Đến đây chúng ta có thể hiểu rõ, toàn bộ giới bổn Tỳ-kheo-ni truyền vào Trung Quốc phải quy công cho ngài Phật-đồ-thiệt-di, người có địa vị trong giới Phật giáo Qui-tư lúc bấy giờ.
4. Sự sa sút của Đại thừa giáo.
Qui-tư nguyên thuộc Phật giáo Tiểu thừa, nhân vì luận sư Đại thừa là Cưu-ma-la-thập ra đời, đối kháng với toàn quyền Tiểu thừa giáo là Phật-đồ-thiệt-di, nên giới Đại thừa mới bắt đầu lớn mạnh. Nhưng từ khi ngài La-thập đi đến Cô Tạng trở về sau thì Phật giáo Đại thừa của Qui-tư mất dần thế lực, Phật giáo Tiểu thừa lại lan tràn toàn quốc, thậm chí giáo đồ Tiểu thừa còn lăng nhục giáo đồ Đại thừa, đâu chẳng phải là việc quái lạ!
Pháp hoa kinh truyện ký quyển 6,21 dẫn sự ghi chép nước ngoài rằng:
“Đạt-ma-đạt-bà, người nước Qui-tư, người Đường gọi là Pháp Hiền. Ngài thiên tính thông minh, thông đạt đủ ba tạng, hiểu biết nhiều ngôn từ ngoại quốc, cho rằng ‘Tiểu’ là tột cùng, tự sinh ra cống cao, lăng nhục chúng Ma-ha-diễn (Đại thừa). Đương thời, có vị Sa-môn đi tuần bái tên là Tu-lê-da đọc tụng đạt đến 6.000 câu kệ Pháp hoa, không thoát ly pháp, ngài đạt đến chỗ uyên áo hơn sở học của ngài Pháp Hiền. Ngài Pháp Hiền nhận thức được sự đơn giản thiển cận của mình đối với Tam tạng mà đem lòng về với Đại thừa, theo ngài Tu-lê-da tụng đọc Pháp hoa mỗi ngày 5 biến (lần), lấy đó làm sự nghiệp (hành trì) v.v….”
21 Pháp hoa truyện ký 6 (Tăng Tường soạn thời Đường, 10 quyển), T51n2068_p76a24.
Đây là ký sự về giáo đồ Tiểu thừa qui tâm theo Đại thừa. Người tên Tu-lê-da, chính là vị thầy Đại thừa của ngài La-thập, tên là Tu-lê-da-tô-ma. Ngài Tô-ma ở nước Sơ-lặc, từng trao cho ngài La-thập bộ kinh Bát-nhã, về sau đến nước Qui-tư hoằng dương Pháp hoa. Ngài Đạt-ma-bạt-đà ban đầu là giáo đồ thuần túy Tiểu thừa, nhận Tiểu thừa là đạt đến cùng cực của Phật giáo, mà lăng nhục giáo đồ Đại thừa, nhân gặp được ngài Tu-lê-da giáo hóa mới qui tâm theo Đại thừa. Về sau, vì Qui-tư không có sự chống đối với những đại đức Tiểu thừa giáo đương thời, hơn nữa lại có Tăng đồ Tiểu thừa từ nước Kế Tân đến, phần nhiều họ là những vị giới luật tinh nghiêm, nên hiển nhiên Phật tử ở Qui-tư càng tăng lòng tin Tiểu thừa giáo. Đồng thời, Quốc vương nhiều đời của Qui-tư đều sùng kính Tam bảo, bảo hộ Phật giáo, như truyện Qui-tư trong Tấn thư viết: “Thành ấy ba lớp, bên trong có ngàn ngôi tháp miếu thờ Phật”. Do đó Phật giáo nước này rất hưng thịnh là vậy. Nhưng từ khi nhà Diêu Tần sai phái Lữ Quang công phá Qui-tư, cướp đi ngài La-thập, quốc vương Qui-tư không còn nhiệt thành bảo hộ Đại thừa giáo nữa, nên khiến Đại thừa giáo ở Qui-tư đi đến suy vi, nhân đó thúc giục Tiểu thừa giáo phát triển.
Khi ngài Huyền Trang đi đến Ấn Độ, Qui-tư hoàn toàn là vùng Tiểu thừa giáo. Lúc ngài Huyền Trang vừa đến cổng thành kinh đô Qui-tư thì quốc vương dẫn quần thần và vài ngàn Tăng chúng cùng đại đức Mộc-xoa-cúc-đa v.v…. ra nghênh tiếp, rồi rạng sáng ngày mai rước vào vương cung, cung kính bày lễ cúng dường, khi chia tay lại tặng cho người giúp việc, lạc đà, ngựa… Có thể biết sự sùng kính Tam bảo của nước ấy. Nhưng việc ngài Huyền Trang đi Tây, đến Ấn Độ cầu Du-già luận thì không phải vậy. Điều này có thể căn cứ vào lời đối đáp của ngài Mộc-