Tác giả: Hòa Thượng Thích Minh Châu. Dịch giả: Hòa Thượng Thích Minh Châu. Năm xuất bản: 2007. Số trang: 51.
Ý kiến bạn đọc
Một ngày kia, ông suy nghĩ: “Một khi kho của cải hết, ta không còn gì để bố thí nữa. Vậy trong lúc kho chưa cạn, ta muốn lấy con tàu đi đến xứ Vàng và sẽ mang của cải về.” Thế là ông bảo đóng tàu, chất đầy hàng hóa và khi từ biệt vợ con, ông bảo:
- Bà và con hãy lo bố thí không ngừng cho đến khi ta trở về.
Nói xong, ông cầm lấy dù, mang giày, cùng gia nhân hướng mặt vê hải cảng, rồi đúng ngọ ông khởi hành.
Vào lúc ấy, một vị Độc Giác Phật trên đỉnh núi Gandhamādana (Hương sơn) đang nhập định, thấy vị kia lên đường tìm kiếm vàng liền suy nghĩ: “Một bậc Đại sĩ đang vượt biển để tìm vàng. Có gặp gì trên biển cả gây trở ngại cho vị này chăng? Rồi sẽ có. Nếu ông thấy ta, sẽ dâng ta đôi giày và chiếc dù. Và kết quả việc đi cúng dường này là ông sẽ tìm được nơi an trú khi tàu đắm trên biển. Ta muốn giúp đỡ ông.”
Vì thế bay qua không gian, Ngài hạ xuống, không xa chỗ kẻ lữ hành kia, rồi tiến đến gặp ông, giẫm chân trên cát nóng, nóng như thể một đổng tro đang cháy bỏng trong luồng gió dữ dội và ánh mặt trời gay gắt. Vị Bà- la-môn nghĩ thầm: “Đây là cơ hội để tạo công đức, ta phải gieo một hạt giống ngày hôm nay tại chốn này.” Lòng vô cùng hoan hỷ, ông vội vã đi đến đảnh lễ Ngài.
Ông nói:
- Thưa Tôn-giả, xin Tôn giả vui lòng ra khỏi con đường này trong chốc lát, đến dưới gốc cây kia.
Sau đó, khi đến chỗ ngồi gốc cây, ông lau phủi hết cát cho Ngài, rồi trải thượng y ra mời Ngài ngồi xuống, với nước sạch thơm ngát, ông rửa chân Ngài, xoa dầu thơm ngào ngạt; và từ chân của chính mình, ông rút ra đôi hài lau sạch, xoa dầu thơm xong, mang vào cho Ngài, cúng dường Ngài đôi hài cùng với chiếc dù, xin Ngài mang hài và che dù trên đầu Ngài khi ngài lên đường. Vị Độc Giác Phật muốn làm ông vui lòng nên nhận lễ vật, và trong khi vị Bà-la-môn chiêm ngưỡng Ngài để tăng trưởng tín tâm, Ngài
Còn Bồ-tát với tâm đầy hoan hỷ, tiến ra hải cảng và lên thuyền.
Khi ra đến đại dương vào ngày thứ bảy, con thuyền nứt ra và họ không thể tát hết nước được. Tất cả mọi người lo sợ cho mạng sống mình, đồng thanh kêu gào, mỗi người kêu cầu một vị thần linh riêng của mình. Bậc Đại sĩ chọn một người hầu, xoa dầu khắp mình mẩy, ăn một đống đường mịn hòa với bơ tươi cho thỏa thích, cho kẻ kia cùng ăn, rồi ngài leo lên cột buồm. Ngài bảo:
- Về hướng kia là kinh thành của ta.
Vừa chỉ tay về hướng ấy, vừa gạt bỏ nỗi sợ hãi về các loài rùa, cá, ngài lặn mất cùng với gã gia nhân một khoảng xa chừng hơn một trăm năm mươi cubit (1 cubit = 45 cm). Đám người kia chết đuổi cả, còn bậc Đại sĩ cùng gã gia nhân bắt đầu tiến lên trên biển cà. Trong bảy ngày liền, ngài tiếp tục bơi. Ngay cả giờ phút ấy, ngài vẫn giữ trọn ngày trai giới, súc miệng với nước mặn.
Lúc bấy giờ, một nữ thần tên là Maṇimekhalā, nghĩa là Ngọc Đới, đã được lệnh của Tứ Thiên vương: “Nếu gặp tàu chìm, và tai họa xảy đến cho người đã quy y Tam Bảo, hoặc đầy đủ giới đức, hoặc phụng thờ cha mẹ, thì nàng phải lo cứu độ.” Và để bảo vệ cho các người như vậy, nữ thần an trụ trên mặt biển. Nhờ thần lực của bà, bà không cần canh phòng trong suốt bảy ngày ấy. Song đến ngày thứ bảy, nhìn lướt trên mặt biển, bà thấy vị Bà- la-môn Saṅkha đức độ kia nên suy nghĩ: “Kẻ đằng kia đã bị rớt xuống biển, đến nay là ngày thứ bảy rồi, nếu ông chết đi thì ta mắc phải tội nặng lắm.”
Vì thế sinh lòng lo lắng, bà vội đổ vào chiếc đĩa bằng vàng đầy đủ mọi thức ăn Thiên giới, phi nhanh như gió đến phía ngài, rồi dừng lại trước mặt ngài trên không và bảo:
- Này Bà-la-môn, ngài không ăn gì đã bảy ngày rồi, vậy ăn thức này đi.
Vị Bà-la-môn nhìn bà đáp:
- Cất thức ăn của nàng đi, ta đang giữ giới kiêng ăn.
Kẻ gia nhân của ngài không thấy nữ thần mà chỉ nghe âm thanh, nên nghĩ thầm: “Vị Bà-la-môn này nói lảm nhảm, ta chắc vì cơ thể ngài yếu đuối lại nhịn đói đã bảy ngày nên đang đau đớn và sợ chết, ta muốn an ủi ngài.” Và gã liền ngâm vần kệ đầu:
1. La-môn Tôn giả, bậc uyên thâm,
Đồ đệ Thánh sư, sao lại phải
Hoài tâm vô cớ nói lầm bầm,
Trong khi chẳng có ai đây cả
Đối đáp ngoài tôi, lúc luận đàm?
Vị Bà-la-môn nghe gã, biết rằng gã không thấy vị thần kia, nên bảo:
- Này Hiền hữu, không phải ta sợ chết đâu, song đang có một vị khác ở đây để đàm đạo với ta đó.
Rồi ngài ngâm vần kệ thứ hai:
2. Xuất hiện Thiên thần rực ánh quang,
Tặng ta Tiên phạn để ta ăn,
Cao sang trên đĩa vàng bày sẵn,
Ta đáp nàng “không” dạ lạc hoan.
Sau đó, gã ngâm vần kệ thứ ba:
3. Nếu như người thấy một Thiên thần,
Người hãy yêu cầu một đặc ân,
Xin đứng chắp tay van vị ấy,
Cho hay Thiên nữ hoặc phàm nhân?
Vị Bà-la-môn bảo:
- Bạn nói phải lắm.
Rồi ngài hỏi bằng cách ngâm vần kệ thứ tư:
4. Nương tử nhìn ta vẻ thiết thân,
Bảo ta: “Cầm lấy thức này ăn,”
Hỏi nàng cao cả đầy uy lực,
Là nữ nhi hay một nữ thần?
Vị nữ thần lập tức ngâm hai vần kệ:
5. Ta, nữ thần uy lực đại cường,
Nơi này vội đến giữa trùng dương,
Tràn đầy từ mẫn, tâm hoan hỷ,
Vì cứu ngài trong bước cuối đường.
