Tìm kinh sách
Vần A-Z:
Nghiên cứu Phật Giáo Tây Vực

Nghiên cứu Phật Giáo Tây Vực

Tác giả: Cư sĩ Tuệ Khai, Phụ chú: Thích Tâm Nhãn. Dịch giả: Cư sĩ Tuệ Khai, Phụ chú: Thích Tâm Nhãn. Năm xuất bản: 2011. Số trang: 604.

Chương 40: II. Phật Giáo Ca-Thấp-Di-La Trước Thế Kỷ Thứ IV Tây Lịch (Trang 410 - 422)

 những chuyện này rõ ràng đều là truyền thuyết của hậu thế phụ hội vào thôi.
Kết luận lại, nước Ca-thấp-di-la vào thời vua Asoka trở về trước, những ghi chép cổ đại tuy cho rằng nước ấy có quan hệ với Phật giáo, nhưng đều là truyền thuyết, tạo thêm nhiều ngộ nhận. Phật giáo nước này như được truyền bá ở phương Nam, là thời vua Asoka, ngài Mạt-điền-để-ca và bốn người đi theo ngài đến truyền giáo đầu tiên.
II. PHẬT GIÁO CA-THẤP-DI-LA TRƯỚC THẾ KỶ THỨ IV TÂY LỊCH
Ngài Mạt-điền-để-ca v.v… đi đến Ca-thấp-di-la và Kiền-đà-la truyền giáo, kết quả ấy rất vĩ đại, từ đó trở đi, cả một dải đất này trở thành nước Phật giáo; rồi sau ấy như thế nào thì sử liệu rỗng không khuyết thiếu, rất khó tra khảo.
Sau khi Phật giáo truyền vào Ca-thấp-di-la, từng bị bao phen áp bức, ngược đãi. Tây Vực ký quyển 3 ghi là sau khi ngài Mạt-điền-để-ca nhập diệt, những nô lệ do ngài thuê đến liền đắc thế, trong bộ tộc tự ủng hộ lập nền quân chủ, song lân quốc cho họ là giống hạ tiện khinh bỉ họ, không giao thiệp qua lại, tên tộc ấy là Cật-lợi-đa (Kritīyas – mua được). Nhằm sau khi vua Kaniṣka mất, Phật giáo chịu nhiều áp bức của tộc Cật-lợi-đa, có thể biết tộc ấy nguyên chẳng phải là người ưa thích Phật. Vậy lúc tộc Cật-lợi-đa đắc thế, chi phối nước này thì Phật giáo càng bị tộc ấy áp bức, hoặc Phật giáo được ngài Mạt-điền-để-ca gieo trồng phát triển lại. Theo Kalhaṇa8 ghi chép, thời đại ấy rất xa xưa, từ thời vua Asoka trở về sau, thời vua Nara đời thứ nhất, ở vùng Kiṁnaragrama
 

