II. LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN PHẬT GIÁO VU-ĐIỀN
Sinh mạng của Phật pháp ký thác ở việc truyền bá, phiên dịch, mà những Cao tăng thời kỳ đầu đến Trung Hoa truyền bá phiên dịch, đều dùng bản tiếng Phạn của mình thọ trì, hoặc lấy bản dịch tiếng địa phương Tây Vực dịch ra Hán văn, đến nỗi pháp nghĩa chưa trọn, thuyết lý chưa tròn, nên lịch đại Cao tăng đều có hoằng nguyện đi Tây cầu pháp.
1. Dĩnh Xuyên Chu Sĩ Hành — Chu Sĩ Hành trước ở Lạc Dương giảng kinh Đạo hạnh, đến chỗ nghĩa sâu thường chẳng thông, than rằng kinh này là pháp yếu của Đại thừa mà nghĩa lý dịch chưa đến cùng nên chẳng thông đạt, nguyện thề bỏ thân mạng đi Tây tìm cầu. Năm Cam Lộ thứ 5 đời Tào Ngụy, ngài xuất phát từ Ung Châu đi về phía Tây qua vùng sa mạc, đến nước Vu-điền, tìm được bản dịch kinh Phóng quang bát-nhã; muốn sai đệ tử là Pháp Nhiêu đưa về Lạc Dương, nhưng chưa xuất phát thì gặp sự cản trở quấy nhiễu của học phái Phật giáo Tiểu thừa nước Vu-điền. Cuối cùng nhờ sự linh cảm của pháp bảo mà lửa dữ chẳng thể đốt cháy, sau khi chiết phục được sự hồ nghi của quốc vương, mới phê chuẩn cho đưa về Lạc Dương. Năm Nguyên Khang thứ 2, do Sa-môn Vu-điền là Vô-la-xoa dịch ra, ngài Trúc Thúc Lan truyền miệng, do đó nghĩa cao siêu của Bát-nhã được xương minh. Pháp bảo tuy tìm được, song ngài Sĩ Hành vẫn ở lại Vu-điền, đến năm 80 tuổi thì tịch ở nơi ấy. Thời kỳ đầu Phật giáo Đại thừa nhờ đó mà hưng thịnh, tinh thần cầu pháp của ngài Sĩ Hành đáng khâm phục mãi.
2. Sa-môn Chi Pháp Lĩnh — trước ngài ở nước Vu-điền được 36.000 kệ tụng bản Phạn Hoa nghiêm, nhưng chưa tuyên dịch. Năm Nghĩa Hi thứ 14 đời Đông Tấn, cung thỉnh ngài Phật-đà-bạt-đà-la (thời Tấn gọi là Giác Hiền) dịch ở
chùa Đạo Tràng tại Dương Châu, do hơn 100 người, như Sa-môn Pháp Nghiệp, Tuệ Nghiêm, Tuệ Nghĩa v.v… chấp bút, viết thành kinh Hoa nghiêm 60 quyển, lời văn ý chỉ lý hội thông cả Hoa (Trung Hoa), Nhung (chỉ chung các dân tộc ở phía Tây Trung Hoa), khéo được cái tinh thể đại pháp của kinh Hoa nghiêm, từ đó kinh bắt đầu lưu thông ở Trung Quốc.
3. Năm Thái Khang thứ 7, Sa-môn nước Vu-điền là Kỳ-đa-mật đến Trung Quốc, mang theo kinh Quang tán bát-nhã bản chữ Phạn.
4. Đời Tây Tấn, ngài Nhã-la-nghiêm dịch kinh Thời phi thời, tương truyền là do một đạo nhân Lương Châu ghi chép được ở Vu-điền. Vì chưa biết (dịch) ở đời vua nào nên xếp trong phụ lục Tây Tấn.
5. Thời Bắc Lương, ngài Đàm-vô-sấm, người Trung Ấn Độ, ban đầu học các luận Ngũ minh, Tiểu thừa, về sau học Đại thừa và chuyên trì Đại thừa, thông rõ chú thuật, ứng dụng vào đâu đều hiệu nghiệm, người Tây Vực gọi là Đại sư thần chú. Vào năm đầu niên hiệu Huyền Thỉ đời Bắc Lương Tự-cừ, ngài đến Cô Tạng, mang theo một cặp đựng kinh Đại niết-bàn phần trước và kinh Bồ-tát giới. Ban đầu do ngôn ngữ chưa thông, phải mất ba năm học ngôn ngữ ngài mới dịch thành bốn pho sách gồm 30 quyển. Phần sau kinh Đại niết-bàn vẫn chưa truyền đến. Trong năm Nguyên Gia đời Tống Văn đế, ngài sai Đạo Phổ ở Cao Xương cùng mười người đi Tây tìm lấy. Cuối cùng do ngài Đạo Phổ mất trên đường đi, chưa có kết quả nên kinh Niết-bàn vẫn khuyết phần sau.
