Tìm kinh sách
Vần A-Z:
Nghiên cứu Phật Giáo Tây Vực

Nghiên cứu Phật Giáo Tây Vực

Tác giả: Cư sĩ Tuệ Khai, Phụ chú: Thích Tâm Nhãn. Dịch giả: Cư sĩ Tuệ Khai, Phụ chú: Thích Tâm Nhãn. Năm xuất bản: 2011. Số trang: 604.

Chương 20: VI. Nghiên Cứu Tổng Hợp Văn Hóa Phật Giáo Tây Vực (Trang 156 - 168)

Đại học thủ đô nước Nga. Ông Pelliot người Pháp, thu hoạch ở Đôn Hoàng nhiều tư liệu văn Tây Hạ. Năm 1914, ông Stein người Anh, khai quật ở Hắc Thành, phát hiện trên 1100 địa điểm có sách văn Tây Hạ chữ viết và 300 địa điểm sách bản in. Đội thám hiểm Đại cốc của Nhật Bản thu hoạch được nhiều tư liệu ở vài nơi tại Turfan. Những di phẩm ấy đều được các nhà sử học khảo đính, không hồ nghi gì nữa. Văn Tây Hạ nương theo chữ Hán và chữ Tạng mà chế tạo, thuộc ngôn ngữ dân tộc Tây Tạng-Miến Điện trong ngữ hệ Ấn Độ-Chi-na (Trung Quốc).
Tiếp theo là mối liên quan đến văn Vu-điền, Qui-tư v.v.... nhưng xin phép không nêu ra ở đây, độc giả có thể tham khảo sách “Tây Vực cổ đại ngữ dân tộc”.
VI. NGHIÊN CỨU TỔNG HỢP VĂN HÓA PHẬT GIÁO TÂY VỰC
Gần đây, đối với sự cống hiến của văn hóa Tây Vực, giới học thuật Phật giáo Nhật Bản lại đề xuất việc nghiên cứu tổng hợp. Mở đầu công việc này, từ năm Chiêu Hòa thứ 28, lấy trường Đại học Long cốc (Ryukoku) ở Kinh Đô (Kyoto) làm trung tâm, tổ chức hội nghiên cứu Tây Vực. Họ đem các thứ di vật văn hiến thu hoạch được ở các vùng đất bên trong Tân Cương đến Kucha, Turfan, Vu-điền, Lop Nor... do đội thám hiểm Đại cốc phát hiện 60 năm về trước, cho đến Đại thế chiến thứ hai trở về sau; họ photo lại một số văn hiến Đôn Hoàng của ông Stein v.v.... sưu tập hồi đó (vì khoảng thời gian Đại thế chiến thứ hai, Nhật Bản đã cất giữ những văn vật có liên quan đến Đôn Hoàng và Tây Vực nhưng đã mất mát nhiều), được lưu giữ ở nhà bảo tàng Anh (British Museum), rồi động viên đến 60 vị chuyên gia, học giả làm mới lại và chỉnh lý khảo chứng. Những người tham gia: Sum Xuyên Trí
Đức, Thạch Tân Thuần Thái Lang, Cương Khi Kính, Trủng Bổn Thiện Long, Tiểu Xuyên Quán Nhất, Na Na Lợi Trinh, Tiểu Lạp Nguyên Sung Chi, Tá Đằng Triết Anh, Chân Điền Hữu Mỹ, Cung Khi Viên Tuân, Phương Thôn Tu Cơ, Vũ Điền Minh, Vũ Khê Liễu Đế, Hùng Cốc Tuyên Phu v.v.... trải qua 10 năm, được chính phủ Nhật Bản hỗ trợ một ngàn vạn Nhật tệ, mới hoàn thành 6 quyển lớn “Nghiên cứu văn hóa Tây Vực” (còn tiếp tục xuất bản). Đó là tư liệu của đội thám hiểm Đại cốc thu hoạch được. Việc tái kiểm thảo những thành quả nghiên cứu tổng hợp, không những là sự cống hiến rất lớn của giới Phật giáo Nhật Bản đối với văn hóa Tây Vực, mà còn cung cấp cho các nhà sử học Tây Vực những kiến giải mới.
Học giả Nhật Bản đối với Hán học vốn có nền tảng tốt, những Tiến sĩ văn học của họ hết tám, chín phần là những người nghiên cứu Hán học, họ lại có tri thức và phương pháp sử học Tây dương, đồng thời có khả năng vận dụng nhiều thứ ngôn ngữ, và được sự giúp đỡ của khoa học, nên đối với chủ đề cũ họ đã tìm ra lời giải đáp mới. Hiện tại, họ không chỉ nghiên cứu lịch sử Trung Quốc từ thời thượng cổ đến cuối đời Thanh, mà còn nghiên cứu địa lý lịch sử từ Mãn-Mông dọc thẳng đến Trung Á, thậm chí xa đến tận Turkestan. Còn về đối tượng nghiên cứu thì khảo chứng và giải thích văn hóa từ sử học đến sử học Phật giáo, thậm chí tiến thêm một bước là nghiên cứu Phật giáo cùng sự phát triển chế độ, kinh tế xã hội. Nhân đó mà Nhật Bản luôn được mọi người trên trường quốc tế xem trọng, lại có địa vị cao trong việc nghiên cứu văn hóa Tây Vực. Về trình độ và thành tựu của họ trên phương diện ấy, học giả các nước không thể bì kịp.