6. Nhìn đây thực phẩm, chốn an lành,
Nhiều loại cỗ xe, đủ dáng hình,
Cho ngài làm chủ quyền tất cả,
Những gì ao ước tự tim mình.
7. Thưa, vậy tiên nương chính nữ hoàng,
Nắm quyền bao lễ vật nàng ban,
Mỹ nương yểu điệu, mày thanh tú,
Nghiệp quà nào ta tạo đấy chăng?
Vị nữ thần nghe ngài hỏi, nghĩ thầm: “Vị Bà-la-môn này đã hỏi thế, chắc vì ngài tường ta không biết ngài đã làm việc lành nào. Ta muốn nói ngay cho ngài rõ.” Vì vậy, bà đáp ngài qua vần kệ thứ tám:
8. Trên đường nóng bỏng kẻ đơn thân,
Khát nước, mệt nhừ, lại nhức chân,
Ngài đã dừng, mang tài vật cúng,
Ngày nay lễ ấy được hồng ân.
Lúc bậc Đại sĩ nghe thế, ngài nghĩ thầm: “Ô kìa, giữa đại dương khó vượt qua này, việc cúng dường đôi hài trở thành một đại phước báo cho ta. Ôi. việc dâng lễ vật lên một vị Độc Giác Phật thật tốt lành thay!” Rồi trong niềm đại hân hoan, ngài ngâm vần kệ thứ chín:
9. Xin chiếc thuyền bằng ván khéo xây,
Thuận buồm xuôi gió chạy như bay,
Mà không thấm nước trên đường biển,
Không thể dùng xe cộ chốn đây,
Xin chở ta về Moḷinī gấp,
Làm sao vừa kịp đúng hôm nay.
Nữ thần rất đẹp ý khi nghe những lời này, liền làm phép cho chiếc thuyền hiện ra. được làm bằng bảy báu vật, chiều dài tám trăm cubit (1 cubit = 45cm), chiều rộng sáu trăm cubit, chiều sâu hai mươi sải (sải= l,82m); có ba cột buồm bằng ngọc bích, dây buộc bằng vàng, cánh buồm bằng bạc, các mái chèo và bánh lái đều bằng vàng ròng cả. Trong thuyền, vị nữ thần chất đầy bây báu vật, rồi ôm lấy vị Bà-la-môn đưa lên chiếc thuyền huy hoàng kia. Bà không chú ý đến gã hầu cận, song vị Bà-la-môn vẫn chia phần cho gã hường phước lành. Gã sung sướng quá và nữ thần kia cũng ôm gã đặt lên
*
Bậc Đạo sư với Trí tuệ tối thắng đã ngâm vần kệ cuối cùng:
10. Thần nữ hân hoan, hạnh phúc tràn,
Làm cho xuất hiện chiếc thuyền thần,
Đem Saṅkha với người hầu cận
Về đến kinh đô đẹp tuyệt trần.
Còn vị Ba-la-môn suốt đời ở nhà bố thí thật rộng rãi không ngừng và giữ giới hạnh, nên khi mạng chung, ngài cùng các gia nhân đi lên cộng trú với chư Thiên.
*
Khi bậc Đạo sư chấm dứt Pháp thoại, Ngài tuyên thuyết các Sự thật. Bấy giờ, vào lúc kết thúc các Sự thật, vị cư sĩ ấy chứng đắc Sơ quả (Dự Lưu).
Rồi Ngài nhận diện tiền thân:
- Vào thời ấy, Uppalavaṇṇā (Liên Hoa sắc) là nữ thần, Ānanda là người hầu và Bà-la-môn Saṅkha chính là Ta.
(TIỀN THÂN CŪḶABODHI)
Ví thử người ta bắt quý nương...
Chuyện này do bậc Đạo sư kể tại Kỳ Viên về một người tính hay nóng giận.
