Tìm kinh sách
 
        Kinh Sách FULL

Kinh Tiểu Bộ 2015- Tập V

Tác giả: Hòa Thượng Thích Minh Châu. Dịch giả: Hòa Thượng Thích Minh Châu. Năm xuất bản: 2007. Số trang: 51.

 

Chương 81:                                          515. CHUYỆN NAM TỬ SAMBHAVA - Phần 7 (trang 566-572)

-  Này tôn ông, không cưa được sao?
Và khi nghe gã bảo:
- Không.
Ngài liền lấy lại sự bình tĩnh trong tâm, bảo:
- Vậy thì được rồi, vì ta không còn đủ sức đưa chiếc vòi lên, ông hãy nhắc nó lên cho ta và nó sẽ cầm một đầu cưa.
Gã thợ săn làm theo.
Bậc Đại sĩ dung vòi cầm phía đầu cưa, đưa lui đưa tới và đôi ngà được cắt rời ra ngay như đọt cây.Sau đó, ngài bảo gã cầm lấy đôi ngà và nói:
- Này hiền hữu lạp hộ, không phải ta cho ông đôi ngà này vì ta không quý trọng chúng, cũng không phải giống như một người mong ước địa vị của Đế-thích Thiên chủ, Ma vương hay Phạm thiên đâu, nhưng đôi ngà Chánh đẳng Chánh giác còn đáng quý đối với ta gấp cả trăm ngàn lần hơn đôi ngà này, và ta ước mong công đức thiện hành này sẽ làm nhân duyên cho ta chứng đắc quả Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.
Vừa khi cho gã đôi ngà, ngài hỏi:
- Ông đến đây phải đi mất bao lâu?
-  Bảy năm, bảy tháng, bảy ngày.
- Vậy nhờ thần lực của đôi ngà này, ông sẽ về đến Ba-la-nại trong bảy ngày thôi.
Sau khi ngài bảo gã ra đi và trước khi đàn voi kia cùng hoàng hậu Subhaddā đến nơi, ngài đã qua đời.
Bậc Đạo sư giải thích sự việc qua vần kệ:
32.           Rồi thợ săn cưa lấy bộ ngà,
              Từ hàm bạch tượng tối cao ra,
               Sáng ngời, bảo vật vô song ấy,
               Gã bước nhanh chân trở lại nhà.
Khi gã đi rồi, đàn voi không còn thấy bóng kẻ thù trở lại nữa.
Bậc Đạo sư giải thích việc này như sau:
33.         Kinh hãi nhìn Vương tượng bỏ thân,
              Đàn voi vùng tán loạn, hoang mang,
              Chẳng tìm thấy vết cừu nhân ác,
              Trở lại nhìn vua ngã xuống đàng.
Vương hậu Subhaddā cùng đến với đàn voi, tất cả đều đau đớn than
khóc và từ đó đi yết kiến các vị Độc Giác Phật trước kia thường rất thân thiết với bậc Đại sĩ, và thưa:
-  Bạch các Tôn giả, đức vua thường vẫn cúng dường các Tôn giả mọi vật dụng cần thiết, đã từ trần vì trúng một mũi tên độc. Xin các Tôn giả đến viếng thi hài của ngài đang được quàng tại nơi kia.
 Năm trăm vị Độc Giác Phật liền bay qua không trung hạ mình xuống vùng đất thiêng ấy. Vào lúc hai chú voi con lấy ngà nâng thi hài của vua chúa lên để thi hài tỏ dấu hiệu sùng kính các vị Độc Giác Phật, rồi nâng thi hài cao đến tận dàn hỏa thiêu và làm lễ hỏa táng. Suốt đêm ấy, các vị Độc Giác Phật tụng kinh trong thánh địa này. Tám ngàn voi ấy, sau khi dập tắt các ngọn lửa, liền tắm rửa rồi theo hoàng hậu Subhaddā dẫn đầu, trở lại nơi cư ngụ như cũ.
Bậc Đạo sư giải thích vấn đề như sau:
34.         Đàn voi khóc lóc lẫn kêu gào,
              Tất cả chất tro đội đỉnh đầu,
              Chầm chậm trở về nơi cư trú,
             Theo sau hoàng hậu mãi thanh cao.
Còn gã Sonuttara trong bảy ngày đã về tới Ba-la-nại cùng với bộ ngà voi.
Bậc Đạo sư giải thích việc này như sau:
35.         Thẳng đến Kāsi, gã thợ săn,
              Vô song tặng vật, gã vừa mang,
              Bộ ngà của chúa voi ngời chiếu
              Làm mọi tâm hoan với ánh vàng,
             Đến trước bà hoàng kia, gã nói:
             “Đây ngà vương tượng đã từ trần”
Bấy giờ khi mang đôi ngà đến dâng hoàng hậu, gã thưa:
- Tâu hoàng hậu, Chúa voi mà hoàng hậu mang mối thù hận trong lòng chỉ vì một lỗi lầm nhỏ nhặt ấy đã bị tiểu thần giết chết rồi.
Nàng kêu lớn:
- Ngươi bảo rằng ngài đã chết rồi ư?
Gã dâng đôi ngà lên và tâu:
- Hoàng hậu cứ tin chắc rằng ngài đã chết, đây là đôi ngà của ngài. Nàng nhận lấy đôi ngà có sáu sắc hào quang ấy để lên chiếc quạt nạm
