Xuyên Cương Cát, được ban đất làm chùa ở Vũ Trị tại Sơn Thành, sáng lập ra chùa Hoàng Bá Sơn Vạn Phước, mở ra Hoàng Bá tông. Ngài chính là tổ đầu tiên của Hoàng Bá tông tại Nhật Bản. Ngài Ẩn Nguyên thời Thanh từng khai ấn Ngữ lục, Ngữ lục này truyền đến Nhật Bản, Tăng lữ cùng nhau thỉnh về trì tụng, nên Phật giáo Nhật Bản chịu ảnh hưởng của ngài rất nhiều. Năm đầu đời Khang Hy, lại có vị Danh tăng tên là Tâm Việt Hưng Trù đến Nhật, được Đức Xuyên Quang Quốc nghênh đón ở Thủy Hộ, ngài mở chùa Kỳ Viên, đang thời gian khai sơn, người bốn phương kéo đến hơn một vạn bảy ngàn người. Sự ảnh hưởng to lớn của ngài, chúng ta có thể tưởng tượng mà biết được. Nhà Nho đời Minh là Chu Thuấn Thủy không chịu làm quan triều Thanh, vào năm 1659 (năm Thuận Trị thứ 16) đến Nhật Bản, được Đức Xuyên Quang Quốc nghênh đón mời làm Tân sư (thầy khách), ông giảng nhiều về Nho học, mở ra vận mới tu sửa sử, học giả Nhật Bản chịu nhiều sự cảm hóa của ông, mãi đến nay vẫn còn sùng bái. Nhưng học giả Thiền của Nhật Bản ảnh hưởng ngài Siêu Nguyên, Ẩn Nguyên sâu xa, rộng lớn hơn là đời sống đạo đức của người dân Nhật Bản ảnh hưởng đạo Nho của Chu Thuấn Thủy.
III. MINH TRỊ DUY TÂN VÀ SỰ CÁCH TÂN CỦA PHẬT GIÁO NHẬT BẢN
Nhật Bản nghiên cứu đọc tụng thư tịch cổ Trung Quốc, là hồi tưởng lại thời đại Ứng-thần Thiên Hoàng hơn 1700 năm trước, hoàng tử Trĩ Lang đọc sách Luận ngữ.12 Sau đó, trải qua Tùy, Đường, Tống, Nguyên, Minh, Thanh không luận là Phật học, Lý học, Thi văn và Sử học, bất cứ về
phương diện nào, Nhật Bản đều ảnh hưởng Trung Quốc. Nhưng từ khi vua Minh Trị duy tân trở về sau, Nhật Bản lại tiếp thu văn hóa mới của thế giới, đối với việc nghiên cứu Phật học đã bỏ đi quan niệm truyền thống, theo xu hướng dùng phương pháp khoa học, khảo chứng bằng lịch sử, khiến cho Phật giáo trở nên học thuật hóa, khoa học hóa, triết học hóa. Có nhiều vấn đề thôi thúc các học giả Nhật Bản chạy theo quan niệm Sử học trên, một là chịu ảnh hưởng sự so sánh Bắc sử13 và Tây Vực sử của những sử gia Trung Quốc, như Đinh Khiêm, Thẩm Tăng Thực, Lý Văn Tư v.v...; hai là đam mê, thích thú việc các nhà khảo cổ Anh, Pháp, Đức, Nga v.v... đến Trung Á thám hiểm. Ngoài việc tự chủ và thích thú, Nhật Bản còn nghiên cứu lịch sử Tây Vực và Mãn-Mông. Từ khi vua Minh Trị duy tân đến thế giới đại chiến lần thứ 2, khoảng 70 năm là thời kỳ bên trong nước Nhật rất an định, no cơm ấm áo, học thuật hưng vượng, quân chính tiến thủ, lưu hành chính sách “Đại lục” và “Hải dương”, lại bừng lên một trào lưu nồng nhiệt nghiên cứu Mãn-Mông ở nội địa Trung Quốc, Trung Á và dọc bờ biển (duyên hải) Tây nam. Tuy động cơ nghiên cứu đa phần là tư tưởng thực dân địa cùng nhân tố xâm lược, nhưng thành quả ấy vẫn có nhiều tác phẩm mang tính học thuật. Từ Đại chiến thứ hai trở về sau, nhân chiến tranh thất bại, tư tưởng thực dân địa nhanh chóng tiêu thoái, việc nghiên cứu vẫn y vậy kế tục. Đối với việc nghiên cứu lịch sử Tây Vực, tuy bắt đầu ở Âu châu, đến đầu thế kỷ XX, Nhật Bản mới chú ý đến việc này, nhưng sự nghiên cứu của họ chuẩn mực cao, nhân tài lại nhiều, tìm được tư liệu phong phú, do đó họ đã thành công lớn, có giá trị nghiên cứu trong tương lai.