8 Kalhaṇa: Xem cht. 58, tr. 67.
 
xây dựng một ngôi Già-lam, chỉ có một hành giả Phật giáo cư trú ở đó. Vị hành giả ấy dùng ma lực dụ dỗ vương phi, vua nổi giận phục thù, thiêu hủy hết những ngôi chùa thuộc Già-lam này, không dưới vài ngàn ngôi (Rājataraṅginī, I. 199-200). Phật Tổ thống kỷ quyển 35, Phật Tổ lịch đại thông tải quyển 6 đều có ghi sự việc đó. Sách trước cho rằng con của Tổ sư thứ 24 là Tôn Vương, khi du hóa đến Kế Tân, dùng huyễn thuật biến làm ngoại đạo giả trang Phật tăng, lén vào vương cung dụ dỗ gian dâm với vương phi, vua cả giận liền thiêu hủy chùa, chém giết Tăng đồ, thân hành cầm kiếm chém chết tôn giả. Sách sau thì chép việc này xảy ra giữa thế kỷ thứ III Tây lịch, niên đại cũng không đủ tin. Nhưng giả như chuyện này nói có phần nào chân thật thì việc này phải xảy ra ở trước kỷ nguyên, Phật giáo nước Ca-thấp-di-la từng một phen gặp cảnh khuất nhục đình trệ lớn!
Đến thế kỷ thứ I trước Tây lịch, Phật giáo nước này lưu hành hưng thịnh trở lại, khoảng năm 70 trước Tây lịch, vị Cao tăng nước này là ngài Tỳ-lô-chiết-na (Vairocana) đầu tiên đến nước Vu-điền tuyên dương Phật giáo. Nhưng Phật giáo do ngài truyền chính là Tiểu thừa giáo, trước đã bàn rồi. Sau đó, vua Kaniṣka đời thứ nhất qui y Phật giáo, vào những năm cuối đời, ông kiến lập ngôi tháp lớn hoa lệ trang nghiêm ở thành Purushapura (Phất-lâu-sa), thủ đô của nước Kiền-đà-la, đang thời trị thế của ông (năm 58-31 trước Tây lịch), nước Kiền-đà-la là trung tâm chính trị của vua ấy và Phật giáo nước Ca-thấp-di-la cũng trong vòng thế lực của ông ta nên rất hưng thịnh. Vua Huviṣka kế tục vua Kaniṣka lên ngôi, từng kiến lập ngôi Già-lam ở nước Ca-thấp-di-la, lấy tên mình đặt tên cho chùa, nên Phật giáo Ca-thấp-di-la được sự bảo hộ của vua là điều không gì nghi ngờ. Khi Tam tạng Huyền Trang đến nước này từng treo tích trượng nghỉ tại chùa Hộ-sắt-ca-la
(Huviṣkāra), tức là chùa của vua kiến lập. Nguyên tên các ngôi chùa nước này phần nhiều lấy tên của người kiến tạo mà đặt tên, đã quen thành lệ rồi; sau luận bàn lại nên thấy âm của tên chùa hài hòa với tên của vua. Điều này có thể khảo chứng được. Sau Huviṣka là vua Vāsudeva lên ngôi năm thứ 10 Tây lịch, vốn là tín đồ Bà-la-môn giáo, tuy ông có áp bức Phật giáo chút ít, nhưng đương thời nước Ca-thấp-di-la đã thoát ly sự chi phối của nhà vua rồi. Bởi thời kỳ đầu thế kỷ thứ I Tây lịch, vua nước Ca-thấp-di-la là Meghavahana trị vì, thì Phật giáo nước này hình như rất hưng thịnh. Lúc ấy, vương phi Amṛtaprabhā được sự cảm hóa của Tăng đồ nước khác, đã kiến lập ngôi Già-lam Amṛtaprabhā rất tráng lệ. Sau đó có Stunpā, từ nước Loḥ đến, cha của vương phi được sự cảm hóa của người ấy cũng tạo một ngôi tháp tên là Lostonp. Đồng thời có một vương phi tên là Yūkadevī cũng bày tỏ không ai hơn mình, đã kiến tạo một ngôi Già-lam ở đất Naḍavana, bên ngoài trông lạ tuyệt vời. Lại có vị vương phi tên là Indradeve, cũng tạo một ngôi Già-lam chỗ phương đình Indradevīḍhavana, đặt chung tên và xây thêm ngôi tháp. Ngoài ra, các vương phi khác cũng lấy tên mình đặt tên cho những ngôi Già-lam mà mình đã kiến tạo như Khādanā và Sammī v.v… (Rājataraṅginī, III. 9-14). Vậy có thể biết, Phật giáo lúc bấy giờ rất có thế lực ở trong vương tộc.
Vua Kujula lấy việc bảo hộ Phật giáo làm nhiệm vụ của mình, khôi phục lãnh địa của tiên vương, lại diệt Kế Tân, lúc ấy Phật giáo Kiền-đà-la và Ca-thấp-di-la được sự bảo hộ của nhà vua nên rất hưng thịnh. Sau trải qua vua Wema, vua Vāsishka, đến vua Kaniṣka đời thứ hai (tiền bán thế kỷ II Tl.), Kiền-đà-la và Ca-thấp-di-la trở thành đất trung tâm của Phật giáo đương thời. Lúc cử hành lần kết tập thứ tư, những bậc Long tượng trong giới Phật giáo đều qui tập hết ở nước
Ca-thấp-di-la, đo đó mà thời ấy nước này đã trở thành thủ phủ uyên bác của Phật giáo.
Trong Tây Vực ký quyển 3 của ngài Huyền Trang, Lịch sử Phật giáo Ấn Độ (trang 59-61) và Bà-tẩu-bàn-đậu truyện của ngài Chân Đế v.v… đều có ghi chép lần kết tập thứ tư rất rõ ràng, chỉ có điều việc truyền lại không giống, chân tướng của lần kết tập ấy rất khó luận định.
Trước tiên thuật lại động cơ vua Kaniṣka (Ca-nị-sắc-ca) triệu tập kết tập trong Tây Vực ký9 ghi chép:
“Vua Ca-nị-sắc-ca nước Kiền-đà-la…. Lúc rảnh rỗi việc cai trị nước là tu tập kinh Phật, mỗi ngày thỉnh một vị Tăng vào cung nói pháp, nhưng các bộ luận nghị nghĩa chẳng đồng, nhà vua càng thêm nghi ngờ không lấy gì giải trừ nghi hoặc. Ngài Hiếp tôn giả tâu rằng: Đức Như Lai qua đời năm tháng quá xa vời, một số đệ tử theo sự luận nghị (kiến giải) riêng của thầy mình, căn cứ vào sự nghe thấy, chung lại trở thành mâu thuẫn. Nhà vua nghe xong lấy làm cảm thương, buồn than hồi lâu, rồi gọi tôn giả nói rằng: Kẻ hèn này đem chút dư phước, tuân theo giềng mối trước, cách đức Thánh tuy xa nhưng vẫn có may mắn, dám quên đi ngu hèn mà thiệu long (tiếp nối chấn hưng) pháp giáo, theo các bộ phái ấy, giải thích đủ tam tạng. Ngài Hiếp tôn giả nói rằng: Đại Vương đời trước trồng gốc thiện, phước lành tích góp nhiều, lưu tình đến Phật pháp, là sở nguyện vậy.”
Sau khi đức Phật diệt độ 100 năm, hai bộ Thượng tọa và Đại chúng bắt đầu chia cắt, trong hai bộ lại phân ra nhiều tiểu phái, đều chấp theo nghĩa khác. Tây Tạng truyện chép là cuộc
 

