẳng qua là nói giản lược, bởi vì khi Trương Khiên đến Tây Vực thì Đại Hạ hoàn toàn đã bị Đại Nguyệt Thị chinh phục, chủ trương ấy đúng như vậy. Nhưng đương thời biên soạn Sử ký, vì sao Đại Nguyệt Thị thiết lập vương đình ở phía Bắc sông mà lại di dời vào đất của Đại Hạ thì ông Marquarht chưa nói rõ. Và do phong tục cố hữu của dân tộc đó là hình thái du mục nên một khi có sự biến đổi thì không thể khảo sát thấy được. Thời đại của Hán thư, Đại Nguyệt Thị dời về thành Giám-thị đã thoát dần khỏi sinh hoạt du mục, quen với sinh hoạt thành quách, không phải không có nguyên nhân.
Tóm lại, thuyết của tiến sĩ Bạch Điểu cho rằng thế lực của Đại Nguyệt Thị thời đại của Sử ký và Hán thư đều không sai khác, người ta đọc đến nỗi thuộc lòng những sự kiện ghi trong Sử ký và Hán thư, bất luận thế nào thì thuyết này không thể không thừa nhận. Tuy nhiên, thế lực của Đại Nguyệt Thị trong hai thời đại ấy dù không thay đổi nhưng sự thật căn cứ địa của họ có thay đổi, nên không thể theo sự giải thích đáng ngờ kia. Chuẩn mực ở đây là dân tộc Đại Nguyệt Thị triệt bỏ vương đình ở phía Bắc sông mà di dời về thành Giám-thị của Đại Hạ, họ thật sự đã thoát ly tập tục du mục, thành dân tộc sinh hoạt thành quách rồi. Thời đại Hán thư, dân tộc Đại Nguyệt Thị đã hấp thu văn hóa Đại Hạ rồi bị đồng hóa, việc này cũng không thể không thừa nhận. Kết lại, việc Đại Nguyệt Thị dời căn cứ địa về phía Nam sông Qui thủy, chúng ta không thể không xem trọng, bởi vì hình thái sinh hoạt văn hóa của Đại Nguyệt Thị đã từng một lần thay đổi lớn, có thể thấy rõ điều đó.
Căn cứ lời văn trong truyện Tây Vực sách Hán thư, lúc bấy giờ Đại Nguyệt Thị còn có Hưu Mật, Sông Mĩ, Quí
Sương, Hật Đốn, Cao-phụ v.v... xưng là Ngũ Hấp hầu.5 Theo Nhan Sư Cổ6 chú thích Hấp hầu trong truyện Ô Tôn sách Hán thư: “Hấp hầu là quan hiệu đại thần của Ô Tôn nên số lượng chẳng phải là một, cũng còn là tướng quân của Hán.” (Dịch giả [Hạ Xương Quần] xem trong truyện Ô Tôn, Hán thư không có lời chú này).
Vậy khoảng từ năm 91 đến năm 80 trước Tây lịch, Đại Nguyệt Thị dời về phía Nam sông Amu Darya, trong lãnh thổ ấy đã bố trí năm vị tướng quân để chia ra cai trị các vùng đất. Tiến sĩ Bạch Điểu cho là việc Đại Nguyệt Thị thiết trí năm Hấp hầu, thời Sử ký đã có rồi, thuyết này quá chủ quan. Lại nữa, khi Đại Nguyệt Thị thiết lập vương đình ở phía Bắc sông thời Sử ký là còn bảo trì phong tục du mục, vậy trong phạm vi thế lực ấy, thi hành nền chính trị phong kiến như thế nào, cũng không khảo sát được. Vả lại, những sự thật lịch sử đương thời tuy có ghi chép nhưng có chỗ không rõ ràng. Đại Nguyệt Thị đến thời Hán thư đã dời dần vào vùng đất phía Bắc sông, chỗ đất định cư của dân hình như đã bắt đầu thiết trí chế độ Hấp hầu rồi. Nhưng cương vực của năm Hấp hầu ở vùng đất nào, hiện nay các học giả đang bàn luận phân vân, mỗi người đều giữ lập luận khác nhau của mình. Gần đây, tiến sĩ Bạch Điểu tham chiếu những nghiên cứu của các học giả phương Tây, rồi làm những cuộc khảo chứng rộng rãi đầy đủ đáng tin cậy, ở đây xin ghi lại kết quả ấy như sau:
5 Hấp hầu: Xem cht. 26, tr. 23.
6 Nhan Sư Cổ: Xem cht. 24, tr. 22.
Từ đó mà quan sát thì đất của năm Hấp hầu Đại Nguyệt Thị là từ Trung Quốc vượt Thông Lĩnh, trải qua đất Ngõa Cương Giáp Cốc đến Balkh của Đại Nguyệt Thị, men theo tuyến đường này và những vùng phụ cận nước ấy. Tuy nhiên, hiện nay tên của năm Hấp hầu này chỉ thấy Trung Quốc ghi chép, thực tế ngoài năm Hấp hầu ấy ra còn có những Hấp hầu khác thuộc về Đại Nguyệt Thị hay không thì không biết được!
Theo lời luận bàn trên đã rõ ràng dân tộc Đại Nguyệt Thị di trú về lưu vực sông Amu Darya mà thần phục Đại Hạ. Còn từ khi đại vương Alexander đông chinh về sau, Đại Hạ là dân tộc tắm gội trong văn hóa Hy Lạp, Đại Nguyệt Thị tiếp xúc với họ, đồng hóa với phong tục họ. Có thể lấy thời kỳ này để phân biệt phán đoán về họ. Chúng ta đã nói rõ về đất của Đại Hạ, từ xưa đến nay là khu vực văn hóa mở mang, lại nhân việc đông chinh của đại vương Alexander nên đất này trở thành trung tâm văn hóa Hy Lạp ở phương Đông. Thời Antiochos Theos đã có đất này, gặp lúc vua Asoka tuyên dương chánh pháp, Phật giáo bắt đầu truyền vào. Đúng hay không, theo sự ghi chép của ngài Huyền Trang thì nước Phược-hát (Balkh) tức là đô thành của đất này. Đức Như Lai sau khi thành đạo chứng Phật quả, Ngài đứng dậy rời cội Bồ-đề đi đến vườn Nai. Khi ấy có hai người đi buôn là Đề-phổ (Trapusha) và Ba-lợi (Bhellika) gặp đức Thích Tôn, họ lấy trái cây sấy khô đang mang theo dâng cúng Phật. Đức Phật thuyết giảng cho họ nghe về phước báo nhân thiên, thập thiện, ngũ giới. Đức Như Lai lại trao cho họ tóc và móng (tay, chân). Sau khi về đến quê hương, hai vị trưởng lão đều xây tháp cúng dường (Tây Vực ký quyển 1).7 Đối với truyền
7 Tây Vực ký 1, T51n2087_p873a04.
thuyết này, chúng ta không thể biện minh được việc ấy đúng hay sai. Vả lại, quốc tịch của hai khách buôn ấy cũng có thuyết nói khác (xem thêm sách “Giải thuyết Tây Vực ký” trang 84). Ngài Huyền Trang nói là ngài đã từng đi lễ bái ngôi tháp của hai vị thương nhân này xây dựng, ngài ghi rằng: “Đó chính là Tốt-đổ-ba (tháp) đầu tiên trong pháp đức Thích-ca vậy” v.v...