13 Bắc sử: Xem cht. 46, tr. 32.
Người Nhật Bản đầu tiên so sánh sử Chi-na (Trung Quốc), sử Tây Vực là ông Na Kha Thông Thế, Thị Thôn Toản Thứ Lang, Tam Trạch Mễ Cát. Ông Na Kha Thông Thế là giảng sư tại Đông kinh đế đại, ông vốn yêu thích Hán học, đối với sử Trung Quốc, sử Mãn-Mông ông đều có nghiên cứu. Vào năm 1888, ông dùng Hán văn viết một bộ “Chi-na thông sử” rồi xuất bản, do đó mới biết việc tu dưỡng Hán học của ông. Nhưng người có khả năng thâm nhập sở học này và có thu hoạch, sáng tạo nhiều cái mới là hậu duệ Bạch Điểu Khố Cát. Bạch Điểu là người có thẩm quyền trong sử học Tây Vực. Bạch Điểu xuất thân là môn hạ Na Kha, thời còn học Trung học, ông là học sinh của Na Kha Thông Thế. Thời kỳ cầu học tại Đông đại, ông đã tiếp thu ảnh hưởng rất sâu từ vị giáo sư nước Đức, tên là Ludwig Riess, dạy môn sử Tây dương. Đầu tiên, Nhật Bản thâu vào phương pháp sử học mới, tức là hoạch định phân chia quốc sử, Trung Quốc sử, Tây dương sử làm ba tổ chức lớn. Sự chú ý đến lịch sử giao thông Đông-Tây cũng bắt đầu từ thời này. Năm 1900, tốt nghiệp Đông đại, ông bắt đầu nghiên cứu lịch sử từ gần đến xa, từ Triều Tiên, Mãn-Mông, đến Tây Vực. Ông rất giỏi về ngôn ngữ cổ đại Tây Vực, và trước tác một bộ “Nghiên cứu lịch sử Tây Vực”. Trong quá khứ, học giả Nhật Bản đại đa số chịu ảnh hưởng “Hán học”, không thoát khỏi phương pháp tư duy cố hữu của Trung Quốc. Ông Bạch Điểu thì chẳng vậy, phương pháp nghiên cứu của ông thuần túy là pháp thức Tây dương, ông sử dụng phương pháp khoa học cận đại, từ cái thấy mới đối chiếu với vấn đề cũ để tìm ra lời giải thích mới. Ông đã lưu học ở Pháp, Đức, Anh, Nga và Hungary, quá trình học tập ấy đã giúp ông có hứng khởi đối với lịch sử Tây Vực. Ông Bạch Điểu đã phát biểu nhiều luận văn về lịch sử Tây Vực, và đối với những nước có mối quan hệ quan trọng trong lịch sử giao thông Trung Á, như Ô Tôn, Khương Cư,
Đại Nguyệt Thị, Đại Uyển, Kế Tân, Soghd v.v... không nước nào ông không chuyên tâm nghiên cứu. Từ ông Bạch Điểu trở về sau, trên phương diện nghiên cứu lịch sử Tây Vực, những người có thành tích nhất là Vũ Điền Hanh, Tang Nguyên Khích Tạng, Điểu Cư Long Tạng, Đằng Điền Phong Bát v.v...