Quyển sách thứ nhất  — Tư liệu Phật giáo Đôn Hoàng.
Động Thiên Phật tại Đôn Hoàng, từ năm 1900, sau khi phát hiện tàng thư (nơi cất giữ sách), ông Stein, Pelliot chiếm lấy phần lớn số sách cất giữ, đem công bố ra thế giới, được vang danh thế giới. Lại qua sự nghiên cứu của các học giả Đông, Tây trong 60 năm trở lại đây, tư liệu Phật giáo tại Đôn Hoàng như một “học thuyết” thịnh hành và nổi tiếng, cũng trở thành một thứ học vấn mới mẻ thời cận đại. Nội dung bản sách chia làm tám môn:
(1) Những tấm hình động đá Đôn Hoàng. Đây là những bức hình do ông Cát Xuyên Tiểu Nhất Lang đến Đôn Hoàng thám hiểm, thu thập vào năm Minh Trị thứ 44 (năm 1911), tính chung là bảy bức. Mỗi bức đều đại biểu cho tinh thần nghệ thuật Đôn Hoàng và được ông Cương Khi Kính đại biểu khảo cổ học Nhật Bản thuyết minh; lại được ông Trường Thường Thư Hồng ở sở Nghiên cứu văn vật Đôn Hoàng chứng minh là phong phú, có giá trị lịch sử.
(2) “Khái thuyết sử Phật giáo Đôn Hoàng” của ông Trủng Bản Thiện Long. Ông Trủng Bản là người uy tín trong giới sử học Phật giáo Trung Quốc tại Nhật Bản ngày nay. Đối với lịch sử Phật giáo Trung Quốc và lịch sử Tây Vực, ông đều có nghiên cứu, đó là một tác phẩm nổi tiếng về hướng dẫn nghiên cứu Phật giáo Đôn Hoàng.
(3) Nghiên cứu Phật điển khai quật tại Đôn Hoàng. Số sách ấy nhiều đến vài vạn quyển mà trong đó tuyển chọn xác định được bảy loại kinh điển đại biểu, như Bát-nhã ba-la-mật-đa tâm kinh sớ, Quán vô lượng thọ kinh toản thuật, Duy-ma kinh sớ, Như Lai trang nghiêm trí tuệ quang minh kinh quyển thượng, Tứ phần giới bản sớ v.v.... phụ in nguyên văn và khảo chứng thêm. Loại kinh Phật ấy chưa được giới học giả công bố, rất giàu ý nghĩa lịch sử.
(4) Giải thuyết Phật điển khai quật tại Đôn Hoàng. Tuyển chọn xác định mười thứ như Phật danh kinh, Phật thuyết A-di-đà kinh (Thiện đạo nguyện kinh đào tại Turfan), Pháp Chiếu hòa thượng niệm Phật tán, Tứ phần luật và Luận yếu sao, Vô lượng thọ tông yếu kinh v.v.... đều có phụ in nguyên văn, và thuyết minh thêm, đó là những tài liệu rất tốt để nghiên cứu Tịnh độ giáo.
(5) Mục lục Kinh điển cổ ở Đôn Hoàng, hiện do Long đại cất giữ.
(6) Niên biểu Phật giáo Đôn Hoàng.
(7) Mục lục nghiên cứu văn hiến Trung Á.
(8) Phụ khái yếu (khái quát chung) bằng Anh văn, tiện cho học giả ngoại quốc nghiên cứu.
Như vậy, chúng ta có thể biết được những tư liệu phong phú về Phật giáo Đôn Hoàng đều được Nhật Bản cất giữ và tinh thần chính lý của họ, các học giả nước khác không thể bì kịp.
Quyển sách thứ hai (quyển thượng)— Tư liệu kinh tế xã hội của Đôn Hoàng - Turfan.
Quyển sách thứ ba (quyển hạ) — Tư liệu kinh tế xã hội của Đôn Hoàng - Turfan.