9 Tây Vực ký 3, T51n2087_p886b22.
 
 tranh luận này đến năm đầu vua Kaniṣka, trải qua 63 năm vẫn không chấm dứt, nên ban đầu vua Kaniṣka nghe dị thuyết của Tăng đồ các bộ, càng thêm nghi hoặc mới mưu bàn với ngài Hiếp tôn giả (Pārśva – Ba-túc-thấp-phược), cử hành kết tập. Thuyết này hình như là chân tướng của việc ấy. Đoạn văn dưới này, ngài Huyền Trang đã tường thuật những ủy viên được chọn ra, gồm 499 người, đều là những bậc thánh triết đương thời, nghiên cứu tận cùng ba tạng, thông đạt ngũ minh, lại có ngài Thế Hữu (Vasumitra – Bà-tu-mật) làm nghị trưởng. Song tiết này mô phỏng theo sự kiện lịch sử của lần kết tập thứ nhất, sau cùng lại dẫn vào ngài Thế Hữu. Đây rõ ràng là căn cứ sự tích của ngài A-nan ở lần kết tập thứ nhất mà diễn bày thành. Đạt-ma-đa-la thiền kinh quyển thượng10 ghi về người truyền đăng (truyền đuốc tuệ), sau khi đức Phật diệt độ:
“Tôn giả Đại Ca-diếp, Tôn giả A-nan, Tôn giả Mạt-điền-địa, Tôn giả Xá-na-bà-tư, Tôn giả Ưu-ba-quật, Tôn giả Bà-tu-mật, Tôn giả Tăng-già-la-xoa, Tôn giả Đạt-ma-đa-la cho đến Tôn giả Bát-nhã-mật-đa-la”.
Trong ấy nêu Bà-tu-mật tức là Thế Hữu, là hậu bối của Ưu-ba-quật (Upagupta) thời vua Asoka, sau khi đức Phật diệt độ 700 năm mới sinh ra ở nước Tu-lại, xuất gia học đạo, du học các nước, đi đến đất Kiền-đà-việt tức là Kiền-đà-la, làm thầy vua Kế-nị, tức là vua Kaniṣka, lại là tiền bối của ngài Tăng-già-la-sát (Saṃgharakṣa) (Tăng-già-la-sát tập kinh hậu ký - Xuất Tam Tạng ký tập quyển 10). Vậy nên biết ngài Thế Hữu ra đời thời vua Kaniṣka trở về trước. Những Tăng đồ tham dự lần kết tập này phần nhiều là hàng lưu bối (cùng
 