ngọc của nàng rồi đặt vào lòng, nàng nhìn đôi ngà của voi chúa ngày trước trong một đời trước đã là vị quân vương ái kính của nàng, nàng nghĩ thầm: “Gã thợ săn này trở về với đôi ngà gã cưa được từ bảo tượng mà gã đã giết bằng mũi tên độc.”
    Rồi nhớ lại bậc Đại sĩ, lòng nàng bỗng tràn ngập đau thương đến độ nàng không thể chịu đựng được nữa, tim nàng tan nát ra và nàng từ trần ngay hôm ấy.
   Bậc Đạo sư ngâm vần kệ để làm sáng tỏ câu chuyện:
36.          Bà hoàng vừa chợt thấy đôi ngà,
              Chúa thượng dấu yêu thuở đã qua,
              Lòng quá đau thương liền vỡ nát,
              Vì ngài, kẻ ngốc hóa ra ma.
37.          Khi Đại trí nhân đủ lực thần,
               Mỉm cười trước mắt các hiền Tăng,
              Tức thì Thánh chúng liền suy nghĩ:
              “Chư Phật chẳng cười chuyện bỗng dưng!”
38.          Ngài bảo: “Các ông thấy nữ nhi
               Làm Sa-di ấy, khoác hoàng y,
              Xưa là hoàng hậu, và Ta nữa,
              Ngài tiếp, ‘là voi chúa mất đi’.
39.          Kẻ ác cưa ngà báu trắng tinh,
              Vô song dưới thế, ánh quang minh,
              Đem về thành phố Ba-la-nại
              Nay chính Đề-bà-đạt đích danh.”
40.           Phật-đà với trí tuệ riêng Ngài
                Kể lại chuyện xưa ấy thật dài
                Đủ mọi nỗi buồn đau thống thiết,
                 Dù Ngài đã thoát hết bi ai.
41.           “Ngày xưa bạch tượng chính Ta đây,
                 Làm chúa voi đông đảo cả bầy,
                Như vậy, chư Tăng, ta muốn bảo
               Các ông hiểu rõ tiền thân này.”
   Các vần kệ trên được các Tỷ-kheo ghi nhớ khi Tăng chúng tán dương Đạo pháp và ca ngợi đấng Thế Tôn đầy đủ mọi thần lực.
                                                                  *
    Khi nghe Pháp thoại này xong, một số trong đại chúng chứng quả Dự Lưu, còn vị Sa-di-ni ấy về sau nhờ tu tập thiền định đã chứng đắc quả A-la-hán.
                                         515. CHUYỆN NAM TỬ SAMBHAVA
                                                    (TIỀN THÂN SAMBHAVA)
Trẫm chẳng màng ngôi vị đế vương…
Trong lúc trú tại Kỳ Viên, bậc Đạo sư kể lại câu chuyện này liên quan đến sự viên mãn của Trí tuệ tối thắng.
Các chi tiết đưa đến phần mở đầu câu chuyện sẽ được nêu ra trong Tiền thân Mahā Ummagga (Đường hầm lớn), Chương XXII, tập VII.
                                                                         *
   Ngày xưa, có vị vua danh hiệu Dhanañjaya Korabya trị vì tại kinh đô Indapatta ở quốc độ Kuru (Câu-lâu). Một Bà-la-môn tên là Sucīrata là tế sư cũng là quốc sư của ngài trong mọi vấn đề thế sự cũng như thánh sự. Nhà vua cai trị rất đúng pháp, thực hành bố thí cùng nhiều thiện sự khác. Một ngày kia, ngài chuẩn bị một câu hỏi liên quan việc phụng sự chân lý, nên sau khi mời Bà-la-môn Sucīrata an tọa xong, và cung kính đảnh lễ vị ấy, ngài đưa vấn đề ra hỏi bằng cách ngâm bốn vần kệ:
1.             Trẫm chẳng màng ngôi vị đế vương,
                Sucīrata, và thống trị giang sơn,
                Vì mong trẫm đạt thành cao cả,
                Ngự trị khắp toàn cõi thế gian.
2.             Bằng chánh chân thôi, tránh lỗi lầm,
                Bởi vì tất cả đấng quân vương,
               Ở trên trần thế cần theo đúng
               Bất cứ điều chân chánh thiện lương.
3.            Do đó ta xa lánh lỗi lầm,
              Đời này và mãi mãi ngàn năm,
              Ta cầu mong được danh vinh hiển
              Ở giữa chư Thiên lẫn thế nhân.
4.            Này hỡi tế sư, hãy biết rằng
               Những gì chân thiện, trẫm mong làm,
               Vậy khi được hỏi, xin cho biết
               Những việc làm nào đúng thiện chân.