Quyển 2 và 3 nêu trên, lấy văn thư Đôn Hoàng và văn thư đào tại Turfan làm chủ, từ việc nghiên cứu Phật giáo đến chế độ kinh tế xã hội, bên cạnh đó là những luận văn về “Đôn Hoàng văn thư” cùng “Thiên Phật nham Mạc-cao quật”25 của Na Ba Lợi Trinh. Ông thuyết minh về văn thư Đôn
 

25 Thiên Phật nham Mạc-cao quật 千佛巖莫高窟: Đây là cách gọi chung. Thiên Phật nham xưa gọi là hang Mạc-cao (Dmag-mgo), tức động ngàn Phật, hang động này khởi công tạc khắc từ thế kỷ thứ IV đến thế kỷ thứ X, tại chân núi Minh Sa, Đôn Hoàng, Cam Túc.
 
Hoàng cùng mối quan hệ văn hóa thời kỳ cổ đại Trung Quốc, và chứng minh sự cống hiến vĩ đại của Đôn Hoàng đối với văn hóa Trung Quốc. Tiếp theo là khảo cứu về mối liên quan giữa chế độ “quân điền” (chia theo ruộng đất) đời Đường và sự phát triển kinh tế xã hội, như các bài “Văn thư quan hệ đến hộ làm ruộng, tự viện ở Đôn Hoàng thời cuối Đường-Ngũ Đại”, nghiên cứu văn thư người làm ruộng, từ văn thư đào ở Turfan, xem xét nội dung chế độ “quân điền”, ý nghĩa chế độ “quân điền” tại Turfan đời Đường, nghiên cứu văn thư công quyền (nhà quan) đời Đường, khảo xét văn thư quan hệ đến chế độ sưu dịch đời Đường, văn thư quan hệ luật trao đổi (thủ dẫn pháp 取引法) đời Đường đào từ Turfan, nghiên cứu thuế hộ gia đình thời kỳ giữa đời Đường, nghiên cứu điển tịch cổ văn cáo thân26 đời Đường, các thiên nghiên cứu sổ sách sai dịch và thuế ruộng (sai khoa 差科) ở Đôn Hoàng đời Đường.... Ở đây, không chỉ biết được chế độ kinh tế xã hội lúc bấy giờ, mà còn nghiên cứu văn hiến quan trọng về lịch sử pháp chế đời Đường tại Trung Quốc.
Quyển sách thứ tư — Văn hiến bằng ngôn ngữ cổ đại Trung Á.
Chủ đề của sách là nghiên cứu kinh Phật bằng ngôn ngữ cổ đại Tây Vực. Trong đó bao quát những mảnh kinh Phật Phạn văn, văn thư buôn bán vay mượn tiếng Hồi Cật, những tờ văn hiến còn lại về y học Tây Tạng; cho đến Phật điển tiếng Tukhara, văn Vu-điền, Phật điển tiếng Tây Hạ, tiếng Sogdiana. Thuyết minh mối quan hệ của Phật giáo với nhiều ngôn ngữ cổ đại và Phật giáo ảnh hưởng đến văn hóa các dân tộc; đồng thời phụ thêm những mảnh đối chiếu các loại ngữ
 