10 Đạt-ma-đa-la thiền kinh 1 (quyển thượng) (Phật-đà-bạt-đà-la dịch thời Đông Tấn, 2 quyển), T15n618_p301c6.
 
thời) với ngài Thế Hữu, nên ý nghĩa chính trong Đại Tỳ-bà-sa luận của lần biên tập diễn giải thời này hầu hết đều đặt cơ sở ở học thuyết của ngài Thế Hữu, nhân đó dẫn đến hình thành truyền thuyết này.
Trong Ấn Độ Phật giáo sử của Đặc-thị cho rằng, ngài Thế Hữu tham dự lần kết tập này cùng ngài Thế Hữu Đại Kinh Sư là cùng tên mà khác người, thuyết ấy thật không có căn cứ, chẳng thể tin được. Ghi chép của ngài Huyền Trang là Thánh chúng tham dự lần kết tập này gồm 500 người mà Đặc-thị căn cứ Truyền thống lục nguyên bản Ấn Độ dịch thành, rất là tỉ mỉ rõ ràng thì cho rằng là 400 người. Song Tây Tạng truyện lại ghi số người hội tập trong lần kết tập này là 500 vị La-hán, 500 vị Bồ-tát và 500 Ban-đạt-di (Paṇḍita – Học giả), mà Đặc-thị thì phủ nhận điều đó. Vả lại ngài Huyền Trang đã ghi về địa điểm cử hành lần kết tập này chỉ một mình nước Ca-thấp-di-la, nhưng Đặc-thị cho rằng nơi ấy là chùa Kunḍalavana ở nước Xà-lan-đà, mà học giả ở đời phần nhiều chấp nhận thuyết sau. Nhưng chúng ta tham chiếu những điều ngài Huyền Trang ghi lại, hình như thuyết trước là chính xác.
Tây Vực ký và Tây Tạng truyện đều nói thượng thủ của lần kết tập này là ngài Hiếp Tỳ-kheo, nhưng Bà-tẩu-bàn-đậu truyện thì nói rằng:
“Sau khi đức Phật diệt độ trong 500 năm, có vị A-la-hán tên là Ca-chiên-diên Tử… về sau đến nước Kế Tân… cùng 500 vị A-la-hán và 500 vị Bồ-tát chung soạn tập Tát-đa bộ A-tỳ-đạt-ma, chế làm tám ‘Già-lan-tha’11….
 

11 Bà-tẩu-bàn-đậu pháp sư truyện (1 quyển), T50n2049_p189a6: “…. chế làm tám Già-lan-tha, tức na ná nghĩa này là tám càn(kiền)-độ. Già-lan-tha dịch là ‘kết’, cũng gọi là ‘tiết’ 製為八伽蘭他, 即此間云八乾度,
 