Tóm lại, không luận truyền thuyết ấy có hay không, nhưng sự tồn tại của ngôi tháp đó đã chứng minh vùng đất ấy được ánh hào quang của đức Phật soi rọi rất sớm, chắc chắn đã ngầm cho chúng ta biết như thế. Lại nữa, khoảng trước kỷ nguyên Tây lịch, đất này còn có những sự thật lịch sử về Tăng sĩ Phật giáo, có thể khảo tra, vì từ khi vua Asoka truyền giáo trở về sau, việc Phật giáo lưu hành ở đất này rất rõ ràng. Từ thời kỳ đầu thế kỷ thứ II trước Tây lịch, dân tộc Đại Nguyệt Thị đã di trú về đất này, chinh phục nước Đại Hạ, có dịp cùng tiếp xúc nhau; đến năm 91 trước Tây lịch và khoảng năm 80 Tây lịch, lại vào căn cứ địa của Đại Hạ thì nhất định Đại Hạ được Phật giáo cảm hóa, chính xác là thế.
Khi Đại Nguyệt Thị thiết lập vương đình ở phía Bắc sông Amu Darya thì đã thoát khỏi tập tục du mục, nhưng tính hung hãn, tự do chưa hoàn toàn hết nên Phật giáo có cảm hóa được chắc chắn là khó khăn. Đến lúc quen dần với nếp sinh hoạt thành quách, mới di trú đến thành Lam-thị ở phía Nam sông. Từ năm 91 trước Tây lịch trở về sau, trải qua một cuộc biến chuyển, Đại Nguyệt Thị không những hấp thụ dưỡng chất văn hóa của đất này mà còn qui ngưỡng Phật giáo. Như trong sách của ông Lassen dẫn chứng, báo cáo của Alexander Polyhistor, chậm lắm là năm 70 trước Tây lịch, Đại Nguyệt Thị đã tín thọ Phật pháp, với việc làm của vị Tăng Phật giáo xứ Bactria là không lầm
lẫn. Vả lại, dù người Bactria có sử dụng học thuyết tôn giáo ngoại quốc cũng không đủ người ta tin phục và điều này đối với cá nhân vua Đại Nguyệt Thị cũng không thể xác định là ông chuộng tư tưởng tôn giáo nào. Cho nên việc quy y Phật giáo của vị vua ấy cũng là việc đương nhiên, không cần bàn luận (tham khảo Lassen: Indische Alterthumskunde. II. S. 1074).
Nếu nói thời đại này Đại Nguyệt Thị không tín phụng Phật giáo thì những sự thật ghi ở truyện Tây Nhung trong Ngụy lược: “Thuở xưa, năm đầu niên hiệu Nguyên Thọ đời Hán Ai đế, Bác sĩ đệ tử8 Cảnh Lư nhận kinh Phù-đồ (Phật) truyền miệng của sứ giả vua Đại Nguyệt Thị là Y Tồn”, là sai sao? Không thể như thế được. Đoạn ghi chép này đủ chứng minh là năm thứ 2 trước Tây lịch, vua Đại Nguyệt Thị là tín đồ Phật giáo, từng sai sứ vào Trung Quốc truyền bá Phật giáo. Việc ghi chép này có quan hệ với Thích Lão chí trong Ngụy thư ghi, có ông Cảnh Hiến đi đến nước Nguyệt Thị, vua Đại Nguyệt Thị truyền miệng kinh Phật cho ông. Thuyết này rõ ràng là lầm lẫn, thực tế sứ giả của vua Đại Nguyệt Thị là Y Tồn đến Trung Quốc tuyên truyền Phật giáo. Ở điều này ta có thể biết, lúc ấy vua Đại Nguyệt Thị sai phái sứ giả đến tận Trung Quốc xa xôi, truyền bá tuyên dương Phật giáo, rõ ràng nước Nguyệt Thị rất nhiệt thành đối với Phật giáo, sự trân trọng ấy có thể thấy được. Và có thể biết, dân tộc này đã ký thác lòng mình với Phật giáo, không thể dưới vài mươi năm mà có được. Vậy từ điều này mà suy tìm, xác định thời kỳ Đại Nguyệt Thị qui y Phật giáo phải thế kỷ thứ I trước Tây lịch, nghĩ không sai lắm. Muốn xác định lại điều này thì nghiên cứu đoạn văn tiếp theo để chứng thật nó.
8 Bác sĩ đệ tử: Xem cht. 15, tr. 19.