26 Cáo thân 告身: Văn bằng trao cho các quan thời xưa.
 
văn, trong đó lấy kinh Pháp hoa tiếng Phạn làm chủ thể nghiên cứu, mà giá trị nghiên cứu rất đầy đủ.
Quyển sách thứ năm — Mỹ Thuật Phật giáo Trung Á.
Chủ để của sách là nói về điêu khắc, tô đắp, tiền cổ, tượng thần mà đội thám hiểm Đại cốc đã khai quật từ phần mộ người Cao Xương, Turfan, Karakhodja, cho đến những bích họa trong thạch thất Đôn Hoàng. Sách nghiên cứu những tư liệu quan trọng về nghệ thuật Tây Vực, nghệ thuật Đôn Hoàng, đồng thời còn nghiên cứu nghệ thuật Hy Lạp, nghệ thuật Kiền-đà-la, và những bản vẽ rất đẹp về nghệ thuật tô đắp, điêu khắc cổ đại Trung Quốc.
Quyển sách thứ sáu — Những vấn đề lịch sử và mỹ thuật.
Trong sách tuyển chọn những vật phẩm mà đội thám hiểm Đại cốc khai quật tại Đôn Hoàng như: số lụa gấm cổ đại, bản kinh Di-lặc hạ sinh biến dạng qua lối vẽ phác thảo mộc mạc và chế tác bích họa Đôn Hoàng, cho đến kinh Yếu hạnh xả thân, Pháp Chiếu hòa thượng niệm Phật tán, Du-già sư địa luận quyết trạch phân phần môn ký quyển 13... ; đồng thời có “Chủng chủng bồ-tát giới nghi” bản của Đôn Hoàng, tất cả đều có phụ thêm nguyên văn đối chiếu.
Những điều nêu trước chỉ nhằm vào những tác giả nổi bật mà nói, đương nhiên là không thể nêu rõ hết được, nhưng những người chấp bút đều là những học giả khảo cổ hạng nhất của Nhật Bản. Họ là học giả ngôn ngữ, hoặc là chuyên gia lịch sử Tây Vực, hoặc là nhà nghệ thuật. Ông Na Ba Lợi Trinh đã làm 3 bài thơ luật thất ngôn, bày tỏ sự vui mừng về việc hoàn thành sáu tập sách “Nghiên cứu văn hóa Tây Vực”, thơ rằng:
Bài 1:             
Vũ Vực tây thùy tuyệt hàn hương
Giao lưu văn vật phụ thù phương
Minh sa, lão đáng tri tân liệu
Khô thích di khư tồn cổ trang
Thám hiểm hữu công phi dật sử
Nghiên toàn thành quả liệt huỳnh hoàng
Hoa ngôn Hồ ngữ công tư độc
Khảo thích tung hoành linh bút hương.


Tạm dịch:
Tây biên Vũ Vực27 lạnh thê lương
Văn vật giao lưu cậy khác phương
             Tiếng cát,28 ván cỗi biết đoán mới
             Sa mạc, gò xưa, còn làng cũ
Ra công thám hiểm tìm ra sử
            Mài dũa quả thành ngọc sáng trong
            Tiếng Hồ, Hoa ngữ ghi chép thẻ
            Dọc ngang khảo thích bút lưu hương.

            Bài 2:
           Thiên sơn nam lộ tiếp Sa Châu
            Biên duệ thổ phong Hồ địch sầu
            Hưng phiến đội thương lăng Đại mạc
            Hoa lại hối hóa đệ châu lưu
            Cao Xương hoang trủng Đôn Hoàng quật
 

27 Vũ Vực 禹域: Sau khi Vũ (vua nhà Hạ) trị được nạn hồng thủy (lũ lụt) thì toàn quốc phân chia thành chín châu, Trung Quốc gọi là Vũ Vực.
28 Hán: Minh sa 鳴沙. Minh là kêu, sa là cát. Minh sa là một dạng núi cát ở phía Nam Đôn Hoàng, tỉnh Cam Túc hiện nay, gần sa mạc Mongke Tengri. Khi người, ngựa đi qua núi cát này thì trong cát phát ra âm thanh.
 
            Long thiệt Trương Gia hiệu cốc mâu
            Đoạn giản văn thư bổ vong ký
            Quái Kỳ thô họa lưỡng thần mâu.

            Tạm dịch:
            Thiên Sơn29 Nam lộ tiếp Sa Châu30
            Gió cát biên thùy Hồ địch31 sầu
            Đoàn thương buôn bán chen Đại Mạc32
            Quan lại người Hoa đổi tài của
            Cao Xương mồ hoang, Đôn Hoàng động
            Long Thiệt, Trương Gia33 lúa mạch nhiều
            Từng thẻ văn thư bù cái mất
            Vẽ thô quái lạ lưỡng thần mâu (?)