Cũng gọi văn này là Phát tuệ luận…… tạo ra tám kết (Già-lan-tha), rốt cuộc lại muốn tạo ra Tỳ-bà-sa để giải thích nó.”
Trong truyện này cho rằng, ngài Ca-chiên-diên (Katyāyana) là thủ tọa của cuộc kết tập. Ông Tiểu Dã Huyền Diệu luận rằng Ca-chiên-diên và Hiếp Tỳ-kheo là khác tên mà đồng một người, nhưng chỉ là bàn luận theo cảm hứng (Phật giáo niên đại khảo, trang 111-112). Ông vận dụng việc ghi chép về “Truyền đăng sư” trong Phó pháp tạng nhân duyên truyện để đưa ra lý do thứ hai. Theo thứ tự Truyền đăng sư là Ma-ha Ca-diếp, A-nan-đà, Thương-na-hòa-tu, Ưu-bà-quật-đa, Đề-đa-ca, Phật-đà-nan-đề, Phật-đà-mật-đa, Hiếp Tỳ-kheo, Phú-na-xa, Mã Minh, mà chẳng thấy tên ngài Ca-chiên-diên, nhưng ngài Phật-đà-mật-đa (Buddhamitra) hình như là tiền bối của Hiếp Tỳ-kheo mà hậu bối của ngài Ca-chiên-diên. Trong Tứ đế luận của ngài Bà-tẩu-bạt-ma (Vasuvarman) tạo (Chân Đế dịch), mở bài bằng một bài kệ:
Đại Thánh Ca-chiên-diên
Ngôn lược nghĩa thâm quảng
Đại đức Phật-đà-mật                                   
            Quảng thuyết ngôn cập nghĩa         
            Hữu thứ đệ trang nghiêm                
            Quảng lược nghĩa tương xứng                   
               Danh lý hỗ tương nhiếp                              
               Ngã kiến lưỡng luận dĩ                               
               Kim tắc xả quảng lược                    
               Cố tạo Trung Lượng Luận 

 

 伽蘭他譯為結, 亦曰節…亦稱此文為發慧論”. (Trích lại nguyên văn trong tạng để giải thích từ Già-lan-tha).
   Tạm dịch:
Đại Thánh Ca-chiên-diên
Lời lược nghĩa sâu rộng                  
Đại đức Phật-đà-mật           
Nói rộng lời và nghĩa
Có thứ lớp trang nghiêm
Nghĩa rộng, lược tương xứng
Danh, lý hòa lẫn nhau
Ta đọc xong hai luận
Nay bỏ đi rộng, lược
             Tạo ra Trung lượng luận
Thì ra ngài Phật-đà-mật-đa-la (Phật-đà-mật-đa) nhất định từng viết lời chú sớ cho Phát trí luận của ngài Ca-chiên-diên, chắc chắn như thế. Nếu thuyết trong Phó pháp tạng truyện chân thật thì Hiếp Tỳ-kheo là hậu bối của Phật-đà-mật-đa-la và Ca-chiên-diên là tiền bối của vị ấy, nếu xem họ là đồng một người thì không thể. Ông Tiểu Dã lại dẫn lời ở Đại trí độ luận quyển 2:12
“Ngài Ca-chiên-diên người đạo Bà-la-môn, trí tuệ lợi căn, đọc hết kinh sách nội ngoại Tam tạng, muốn giải Phật pháp nên làm Phát trí kinh bát càn-độ, phẩm đầu chính là Thế gian đệ nhất pháp. Về sau các đệ tử vì hậu nhân chẳng thể giải hết tám càn-độ nên làm Tỳ-bà-sa.”
Ông Tiểu Dã cho rằng, thời kỳ chế tác Phát trí luận và diễn giải Đại Tỳ-bà-sa luận là cùng một thời. Nhưng trong đoạn văn có câu “các đệ tử”, nếu nhất định quyết đoán là đệ tử học trò của ngài Ca-chiên-diên thì e rằng chưa chắc đã
 

12 Đại trí độ luận 2, (Bồ-tát Long Thọ tạo, Cưu-ma-la-thập dịch thời Hậu Tần, 100 quyển) T25n1509_p70a10.
 