6. Ngài Tự-cừ-kinh-thanh, lúc nhỏ đã thọ ngũ giới, học rộng nội điển, thiếu thời đi qua vùng sa mạc, đến nước Vu-điền, theo học các yếu thuật thiền pháp với ngài Phật-đà-tư-na, miệng tụng bản dịch, đi về Đông đến nước Lương, dịch một bộ Thiền pháp yếu giải, hiện còn lưu truyền.
7. Ngài Pháp Hiến thời Tiêu Tề. Vào năm Nguyên Huy thứ 3, ngài du lịch Tây Vực, ở nước Vu-điền được kinh Quán Thế Âm sám hối trừ tội chú và răng của đức Phật, rồi trở về nước.
8. Ngài Cầu-na-bạt-đà, người nước Vu-điền. Năm Thái Thanh nhà Lương, ngài mang theo một bộ kinh Thắng Thiên vương bát-nhã bằng Phạn văn gồm 16 phẩm, đầu tiên đến Kiến Nghiệp. Đến năm Thiên Gia thứ sáu, ngài thiết lập Vô già đại hội,8 vân tập tứ chúng hơn 5.000 người, là những bậc bác học thạc đức, triển khai sắp xếp đề mục trải qua vài tháng, hoàn thành được pháp nghiệp gồm bảy quyển kinh Thắng Thiên vương bát-nhã.
9. Ngài Thật-xoa-nan-đà đời Đường. Ngài người nước Vu-điền, trí độ rộng lớn, lấy lợi vật làm tâm, giỏi cả Đại, Tiểu thừa giáo, kiêm toàn các luận của học phái khác. Vào thời Thiên Hậu (Tắc Thiên Võ Hậu), do bản dịch cũ kinh Hoa nghiêm có chỗ chưa hoàn bị, nghe ở nước Vu-điền xa xôi có bản kinh tiếng Phạn, Thiên hậu liền sai sứ đi tìm cầu học hỏi, đồng thời thỉnh ngài Thật-xoa và bản kinh mang về Trường An. Năm đầu niên hiệu Chứng Thánh, ngài Lưu-chi, ngài Nghĩa Tịnh theo bản Phạn đọc (ra Hán văn), các ngài Phục Lễ, Pháp Tạng v.v… chấp bút, dịch thành 80 quyển kinh Hoa nghiêm.
8 Vô già đại hội: Xem cht. 66, tr. 472.
10. Ngài Đề-vân-bát-nhã người nước Vu-điền, học thông Đại, Tiểu thừa, trí tuệ kiêm đủ chân, tục, chú thuật, thiền môn, hết thảy đều am hiểu. Ở Vu-điền ngài được 80 dị phẩm bản Phạn kinh Hoa nghiêm, vào năm đầu niên hiệu Vĩnh Xương đến Trung Quốc, theo công việc dịch kinh, dịch chung thành 6 bộ, 7 quyển.
11. Ngài Thích Trí Nghiễm, là con tin của quốc vương Vu-điền, vốn là người nước Vu-điền. Thuở nhỏ ngài đến Trung Quốc, sớm ở địa vị vinh lộc, than thở sinh ra ở dị vực (nước ngoài), lớn lên đi đến Trung Quốc, vào năm đầu niên hiệu Cảnh Long, cạo đầu xuất gia, hiệu là Trí Nghiễm. Về sau, ngài dịch bốn bộ kinh Pháp hoa, kinh Dược vương, kinh Bồ-tát đẳng chú, kinh Quyết định nghiệp chướng v.v…
Ở trên đã nêu những nhân vật quan hệ đến lịch sử Phật giáo giữa Vu-điền và Trung Quốc, đương nhiên không chỉ có chừng ấy, nhưng cũng có thể nhìn thấy Vu-điền không những là con đường quan trọng giao lưu văn hóa Trung-Ấn, mà còn là trung tâm thai nghén nuôi dưỡng kinh điển Phật giáo Đại thừa. Biết bao kinh điển Phật giáo từ văn tự Vu-điền dịch thành Hán văn. Đầu thế kỷ thứ V Tây lịch, Phật giáo Đại thừa vẫn y nhiên thịnh hành ở nước Vu-điền. Truyện ngài Pháp Hiển trong Cao tăng truyện nói rằng: Khoảng giữa thế kỷ thứ VII, có Già-lam hơn 100 ngôi, Tăng-già 5.000 người, phần nhiều học tập Đại thừa giáo. Theo Đại Đường Tây Vực ký quyển 12 ghi, thì Vu-điền có quan hệ nhiều đến Phật giáo Đại thừa. Đến thế kỷ thứ X, giáo đồ Hồi giáo xâm nhập, Phật giáo Vu-điền bắt đầu bị suy vi dần, từ đó không còn nghe đến tình hình của Phật giáo Đại thừa nữa.