            Bài 3:             
Hồ văn giản độc Hoa ngôn quyển
Ất bộ sở truyền tư bổ vong
Lục bách dư niên nguyệt chí đáng
Nhất thiên đa tải hậu tân lương
Đường thời nữ hộ du ban thổ
Ấp nghĩa xã hội tương hóa hương
Lục quyển khoái tâm kim ngọc sách
Bất ma luận khảo hữu vinh quang.
 

29 Thiên Sơn: Xem cht. 21, tr. 21.
30 Sa Châu 沙州: Nay là địa hạt từ huyện An Tây tỉnh Cam Túc đến huyện Thổ-lỗ-phồn tỉnh Tân Cương.
31 Hồ địch 胡笛: Tiếng sáo của người Hồ. Hồ là tên gọi phiếm chỉ các dân tộc cổ đại ở phương Bắc và phương Tây.
32 Đại Mạc 大漠: Đại sa mạc, tiếng Mãn Châu gọi là Sa mạc Qua-bích (Gobi Desert), vị trí ở Mông Cổ và phía Bắc Trung Quốc.
33 Long Thiệt, Trương Gia có thể là địa danh, nhưng chưa tìm ra vị trí hiện nay.
 
Tạm dịch:
Thư tịch Hồ ngữ, sách Hoa văn
             Bộ Ất34 bổ sung tư liệu mất
             Hơn sáu trăm năm ghi mảnh ván
             Cả ngàn năm sau bến bờ còn
             Thời Đường nữ hộ35 mà ban đất
              Nghĩa ấp sống chung hóa xóm thôn
             Sáu quyển sướng lòng kim ngọc sách
             Chẳng bù luận khảo được vinh thân.
Trong ba bài luật thi này có thể biết được tư liệu nội dung nghiên cứu văn hóa Tây Vực rất phong phú, không chỉ khảo chứng văn vật Tây Vực, ngôn ngữ cổ đại, thẻ chép việc công tư, thẻ văn thư chữ Hán, di thư Đôn Hoàng, phong tục vùng biên thùy, việc lưu thông buôn bán, hoạt động tôn giáo, tung tích Cao tăng, mà còn là tư liệu duy nhất có thể căn cứ, bổ trợ cho sự thiếu sót của Chính sử thời kỳ trung cổ. Nhân đó đủ minh chứng văn hóa Tây Vực có địa vị rất cao, đồng thời thấu rõ Phật giáo là chủ lưu của văn hóa Tây Vực. Và muốn nghiên cứu lịch sử Phật giáo Trung Quốc thì không thể không nghiên cứu lịch sử Phật giáo Tây Vực. Vì Phật giáo Trung Quốc, phần chính đều phải đi qua Tây Vực rồi truyền đến Trung Quốc; lịch đại Cao tăng đi Ấn Độ cầu học cũng đi qua Tây Vực, sau mới vào Ấn Độ. Trong vấn đề ấy, theo hiểu biết của tôi về mối quan hệ Phật giáo Trung Quốc và Tây Vực xin phân tích như sau:
 

34 Bộ Ất 乙部: Tên phân loại Đồ thư, tức Sử bộ. Trước đời Tùy gọi là Tử bộ, sau đời Đường gọi là Sử bộ.
35 Nữ hộ 女戶: Nhà không có người nam, phụ nữ làm trưởng hộ.
 
(1) Thời cổ đại, vùng Tây Vực không chỉ có nền văn hóa rất cao, mà còn quan hệ với Trung Quốc rất mật thiết, lại thâu thập nhiều nền văn hóa phương Tây truyền đến, Phật giáo là nhiều nhất. Vậy nghiên cứu nguồn gốc Phật giáo Trung Quốc thì không thể không nghiên cứu lịch sử các nước Tây Vực, vì Phật giáo truyền dần về Đông đều đi qua đó. Tiền nhân thường xem vùng đất biên cương chẳng ra gì, một khi đề cập đến Cam Túc, Tân Cương đều cho là những nơi ấy thuộc về khu vực Man Di,36 cho là tuyệt đối không có văn hóa gì cả. Nào biết sau nửa thế kỷ XIX, những học giả khảo cổ đã khai quật phát hiện nhiều di vật văn hiến quan trọng về lịch sử ở động đá Đôn Hoàng, khắp lòng chảo Tarim vùng Tân Cương, Lop Nor, Vu-điền, Turfan, Kucha; không những liên quan đến phương diện văn hóa Trung Quốc, mà chắc chắn còn có giá trị văn hóa rất cao, đồng thời là những tư liệu nghiên cứu rất quan trọng về phương diện lịch sử ở các nước Tây Vực và Trung Quốc vào thời trung cổ.
(2) Hơn một ngàn năm trở lại đây, Trung Quốc mới chứng kiến nhiều kinh điển Phật giáo trước tác ghi chép thời kỳ xưa nhưng đã mất mát nhiều. Sau khi phát hiện được tàng thư tại Đôn Hoàng, căn cứ theo những phát hiện mới, như cảnh vẽ thời Lục Triều,37 người Đường viết kinh, rồi đính chính những bản kinh đang lưu hành, khảo tra sự dị đồng của chúng.
(3) Nhiều văn tự ngôn ngữ cổ đại chẳng riêng là người hiện tại không thể giải được, mà thậm chí những danh tự liên quan đều không biết. Nhưng những văn tự ngôn ngữ cổ đại ấy
 