đúng. Như trước đã dẫn, Bà-tẩu-bàn-đậu truyện chép Đại Tỳ-bà-sa luận là để chú thích Phát trí luận của ngài Ca-chiên-diên, nên việc trước tác Phát trí luận và việc biên tập diễn giải Đại-tỳ-bà-sa luận, cả hai hỗn hợp làm thành một việc rõ ràng vậy! Thậm chí địa điểm sở tại khi ngài Ca-chiên-diên trước tác Phát trí luận đều không phải nước Kế Tân mà ở tại Đáp-mạt-tô-phạt-na (Tamasāvana), hơn 500 dặm về phía Đông nam thủ đô nước Chí-na-bộc-để (Cīnabhukti) (nay là Firozpur [thuộc bang Punjab, Ấn Độ]). Đây là căn cứ việc truyền lại của ngài Huyền Trang (Tây Vực ký quyển 4). Cho nên ngài Ca-chiên-diên cùng ngài Hiếp Tỳ-kheo nhất định chẳng phải là một người khác tên. Ngài Ca-chiên-diên tác giả Phát trí luận phải là người thời vua Kaniṣka đời thứ hai trở về trước, còn vị chủ tịch lần kết tập thứ tư là Hiếp Tỳ-kheo, không gì nghi ngờ nữa, quả quyết như thế.
Sau cùng lược bàn kết quả của lần kết tập này. Căn cứ việc thuật lại trong Tây Vực ký,13 có 500 vị Thánh hiền cùng tụ hội, đầu tiên tạo ra mười vạn tụng Ổ-ba-đệ-thước luận14 (Upadesa Sastra), giải thích Tố-đát-lãm tạng15 (Sūṭra Pitaka), tiếp đến lại tạo ra mười vạn tụng Tỳ-nại-da tỳ-bà-sa luận (Vinaya Vibhāṣa Sastra), giải thích Tỳ-nại-da tạng16 (Vinaya Pitaka), tiếp theo lại tạo ra mười vạn kệ A-tỳ-đạt-ma Tỳ-bà-sa luận (Abhidharma Piṭaka, Luận tạng), tổng cộng là ba mươi sáu vạn tụng, gồm sáu trăm sáu mươi vạn lời. Giải
 

13 Tây Vực ký 3, T51n2087_p887a5.
14 Ổ-ba-đệ-thước luận 鄔波第鑠論: Skt. Upadeśa, dịch âm khác Ưu-bà-đề-xá…, nghĩa là chỉ thị, giáo huấn, tuyên thuyết, luận nghị kinh, chú giải chương cú kinh…
15 Tố-đát-lãm tạng 素呾纜藏: Skt. Sūṭra Pitaka, Pāli. Sutta-piṭaka, cách dịch âm khác Tu-đa-la…, dịch là Kinh tạng. Kinh điển Phật thuyết.
16 Tỳ-nại-da tạng 毘奈耶藏: Skt=Pāli. Vinaya-piṭaka, dịch Điều phục tạng, tức Luật tạng.
 
thích đầy đủ kinh, luật, luận đến tận cùng chi tiết, rốt ráo sâu cạn, xiển minh nghĩa lớn, mở bày lời vi diệu. Cuộc cử hành kết tập nói một cách nghiêm túc hình như không phải kết tập mà cái cớ để biên tập, diễn giải Đại Tỳ-bà-sa luận. Song căn cứ sự truyền lại của Kalhaṇa thì dị nghị của 18 bộ thời này đều công nhận là chính thuyết. Vả lại thời này luật văn được ghi chép, những thứ kinh, luận chưa ghi chép cũng được ghi chép. Những kinh, luận đã ghi chép rồi lại đính chính. Có thể thấy thời này ba tạng kinh, luật, luận hình như đều trải qua sự ghi chép mà sau còn thêm chỉnh lý nữa. Nhưng liên quan đến việc này, trong Tây Vực ký không một chút ghi chép lại, chỉ nói rằng, vua Kaniṣka lấy đồng đỏ cán mỏng khắc viết luận văn mà thôi. Hoặc là Tây Tạng truyện cho rằng, những thứ ghi chép hình như chẳng phải là bản văn của tam tạng mà thật ra truyền lầm là luận giải thích, cũng chưa thể biết được.
Giờ cũng không ngại phí lời, muốn đặt ra một vấn đề là ngài Mã Minh (Aśvaghoṣa — A-thấp-phược-lâu-sa) có mối quan hệ với lần kết tập này. Trong Bà-tẩu-bàn-đậu truyện17 ghi, ngài Mã Minh nhận lời mời của ngài Ca-chiên-diên, từ thành Xá-vệ (Srāvast) đến Ca-thấp-di-la, khởi thảo Tỳ-bà-sa luận; lại Phó pháp tạng nhân duyên truyện quyển 518 chép, vua nước Nguyệt Thị là Chiên-đàn-kế-ni-tra tấn công thành Khắc-hoa-thị (Pāṭaliputra), được ngài Mã Minh, rồi trở về Bắc Thiên Trúc, bản quốc của vua ấy. Nhưng chúng ta kiểm nghiệm kỹ những ký sự này thì biết những chuyện ấy nhất định là bịa đặt ra, tuyệt đối khó có bằng chứng để tin. Sự quan hệ đối với việc biên soạn diễn giải Đại Tỳ-bà-sa luận trong Bà-tẩu-bàn-đậu truyện đã bàn luận là truyền lầm.
 

17 Bà-tẩu-bàn-đầu pháp sư truyện 1, p189a21.
18 Phó pháp tạng nhân duyên truyện 5, T50n2058_p315b5.
 
Chuyện cho rằng ngài Mã Minh từng nhận trách nhiệm soạn thuật này là bởi ngài Mã Minh nổi tiếng về văn, vang dội xa gần đều biết nên miễn cưỡng mượn vào vậy. Thậm chí việc ghi chép ở Phú pháp tạng nhân duyên truyện cũng không có gì làm căn cứ, vì Tây Tạng truyện cũng chưa bao giờ ghi việc ngài Mã Minh từng đi đến Bắc Ấn Độ (Tham khảo Lịch sử Phật giáo Ấn Độ của Kalhaṇa, trang 92). Các sách khác như kinh Tạp bảo tạng quyển 7,19 ghi là trong ba bậc trí giả bạn thân của vua Kaniṣka, có một người tên là Mã Minh, nhưng thuyết này cũng không đủ bằng chứng.
Theo sự ghi chép của ngài Huyền Trang, vị Hiếp Tỳ-kheo thời vua Kaniṣka nhị thế là người Kiền-đà-la, đến năm 80 tuổi mới xuất gia (Đại trí độ luận quyển 97 viết là 60 tuổi), có một thiếu niên chê ông rằng:
Ngu phu, hủ lão sao mà trí cạn thế! Phàm người xuất gia có hai nghiệp, một thì tập định (thiền định), hai tụng kinh, nay ông già cả suy kiệt, không điều kiện tiến thủ, lạm dụng dòng nước trong, chỉ biết miếng ăn no. Ngài Hiếp Tôn giả nghe những lời chê bai dị nghị, bèn từ tạ người đương thời mà tự thề rằng: “Nếu ta chẳng thông suốt nghĩa lý ba tạng, chẳng đoạn được dục của ba cõi, đầy đủ tám giải thoát, thì nhất định không để hông dính đến chiếu”. Từ ấy về sau chuyên tâm tu hành, một lòng nghiên cứu học tập, cuối cùng thành đạo, được người đương thời kính ngưỡng, nhân đó xưng hiệu là Hiếp Tôn giả. (Tây Vực ký quyển 2,20 mục nước Kiền-đà-la).
Nhưng Đại trí độ luận quyển 99 cho rằng, ngài từng trước thuật Tứ a-hàm ưu-ba-đề-xá, lúc đó danh ngài Long
 