Vũ Điền Hanh xuất thân là môn hạ của Bạch Điểu, ông giỏi ngôn ngữ hệ Altai14 và ngữ văn cổ đại của Mông Cổ, Đột-quyết, Hồi Cật15 v.v..., lại thông cả Phật học. Ông và ông Bạch Điểu cùng khai sinh ra nghiên cứu lịch sử Tây Vực ở Nhật Bản. Ông từng học ở Nga và châu Âu, đồng thời từng đích thân sao chép văn thư Đôn Hoàng và những thẻ sách rơi rớt ở vùng sa mạc do ông Stein và ông Pelliot sưu tập được. Về “Đôn Hoàng học”, ông đã đóng góp và phát huy rất nhiều. Đối với việc nghiên cứu Tây Vực, ông cũng gặt hái được thành tựu to lớn, không chỉ ở việc khảo chứng địa lý mà cả việc giải thích văn hóa. Nhiều trước tác của ông, hầu hết cất giữ ở Đại cốc, như “Thuyết giải sử liệu Tân Cương”, “Những mảnh kinh Pháp hoa phẩm Phổ môn văn Hồi Cật”, “Phật điển văn Hồi Cật”, “Nghiên cứu Qui-tư, Vu-điền”, “Phật giáo và tộc cổ Thổ-nhĩ-kỳ” v.v..., đều thu gom vào trong tập Luận văn sử học Vũ-điền bác sĩ (tiến sĩ). Ngoài ra, tác phẩm “Khái luận văn minh sử Tây Vực” của ông và “Nghiên cứu sử Tây Vực” của ông Bạch Điểu đều là những tác phẩm trứ danh, những người nghiên cứu về lịch sử Tây Vực và các nhà chuyên môn rất xem trọng.
14 Ngữ hệ Altai (A-nhĩ-thái ngữ 阿爾泰系語): Ngữ tộc Altai (Altai family), bao quát ngôn ngữ Đột-quyết (Turk), Mông Cổ, Tungus (bộ tộc này đa phần cư trú ở phía Đông Siberia) v.v… Dân tộc ngôn ngữ Altai sống ở biên cương nội cảnh Trung Quốc.
15 Hồi Cật 回訖: Xem cht. 7, tr. 118.
Ông Đằng Điền Phong Bát có viết “Nghiên cứu lịch sử giao thiệp Đông-Tây”, sách chia làm hai thiên: Tây Vực và Nam Hải. Trước là ông nghiên cứu lịch sử Tây Vực, tiếp theo là phương diện Nam Hải, tức là “Đại Đường Tây Vực ký” của ngài Huyền Trang, ghi thuật về những cảng khẩu miền duyên hải Đông nam Ấn Độ. Dựa vào những ghi thuật ấy, ông Quật Khiêm Đức trước tác một bộ “Giải thuyết Tây Vực ký”; và ông Cao Tang Câu Bát cũng nghiên cứu những nước ở Đông nam Ấn Độ trong “Đại Đường Tây Vực ký” ghi chép. Có sách “Nghiên cứu các nước Đông nam Ấn Độ”, ghi chép từ “Đại Đường Tây Vực ký”. Tiến sĩ Cao Nam Thuận Thứ Lang trước tác “Ghi chép sự truyền bá Phật giáo tại Ấn Độ và các đảo ở Malaysia” bằng tiếng Anh. Những tác phẩm ấy đều là sự cống hiến lớn cho sự phát triển văn hóa Phật giáo ở Nam Hải. Ông Đằng Điền sống lâu ở Trung Quốc nên ông rất thân với ông La Chấn Ngọc, Vương Quốc Duy; lúc ấy, ông La Chấn Ngọc và ông Vương Quốc Duy có nhiệt tâm với nền văn hiến cổ đại được phát hiện thấy tại Đôn Hoàng và Tân Cương. Do họ ảnh hưởng nhau cũng nhiều, mới khơi dậy cho ông Đằng Điền hứng thú với những sử liệu Tây Vực. Ông ta nghiên cứu lịch sử Tây Vực bao quát cả “Chú thích Tuệ Siêu truyện”, “Đất cũ của bộ tộc Nguyệt Thị và niên đại di dời về Tây”, “Nghiên cứu Tây Vực” v.v... Ông Đằng Điền và Tang Điền vốn trau dồi điển tịch Trung Quốc cũng thâm hậu. Từ Đằng Điền trở về sau, có Vũ Khê Liễu Đế, Đại Cốc Thắng Chân, Tùng Điền Thọ Nam, Thạch Điền Cán Chi Trợ, Trọng Tùng Tuấn Chương v.v... đã khảo chứng địa lý, lịch sử Phật giáo Tây Vực và Trung Á, đều có thành tích tốt. Quyển “Giải thuyết Tây Vực ký” của Quật Khiêm Đức viết ra cảo bản vào năm 1912 (năm đầu niên hiệu Đại Chánh), những người đồng thời như Thỉ Khánh Huy, Lang Tinh Nhất, Tùng Bản Văn Tam Lang, Tiểu Dã Huyền Diệu đều có soạn thuật