36 Man Di 蠻夷: Phiếm chỉ các dân tộc mọi rợ, ở chung quanh bên ngoài Trung Quốc.
37 Lục Triều: Ngô, Đông Tấn, Tống, Tề, Lương, Trần đều kiến đô ở Kiến Khang (Nam Kinh ngày nay), gọi là Lục Triều.
 
quan hệ đến kinh điển Phật giáo rất là quan trọng. Vì Phật giáo Trung Quốc có nhiều kinh điển được chuyển dịch từ văn tự ngôn ngữ cổ đại Tây Vực, không phải phiên dịch trực tiếp từ Phạn văn. Nên việc khai quật phát hiện tại Trung Á, lấy kinh Phật viết bằng ngôn ngữ Tukhara, Sogdiana, Vu-điền, Qui-tư, Thổ-nhĩ-kỳ, Phạn, Tây Hạ v.v... làm chủ đề. Những ngôn ngữ văn tự cổ đại được phát hiện ấy, không những có thể tra xét, đính chính mối quan hệ dị đồng của kinh điển bằng ngôn ngữ cổ đại Tây Vực cùng kinh điển Hán văn, mà còn là những tư liệu rất trân quí để nghiên cứu lịch sử truyền bá Phật giáo và đời sống sinh hoạt của các dân tộc ở Tây Vực.
(4) Những thẻ sách ghi chép chữ Hán, cho đến nhiều văn hiến cổ đại phát hiện ở Turfan, không chỉ bổ sung cho sự bất túc của sử, truyện, hoặc chứng minh sự tương quan giữa sử, truyện, đồng thời còn là tư liệu quí giá để nghiên cứu lịch sử pháp chế và chế độ kinh tế xã hội thời Hán-Đường.
(5) Những bích họa và tượng điêu khắc tại Đôn Hoàng, cho đến những tượng Phật, Bồ-tát phù điêu, tiền cổ, tạp vật v.v... đào tại Tân Cương, chúng đều đóng góp nhiều sắc thái cho phương diện lịch sử mỹ thuật. Và cũng là những tư liệu tốt để nghiên cứu về nghệ thuật Ấn Độ, Kiền-đà-la, Hy Lạp có ảnh hưởng với công nghệ phẩm thời Lục Triều, cho đến phản ánh đời sống xã hội phong tục, và phục sức đối với xã hội đương thời.
(6) Nhiều văn vật Phật giáo phát hiện tại Trung Á, đủ cho chúng ta thấy Phật giáo có một vị trí cao trong văn hóa Trung Á, đồng thời là những tư liệu nghiên cứu quan trọng về mối quan hệ văn hóa lịch sử Trung Á với văn hóa Trung Quốc, và cũng là một phần tư liệu quan trọng để nghiên cứu Phật giáo Ấn Độ liên quan với Tây Vực, Trung Quốc.
(7) Từ trên sử tích văn vật khai quật tại Trung Á, cũng có thể thấy được sự thành tựu huy hoàng và địa vị cao trong lịch sử văn hóa của Phật giáo ở Tây Vực. Những văn vật quí giá ấy có quan hệ rất mật thiết với văn hóa lịch sử Trung Quốc. Nhưng do người Trung Quốc có cái nhìn vội vàng và thiên kiến nên chẳng biết coi trọng những di sản trân quí ấy, đành nhường cho người khác đến trân trọng thâu giữ, thật là đáng xấu hổ và đáng than trách vậy!
/75
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
🙏 Trợ Lý Phật Pháp AI »