dịch kinh điển bao gồm Tăng lữ, cư sĩ và vương tử đều đích thân đem theo Phật điển đến Đôn Hoàng, sự nhiệt thành truyền giáo của họ càng được thấy rõ thêm ở đây. Thời kỳ giữa thế kỷ thứ II, Phật giáo Qui-tư đã rõ bày khí tượng hưng long vậy!
2. La-thập và Đại thừa giáo Qui-tư.
Qui-tư xuất hiện rất nhiều cao Tăng nổi tiếng như ngài Cưu-ma-la-thập, Phật-đồ-thiệt-di, Đạt-ma-bạt-đà v.v…, đối với việc tuyên dương Phật giáo Đại, Tiểu thừa, họ đều dốc hết sức lực. Theo truyện Cưu-ma-la-thập trong Xuất tam tạng ký tập quyển 14:
Ngài La-thập 7 tuổi xuất gia, 9 tuổi theo mẹ đi đến Kế Tân, thờ ngài Bàn-đầu-đạt-ma làm thầy, thọ học kinh điển Tiểu thừa giáo như Tạp tạng, Trung A-hàm, Trường A-hàm v.v… Đến lúc 12 tuổi, mẹ ngài lại dẫn ngài trở về bổn quốc, trên đường qua Sa-lặc, ngài lại học tập A-tỳ-đàm lục túc chư luận và Tăng nhất A-hàm, thông đạt hết diệu nghĩa. Lúc này ngài lại theo vị học giả Đại thừa là Tu-lợi-da-tô-ma học tập kinh A-nậu-đạt, bắt đầu ngộ được “Chân không vô tướng”, rồi học tập, nghiên cứu rộng kinh điển Đại thừa và tụng đọc Trung luận, Bách luận, Thập nhị môn luận v.v… Ở nước ngoài tu học 12 năm, ngài mới về lại bổn quốc. Vào năm Hoằng Thỉ thứ 4 (năm 402 Tl.), ngài đến Trung Quốc, dịch kinh, luật, luận hơn 300 quyển. Kết lại, trong số ấy phải chăng toàn là Phật điển đã lưu thông ở nước Qui-tư, tuy không thể đoán định, nhưng ngài ở chùa Vương Tân Qui-tư, được kinh Phóng quang bát-nhã, rồi bắt đầu tụng đọc, khoảng hai năm tụng đọc nhiều kinh điển Đại thừa, nên bộ Bát-nhã còn ở Qui-tư là điều không nghi ngờ gì. Trong Đại phẩm, Tiểu phẩm kinh Bát-nhã do ngài