   Lúc bấy giờ, đó là cả vấn đề cao siêu thuộc phạm vi tri kiến của một vị Phật. Đó là vấn đề ta phải đem ra thưa trình lên đức Phật Chánh Đẳng Chánh Giác, hoặc nếu không có Ngài, thì ta phải trình với một vị Bồ-tát đang mong cầu quả vị Chánh đẳng Chánh giác kia. Còn Sucīrata không phải là một vị Bồ-tát nên không lý giải được vấn đề; vì thế ông chẳng hề làm ra vẻ thông thái, mà đành thú nhận sự bất tài của mình qua vần kệ sau:
5.             Khải tấu Đại vương, chẳng có ai
                Ngoài Vidhura ấy đủ thiên tài,
                Nói điều kỳ diệu là chân thiện,
                Chúa thượng hằng mong thực hiện hoài.
Nhà vua nghe lời này liền phán:
-Vậy Tôn giả hãy đi ngay.
Và vua ban một tặng vật để vị tế sư đem theo và trong niềm mong mỏi ông lên đường, ngài ngâm vần kệ:
6.            Hiền hữu, đi ngay lấy phiến vàng
              Đến Vidhura ấy, trẫm nhờ mang
             Tặng phần xứng trí nhân ưu tú,
             Dạy trẫm điều chân thiện tỏ tường.
  Nói xong, ngài cho ông một phiến vàng đáng giá một trăm ngàn đồng tiền dùng để viết lời giải đáp vấn đề lên trên đó, một xe ngựa để đi đường, một đạo binh hộ tống, một tặng vật và bảo ông đi ngay.
  Khởi hành từ thành Indapatta, ông không đi thẳng Ba-la-nại. Trước tiên đến thăm nhiều nơi chốn các bậc hiền nhân cư ngụ, vẫn không thấy ai có thề giải đáp vấn đề được, ông đi dần đến Ba-la-nại. Trong khi nghỉ tại đó, cùng vài người tùy tùng đến nhà Vidhura vào giờ ăn sáng. Sau khi nhờ thông báo việc đến yết kiến, ông được mời vào và thấy tế sư Vidhura đang dùng điểm tâm tại nhà riêng.
Bậc Đạo sư ngâm vần kệ thứ bảy để giải thích sự việc này:
7.             Bhāradvāja vội vã tiến lên đàng
                Đến gặp Vidhura, thấy bạn vàng
                Ngồi tại nhà riêng, sắp sửa dự
                   Bữa cơm thanh đạm sáng tinh sương.
    Lúc bấy giờ, Vidhura là bạn thiếu thời của Sucīrata, đã học chung tại nhà một vị giáo sư nên sau khi cùng ăn điểm tâm với nhau, tế sư Sucīrata an tọa, và được tế sư Vidhura hỏi:
    -   Hiền hữu đến đây có việc gì?
   Tế sư Sucīrata nêu rõ lý do đến đây và ngâm vần kệ thứ tám:
  8.              Đến vì thánh chỉ chúa Câu-lâu,
                  Dòng dõi Yudhiṭṭhila, hiện thỉnh cầu
                  Hiện hữu Vidhura, cho đệ biết
                 Thiện lương, chân chánh phải là đâu.
  Lúc bấy giờ, vị Bà-la-môn này đang đeo đuổi công việc sưu tập các dòng tư tưởng của một số người, việc ấy cứ chồng chất lên cao như thể nước lụt sông Hằng dâng tràn, cho nên chẳng có thì giờ giải đáp vấn đề này được nữa. Vì thế, ông ngâm vần kệ thứ chín nêu rõ trường hợp mình:
 9.             Tràn ngập chủ đề qua lớn lao
                 Như sông Hằng nước lụt tuôn trào,
                 Ta không thể nói đâu là lẽ
                 Chân thiện, hiền huynh đến thỉnh cầu.
 Nói vậy xong, ông lại thêm:
 -  Ta có một con trai rất thông minh, cháu ấy còn mẫn tuệ hơn ta nhiều. Cháu sẽ giải thích rõ ho hiền hữu. Vậy hãy đến gặp tiểu điệt.
 Và ông ngâm vần kệ thứ mười:
10.           Hiện giờ đệ có một con trai
               Tên gọi Bhādrakāra ở giữa đời,
               Tìm đến chàng ngay, chàng sẽ nói
               Thiện lương, chân lý rõ cho ngài.
  Nghe điều này, tế sư Sucīrata liền rời nhà vị tế sư Vidhura, đến tư thất của Bhādrakāra, và thấy chàng đang ngồi ăn điểm tâm giữa đám thân nhân của chàng.
 Bậc Đạo sư ngâm vần kệ thứ mười một làm sáng tỏ vấn đề này:
11.          Lúc ấy, Bhāradvāja lại vội vàng
               Đến Bhādrakāra gấp tại gia đường,
               Giữa bao bằng hữu đang tề tựu,
                An tọa thong dong được thấy chàng.
/107
 

  Ý kiến bạn đọc


Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây