Tìm kinh sách
Vần A-Z:
Nghiên cứu Phật Giáo Tây Vực

Nghiên cứu Phật Giáo Tây Vực

Tác giả: Cư sĩ Tuệ Khai, Phụ chú: Thích Tâm Nhãn. Dịch giả: Cư sĩ Tuệ Khai, Phụ chú: Thích Tâm Nhãn. Năm xuất bản: 2011. Số trang: 604.

Chương 50: 4. Sự sa sút của Đại thừa giáo (Trang 489 - 492)

Đến đây chúng ta có thể hiểu rõ, toàn bộ giới bổn Tỳ-kheo-ni truyền vào Trung Quốc phải quy công cho ngài Phật-đồ-thiệt-di, người có địa vị trong giới Phật giáo Qui-tư lúc bấy giờ.
4. Sự sa sút của Đại thừa giáo.
Qui-tư nguyên thuộc Phật giáo Tiểu thừa, nhân vì luận sư Đại thừa là Cưu-ma-la-thập ra đời, đối kháng với toàn quyền Tiểu thừa giáo là Phật-đồ-thiệt-di, nên giới Đại thừa mới bắt đầu lớn mạnh. Nhưng từ khi ngài La-thập đi đến Cô Tạng trở về sau thì Phật giáo Đại thừa của Qui-tư mất dần thế lực, Phật giáo Tiểu thừa lại lan tràn toàn quốc, thậm chí giáo đồ Tiểu thừa còn lăng nhục giáo đồ Đại thừa, đâu chẳng phải là việc quái lạ!
Pháp hoa kinh truyện ký quyển 6,21 dẫn sự ghi chép nước ngoài rằng:
“Đạt-ma-đạt-bà, người nước Qui-tư, người Đường gọi là Pháp Hiền. Ngài thiên tính thông minh, thông đạt đủ ba tạng, hiểu biết nhiều ngôn từ ngoại quốc, cho rằng ‘Tiểu’ là tột cùng, tự sinh ra cống cao, lăng nhục chúng Ma-ha-diễn (Đại thừa). Đương thời, có vị Sa-môn đi tuần bái tên là Tu-lê-da đọc tụng đạt đến 6.000 câu kệ Pháp hoa, không thoát ly pháp, ngài đạt đến chỗ uyên áo hơn sở học của ngài Pháp Hiền. Ngài Pháp Hiền nhận thức được sự đơn giản thiển cận của mình đối với Tam tạng mà đem lòng về với Đại thừa, theo ngài Tu-lê-da tụng đọc Pháp hoa mỗi ngày 5 biến (lần), lấy đó làm sự nghiệp (hành trì) v.v….”
 

21 Pháp hoa truyện ký 6 (Tăng Tường soạn thời Đường, 10 quyển), T51n2068_p76a24.
 
Đây là ký sự về giáo đồ Tiểu thừa qui tâm theo Đại thừa. Người tên Tu-lê-da, chính là vị thầy Đại thừa của ngài La-thập, tên là Tu-lê-da-tô-ma. Ngài Tô-ma ở nước Sơ-lặc, từng trao cho ngài La-thập bộ kinh Bát-nhã, về sau đến nước Qui-tư hoằng dương Pháp hoa. Ngài Đạt-ma-bạt-đà ban đầu là giáo đồ thuần túy Tiểu thừa, nhận Tiểu thừa là đạt đến cùng cực của Phật giáo, mà lăng nhục giáo đồ Đại thừa, nhân gặp được ngài Tu-lê-da giáo hóa mới qui tâm theo Đại thừa. Về sau, vì Qui-tư không có sự chống đối với những đại đức Tiểu thừa giáo đương thời, hơn nữa lại có Tăng đồ Tiểu thừa từ nước Kế Tân đến, phần nhiều họ là những vị giới luật tinh nghiêm, nên hiển nhiên Phật tử ở Qui-tư càng tăng lòng tin Tiểu thừa giáo. Đồng thời, Quốc vương nhiều đời của Qui-tư đều sùng kính Tam bảo, bảo hộ Phật giáo, như truyện Qui-tư trong Tấn thư viết: “Thành ấy ba lớp, bên trong có ngàn ngôi tháp miếu thờ Phật”. Do đó Phật giáo nước này rất hưng thịnh là vậy. Nhưng từ khi nhà Diêu Tần sai phái Lữ Quang công phá Qui-tư, cướp đi ngài La-thập, quốc vương Qui-tư không còn nhiệt thành bảo hộ Đại thừa giáo nữa, nên khiến Đại thừa giáo ở Qui-tư đi đến suy vi, nhân đó thúc giục Tiểu thừa giáo phát triển.
Khi ngài Huyền Trang đi đến Ấn Độ, Qui-tư hoàn toàn là vùng Tiểu thừa giáo. Lúc ngài Huyền Trang vừa đến cổng thành kinh đô Qui-tư thì quốc vương dẫn quần thần và vài ngàn Tăng chúng cùng đại đức Mộc-xoa-cúc-đa v.v…. ra nghênh tiếp, rồi rạng sáng ngày mai rước vào vương cung, cung kính bày lễ cúng dường, khi chia tay lại tặng cho người giúp việc, lạc đà, ngựa… Có thể biết sự sùng kính Tam bảo của nước ấy. Nhưng việc ngài Huyền Trang đi Tây, đến Ấn Độ cầu Du-già luận thì không phải vậy. Điều này có thể căn cứ vào lời đối đáp của ngài Mộc-
xoa-cúc-đa với ngài Huyền Trang — ngài Mộc-xoa-cúc-đa từng du học Ấn Độ hơn 20 năm, nghiên cứu mọi thứ kinh điển, tên tuổi rất nổi tiếng, quốc vương và nhân dân đều kính ngưỡng, địa vị cao tột, là lãnh tụ của Tiểu thừa giáo. Vị ấy nói với ngài Huyền Trang rằng: “Nước này Tạp tâm (Tạp tâm luận), Câu-xá, Tỳ-bà-sa v.v…. tất cả đều có, học những thứ đó đủ rồi, chẳng phiền phải lặn lội đi Tây, chịu gian nan khổ nhọc”.22 Ngài Huyền Trang hỏi lại nước ấy có Du-già không? Vị ấy đáp: “Cần gì hỏi đến thứ sách tà kiến đó? Người đệ tử Phật chân chính không học sách đó”. Quốc vương từng dùng “tam tịnh thực”23 cúng dường ngài Huyền Trang, ngài Huyền Trang chẳng thọ, nhà vua rất làm lạ. Ngài Huyền Trang cho biết là “tam tịnh thực” Tiểu thừa giáo được phép dùng, còn Đại thừa giáo thì không được. Tam tịnh thực nguyên là ba loại thịt thanh tịnh được phép dùng trong luật Tiểu thừa, tức là vì nuôi dưỡng thân mạng của mình, mà lúc dùng chẳng thấy, chẳng nghe và lòng chẳng nghi ngờ. Tuy là tịnh nhục, Tỳ-kheo cũng có thể ăn, nhưng Đại thừa giáo điều căn bản cấm ăn thịt, nên ngài Huyền Trang chẳng thọ. Có thể thấy thanh thế của Tiểu thừa giáo ở Qui-tư rất hưng vượng. Ngài Tuệ Siêu đi sang Ngũ Thiên Trúc có nói rằng: Nước Qui-tư lưu hành Phật pháp Tiểu thừa, cho ăn thịt và hành hẹ v.v… còn Tăng người Hán tu hành Phật pháp Đại thừa.
Đại Đường Tây Vực ký quyển 1:24
“Già-lam hơn 100 ngôi, Tăng đồ hơn 5.000 người, học tập Tiểu thừa Nhất thiết hữu bộ, kinh giáo luật nghi thì
 

22 Từ Ân truyện 2, T50n2053_p226c21.
23 Tam tịnh thực: Xem cht. 10, tr. 384.
24 Tây Vực ký 1, T51n2087_p870a24.
 
lấy theo Ấn Độ, tức là học tập, tụng đọc theo kinh sách bản văn ấy. Còn câu nệ Tiệm giáo,25 ăn tạp tam tịnh (nhục), một mực tập tành thanh khiết, người ta lấy công phu mà cạnh tranh nhau.”
Và có ngôi Già-lam A-xa-lý, hai ngôi Già-lam Chiêu-hỗ-ly, cái sau lại gọi là Đông Tây, thật ra là ba tòa Già-lam, cái trước là ngôi chùa ngài Mộc-xoa-cúc-đa đã cư trú. Lúc bấy giờ những Già-lam của Phật giáo Qui-tư qui mô hoành tráng, trang hoàng hoa lệ, Tăng ni cư trú mỗi chùa rất nhiều. Trong chùa viện, chỗ cư trú của Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni đều có khu riêng biệt, như đã thuật ở trước (năm ngôi chùa Đạt-mộ Lam, Trí-lệ Lam, Kiếm-mộ Vương Tân Lam, Ôn-túc Vương Lam và Vương Tân Tăng Già-lam là chỗ ở của Tỳ-kheo; ba ngôi chùa A-Lệ Lam, Luân-nhã-can Lam, A-lệ-bạt Lam là chỗ ở của Tỳ-kheo-ni. Chín ngôi chùa trên đều thuộc sự coi quản của ngài Phật-đồ-thiệt-di). Truyện ngài La-thập trong Lương cao tăng truyện quyển 2 ghi, ngoài chín ngôi chùa này, lại có một ngôi đại Già-lam, tức là “Tước-lê Đại Tự”, ngôi Tước-lê Đại Tự này là ngôi Già-lam Chiêu-hỗ-ly đã ghi chép ở trước.
Từ ngài Tuệ Siêu trở về sau khoảng 300 năm, Phật giáo Qui-tư vẫn chưa suy, cho đến cuối thế kỷ thứ X, hoặc đầu thế kỷ thứ XI Tây lịch, nhân giáo đồ Hồi giáo xâm nhập Đông, Tây Thổ-nhĩ-kỳ thì các nước Phật giáo gặp phải vận mệnh đồng nhất, bị Hồi giáo xâm chiếm, thay thế, Phật giáo bị tiêu diệt, mất dần tiếng tăm dấu vết!
 

25 Tiệm giáo 漸教: Tên gọi để đối lại với Đốn giáo. Giáo pháp được thuyết giảng theo thứ tự từ cạn đến sâu, gọi là Tiệm giáo.
 
/75
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
🙏 Trợ Lý Phật Pháp AI »