19 Kinh Tạp bảo tạng 7, T4n203_p484b16.
20 Tây Vực ký 2, p880b22.
 
 Thọ (Nāgārguna — Na-già-át-lạ-thọ-na) mới nổi, che khuất tên tuổi ngài, chẳng truyền đến ngày nay, rất đáng tiếc vậy.
Truyện ngài Mã Minh tường thuật, ngài Hiếp Tỳ-kheo dùng sức thần thông từ Bắc Thiên Trúc đi đến Trung Thiên Trúc, cùng với ngài Mã Minh tranh luận, thuyết phục ngài Mã Minh làm đệ tử ngài, sau ấy trở lại bổn quốc. Nhưng ngài Hiếp Tỳ-kheo đến vãn niên mới qui y cửa Phật thì làm sao có thể từ Bắc Thiên Trúc đi đến Trung Thiên Trúc mà giáo hóa Mã Minh được. Đâu có thể một người như ngài Mã Minh biện tài trác tuyệt, còn ngài Hiếp Tỳ-kheo chỉ mới là một người tu đạo chân thực, mà cho rằng ngài có thể thuyết phục ngài Mã Minh, ai có thể tin được điều ấy. Vả lại theo Tây Tạng truyện ghi chép, thế độ cho ngài Mã Minh làm đệ tử Phật ở tại chùa Na-lan-đà (Nalanda) nước Ma-yết-đà (Magadha), là ngài Đề-bà (Deva) đệ tử của ngài Long Thọ. Ngài Đề-bà đã thuyết phục ngài Mã Minh chịu vị ấy giáo hóa (tham khảo Lịch sử Phật giáo Ấn Độ của Kalhaṇa trang 84-85). Ngài Đề-bà là một luận sư trí tuệ lạ lùng phong phú, vì muốn phá ngoại đạo mới đến nước Ma-yết-đà, việc ghi chép trong Tây Tạng truyện hình như là sự thật. Vậy việc ngài Mã Minh qui y cửa Phật chắc chắn không phải ngài Hiếp Tỳ-kheo giáo hóa, thật ra ngài Mã Minh là đệ tử của ngài Đề-bà, có lẽ thích đáng hơn.
Ngoài ngài Hiếp Tôn giả, Cao tăng qui y Phật môn thời vua Kaniṣka đời thứ hai còn có ngài Tăng-già-la-sát (Saṃgharakṣa) và ngài Kỳ-dạ-đa (Jeyata) đều rất nổi tiếng. Vị trước là người nước Tu-lại, trước thuật rất nhiều, sách biên soạn của ngài có: Kinh Tu đại hạnh đạo địa, kinh Tăng-già-la-sát sở tập v.v… . (Trong bài tựa kinh Tăng-già-la-sát sở tập). Vị sau là đại đức La-hán nước Kế Tân, kinh
Tạp bảo tạng quyển 721 ghi chép sự tích thần bí của vị ấy, chắc chắn không đủ tin cậy.
Tây Tạng truyện cho rằng, năm đầu thời vua Kaniṣka, Tăng đồ tranh luận lẫn nhau, cho đến lúc kết tập mới ở trong đó hòa giải. Vậy lần cử hành kết tập này hình như trước khi vua Kaniṣka đời thứ hai lên ngôi. Từ đó xem xét, vì việc vua Kaniṣka đời thứ nhất cuối đời mới qui y Phật giáo, thì thời gian cử hành lần kết tập thứ tư phải đầu thế kỷ thứ II Tây lịch. Thời này Phát trí luận của ngài Ca-chiên-diên chính được chú thích ở Ca-thấp-di-la, lại biên tập diễn giải Đại Tỳ-bà-sa luận gồm 200 quyển, tập đại thành về tông nghĩa của Hữu bộ (Sarvāstivadin). Từ đó trở đi, nước này trở thành nơi tụ hội học phái Hữu bộ. Nhưng căn cứ sự ghi chép của ngài Huyền Trang, vua Kaniṣka từng dùng lá đồng chạm khắc kinh luận lên trên rồi phong kín vào trong hộp đá, xây dựng tháp để cất giữ. Lại có thần Dược-xoa (Yakṣa) bảo vệ nước ấy, không cho kẻ dị đạo lấy kinh luận cất giữ kia, người nào muốn học tập thì ở trong tháp mà học tập. Có thể biết Phật giáo Ca-thấp-di-la đương thời còn trong tình trạng “bế quan tự thủ”. Cho nên cuối thế kỷ thứ II Tây lịch, Tăng đồ các nước Nguyệt Thị, An Tức, Khương Cư đều liên tiếp đến Trung Quốc hoằng dương Phật giáo, mà ngược lại bấy giờ Phật giáo ở Ca-thấp-di-la rất thịnh hành nhưng đến đầu thế kỷ thứ IV Tây lịch vẫn không có một người đến Trung Hoa truyền đạo. Nên biết, phát sanh cái phong cách học tập “bế quan tự thủ” thật ra là vì Kaniṣka vốn giành sự tín ngưỡng ấy một mình, nên đặc biệt gia thêm bảo hộ những thánh điển Hữu bộ, không cho lan truyền ra nước ngoài, thi hành phong tỏa nghiêm cẩn ở trong nước. Vậy tư tưởng bảo thủ của Phật
 

21 Tạp bảo tạng 7, T4n203_p484a12.
 
/75
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
🙏 Trợ Lý Phật Pháp AI »