Người này, sau khi đã xuất gia, tu tập, hành trì Giáo pháp đưa đến giải thoát, an lạc trọn vẹn, lại không thể chế ngự cơn giận của mình. Ông lòng đầy bực tức, hiềm hận; song lại ít nói nên khi phẫn nộ, bị lôi cuốn vào cơn nóng giận, ông trở nên gay gắt chua cay và khó dạy bảo. Khi nghe nói đến tính hay nóng giận của ông, bậc Đạo sư cho gọi ông vào và hỏi có thật là ông hay nổi giận như lời đồn chăng. Vị này đáp:
- Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
Bậc Đạo sư bảo:
- Này Tỷ-kheo, tính nóng giận phải được chế ngự, vì một kẻ hành ác hạnh như vậy không thể nào có nơi an trú được dù trong đời này hoặc đời sau. Tại sao sau khi tu tập pháp môn giải thoát của đức Phật tối thượng không có lòng sân giận, cớ gì ông lại tự mình tỏ ra hay phẫn nộ? Các bậc trí nhân ngày xưa, ngay cả những vị hành trì Giáo pháp khác với chúng ta cũng đã kềm chế được lòng phẫn nộ.
Rồi Ngài kể một chuyện đời xưa.
*
Ngày xưa, khi vua Brahmadatta lên ngôi ở Ba-la-nại, trong một thị trấn ở xứ Kāsi, có một vị Bà-la-môn rất giàu vàng bạc, gia sản đồ sộ song lại không có con, nên bà vợ cầu mong con trai. Vào thời ấy, Bồ-tát từ cõi Phạm thiên đi xuống trần, nhập mẫu thai của bà; rồi vào ngày lễ đặt tên, cha mẹ chọn cho ngài cái tên Bodhikumāra hay là Nam tử Trí tuệ. Khi ngài đến tuổi khôn lớn, ngài đi đến Takkasilā, nghiên cứu đủ các môn học thuật; và sau khi về nhà, dù ngài không muốn, cha mẹ ngài vẫn đi cưới một thiếu nữ
Sau một thời gian, khi song thân đều mất cả, ngài lo việc tang lễ cho thi hài cha mẹ chu đáo. Bậc Đại sĩ gọi vợ đến, bảo nàng:
- Này quý nương, nàng hãy giữ lấy gia sản tám trăm triệu đồng này và sống đời hạnh phúc.
- Không phải vậy đâu, mà đó là phần của phu quân.
Ngài bảo:
- Ta không cần vàng bạc, ta sẽ lên vùng Tuyết sơn, trở thành một ẩn sĩ và tìm nơi cư trú ở đó.
- Vậy thưa phu quân tôn quý, chỉ nam giới mới được xuất gia tu hành thôi chăng?
Ngài đáp:
- Không phải vậy, nữ giới cũng được.
- Vậy thì thiếp cũng không muốn nhận lấy thứ chàng đã phun khỏi miệng, vì thiếp cũng không ham thích vàng bạc gì hơn chàng, thiếp cũng muốn thành ẩn sĩ như chàng.
- Này quý nương, tốt lành thay!
Rồi hai vị đem phân phát bố thí phần lớn tài sản và xuất gia. Đến một vùng đất an lạc dựng am thất ẩn sĩ, các ngài sống bằng trái cây rừng mà các ngài kiếm được, và cứ sống như vậy mười năm tròn, song vẫn chưa chứng đắc thiền định của bậc Thánh.
Thế là sau một thời gian sống tại đó, hưởng hạnh phúc của cuộc đời ẩn dật suốt mười năm liền, các ngài ra đi ngang qua vùng quê để tìm muối và đồ gia vị, và thuận đường đến Ba-la-nại, liền vào trú chân trong vườn ngự uyển.
Bấy giờ, một ngày kia vua thấy người giữ ngự viên đến dâng một món quà trong tay, ngài phán:
- Trẫm muốn liên hoan trong ngự viên, vậy hãy sắp xếp cho chỉnh tề.
Và khi hoa viên đã được dọn dẹp sạch sẽ sẵn sàng, vua ngự vào đó