Tác giả: Hòa Thượng Thích Minh Châu. Dịch giả: Hòa Thượng Thích Minh Châu. Năm xuất bản: 2007. Số trang: 51.
Ý kiến bạn đọc
Ngài suy nghĩ: “Cũng như vợ yêu quý của ta, cái chết sẽ không chừa ta đâu, vậy gia đình có nghĩa gì với ta nữa? Ta muốn xuất gia tu hành.”
Vì thế, ngài từ bỏ mọi tham dục, cùng con trai ngài đi vào vùng Tuyết sơn, ở đó cùng sống đời ẩn sĩ, tu tập thiền định và thắng trí, cư trú trong rừng, sinh sống bằng trái cây và củ rừng.
Vào thời ấy, dân chúng ở biên địa cướp phá xứ sở, sau khi tấn công một thị trấn và bắt các tù nhân, bọn chúng chất đầy chiến lợi phẩm, trở về biên địa. Trong đám ấy, có một cô gái tuyệt đẹp, song đầy mánh khóe giả dối. Cô ta nghĩ thầm: “Các đàn ông này khi mang chúng ta đi xa nhà, sẽ biến bọn ta thành nô lệ; ta quyết tìm cách trốn thoát.” Vì vậy, cô ta bảo:
-Thưa chủ nhân, thiếp muốn nghỉ chân, vậy cho thiếp đi nghỉ chân một lát.
Nàng đánh lừa bọn cướp như thế, rồi trốn đi.
Lúc bấy giờ, Bồ-tát đã đi vào rừng tìm củ quả, để con trai ở lại am lá.
Trong khi ngài đi vắng, cô gái đang lang thang trong rừng, bước đến am này vào sáng sớm, quyến rũ chàng trai bằng dục tình, phá hủy công đức của chàng và chinh phục chàng theo ý mình. Nàng bảo chàng:
- Sao chàng lại ở trong rừng này? Đôi ta cùng về một làng kia làm nhà riêng cho ta ở. Tại đó đôi ta dễ dàng tận hưởng mọi lạc thú ái tình.
Chàng bằng lòng và bảo:
- Nay cha ta đang ở trong rừng kiếm trái cây, khi nào gặp lại cha ta thì ta sẽ cùng nhau đi xa.
Lúc ấy, cô gái thầm nghĩ: “Cậu trai khờ dại này chẳng biết gì cả, song còn cha cậu ắt hẳn đã xuất gia tu hành lúc tuổi già. Khi ông ấy về nhà, ông ấy sẽ biết ta làm gì ở đây và đánh đập ta, lôi cổ kéo cẳng tar a, quẳng ta vào rừng sâu. Vậy ta muốn đi ngay trước khi ông ấy về.”
Rồi chỉ rõ dấu hiệu đường đi xong, nàng liền đi ngay. Sau khi nàng vừa khuất bóng, chàng trai trở nên buồn bã, không làm phận sự hằng ngày như thường lệ mà trùm kín từ đầu tới chân nằm dài ra trong am lá, u sầu phiền muộn.
Khi bậc Đại sĩ đem mớ quả rừng về nhà, ngài quan sát dấu chân cô gái: “Đây là dấu chân một nữ nhân,” ngài nghĩ thầm: “Ắt hẳn công đức của
1. Không có củi nào được bổ ra,
Và không kéo nước tự ao hồ,
Cũng không có lửa nào con nhóm,
Đờ đẫn nằm sao giống kẻ rồ?
Nghe giọng của cha, chàng trai vùng dậy đảnh lễ cha, và hết sức cung kính, chàng thổ lộ rằng chàng không thể nào chịu được cuộc sống trong rừng nữa, và chàng ngâm đôi vần kệ:
2. Con không thể sống ở sơn lâm,
Cuộc sống trong rừng thật khó khăn,
Con quyết điều này, Ca-diếp hỡi,
Con mong trở lại chốn phàm nhân.
3. Này Đại sĩ ơi, hãy dạy con,
Khi con từ giã, bước lên đường,
Thế nào phong tục trong toàn quốc
Con phải biết cho thật tỏ tường?
Bậc Đại sĩ bảo:
- Này con, được lắm, ta sẽ dạy con mọi phong tục trong nước.
Và ngài ngâm đôi vần kệ:
4. Nếu con đã quyết chí xa rời
Các trái cây rừng với sắn khoai,
Về sống thị thành, nghe dạy bảo
Làm sao phong cách hợp theo đời.
5. Tránh nơi vách đá, chốn hang sâu,
Thuốc độc, rời xa, dẫu loại nào,
Bước thận trọng nơi loài rắn ở,
Đống bùn nhơ bẩn, chờ sa vào.
Con trai vị ẩn sĩ không hiểu được lời khuyên cốt lõi ấy, liền hỏi:
6. Vách đá, dốc cao ấy có gì
Liên quan đến Thánh đạo ta đi,
Bùn nhơ, thuốc độc cùng loài rắn,
Xin nói điều này với tiểu nhi.
Vị ấy đáp lời giải thích:
Mà người ta gọi rượu, con thân,
Thơm tho, như mật ong ngon ngọt,
Giá rẻ, đầy hương vị dịu dàng,
Cái ấy, Nārada, bậc trí
Bảo là thuốc độc đối hiền nhân.
8. Và bọn nữ nhân ở cõi trần,
Làm người ngu trí phải điên cuồng,
Chúng lôi đám trẻ ngưởi non dạ,
Như bão dưới đường bắt hạt bông,
Ta nói vực sâu là đấy nhé
Đang nằm ngay trước mặt hiền nhân.
9. Được đời trao tặng đại vinh quang,
Ân sủng, lộc nhiều, tiếng tốt vang,
Này đó, Nārada, bùn cấu uế
Có cơ làm bẩn các hiền nhân.
10. Đế vương cùng với đám quần thần
Đang ngự trong cung chốn thế nhân,
Này đó, Nārada, đều chức trọng,
Mỗi vua là một chúa oai hùng.
11. Trước chân vua chúa, các quân vương,
Con nhớ đừng nên chọn bước đường
Vì đó, Nārada, là rắn cả,
Những người ta đã nói, con thương.
12. Ngôi nhà con đến để xin ăn,
Khi mọi người an tọa trước bàn,
Nếu thấy tốt lành trong chỗ ấy,
Thì con ăn uống thỏa thuê lòng.
13. Khi người kia dọn bữa mời con,
Thực hiện điều này lúc uống ăn,
Đừng uống quá chừng, ăn quá độ,
Tránh xa nguồn dục lạc phàm trần.
14. Rượu chè, chuyện phiếm, bạn tà gian,
Các tiệm bán buôn của thợ vàng,
Đi trên đường lộ chẳng bình an.
- Trong khi người cha cứ tiếp tục nói mãi, nói măi bên tai, chàng trai dần dần hồì tỉnh và nói:
- Thưa phụ thân, con đã chán chê cõi phàm trần rồi.
Sau đó, vị cha dạy cho chàng tu tập từ tâm và các thiện pháp khác. Người con nghe theo lời cha dạy bảo, chẳng bao lâu phát khởi thiền định trong tâm trí chàng. Và cả hai cha con không bao giờ gián đoạn thiền định, nên được tái sinh vào cõi Phạm thiên.
*
Khi bậc Đạo sư đã chấm dứt Pháp thoại, Ngài nhận diện tiền thân:
- Vào thời ấy, cô gái thô tục này là thiếu nữ kia, Tỷ-kheo thối thất là con trai vị ẩn sĩ và Ta chính là người cha.
(TIỀN THÂN DŪTA)
Trầm tư trên bến nước sông Hằng..
Chuyện này bậc Đạo sư kể trong lúc trú tại Kỳ Viên về việc tán thán trí tuệ của Ngài.
Trong Chánh pháp đường, Tăng chúng đang bàn luận:
- Này các Tỷ-kheo Hiền hữu, tài trí của đấng Thập lực thật dồi dào, phương tiện thiện xảo biết bao! Ngài đã chỉ cho vương tử Nanda (em trai của Ngài) thấy cả bầy thiên nữ xong khiến vị ấy đắc Thánh quả. Ngài lại trao chiếc y cho chàng tiểu thị giả của Ngài và giáo hóa cho chàng chứng quả Thánh quả bốn thiền chứng. Ngài chỉ đóa hoa sen cho ngườỉ thợ rèn nọ khiến người ấy đạt Thánh quả. Thật Ngài đang hóa độ chúng sinh vớỉ muôn vàn phương tiện khác nhau!
Bậc Đạo sư bước vào hỏi Tăng chúng dang ngồi bàn luận chuyện gì. Các vị trình với Ngài, Ngài bảo:
- Đây không phải là lần đầu tiên Như Lai có đủ phương tiện thiện xảo và tài trí để biết rõ việc gì sẽ đem lại kết quả như ý đâu, mà ngày xưa Như Lai cũng đã đầy đủ tài trí.
Nói vậy xong, Ngài kể một chuyện quá khứ.
*
Một thuở nọ, khi vua Brahmadatta trị vì tại Ba-la-nại, cả nước đó không có vàng vì vua áp bức toàn dân và lấy hết kho vàng. Vào thời ấy, Bồ- tát sinh vào một gia đình Bà-la-môn ở một làng nọ trong xứ Kāsi. Khi ngài đến tuổi khôn lớn, ngài đến Takkasilā và nói:
- Ta sẽ kiếm tiền để trả học phí cho sư phụ ta sau, bằng phương pháp xin của bố thí một cách kín đáo.
Ngài đi đến thọ giáo và khi đã hoàn thành việc học tập, ngài nói:
- Thưa sư phụ, con sẽ dùng hết năng lực tinh cần của con để đem về
Thế là xin phép từ giã thầy dạy, ngài ra đi tất cả vùng đó để cầu bố thí. Sau khi ngài đã kiếm được vài lạng vàng theo đúng cách chơn chánh và ngay thẳng, ngài ra về định trao tận tay thầy mình, rồi trên đường đi đã dùng thuyền vượt qua sông Hằng. Khi con thuyền tròng trành trên mặt nước, số vàng ấy rơi mất. Ngài suy nghĩ: “Xứ này thật khó kiếm vàng, nếu ta lại đi lần nữa để kiếm tiền trả thầy ta thì sẽ chậm trễ lắm. Vậy nếu ta cứ ngồi tuyệt thực bên bờ sông Hằng thì sao? Dần dần cũng có lúc đức vua biết được việc ta ngồi đây, và vua sẽ phái một vài cận thần đến, nhưng ta sẽ chẳng nói gì với họ. Sau đó, chính đức vua sẽ đến và nhờ đó ta sẽ kiếm được tiền học phí trả thầy ta.”
Vì vậy, ngài đắp thượng y lên mình, đặt sợi dây tế đàn ra ngoài và ngồi bên bờ sông Hằng như thể một pho tượng vàng trên vùng cát bạc. Đám đông đi ngang qua thấy ngài ngồi đó không ăn thứ gì cả, liền hỏi tại sao ngài ngồi như vậy; nhưng ngài không nói lời nào với dân chúng cả. Hôm sau, dân làng kế cận hay tin ngài ngồi đó, cũng đến hỏi han, nhưng ngài cũng không nói gì. Dân chúng thấy ngài kiệt sức như vậy thì vừa bỏ đi vừa thương xót than vãn.
Ngày thứ ba, dân từ kinh thành kéo đến, ngày thứ tư là các bậc quyền cao chức trọng trong kinh thành, ngày thứ năm là đám triều thần quanh vua, ngày thứ sáu vua sai các đại thần đến, nhưng ngài chẳng hề nói với ai điều gì. Ngày thứ bảy, vua lo ngại đến gặp ngài và xin ngài giải thích qua vần kệ đầu:
1. Trầm tư bên bến nước sông Hằng,
Và tại sao chàng chẳng nói năng
Để trả lời ta truyền nhắn hỏi?
Hay chàng giấu chuyện khổ đau chăng?
Nghe lời này, bậc Đại sĩ đáp:
- Tâu Chúa thượng, nỗi sầu của thần chỉ được thổ lộ cho người có thể vứt bỏ nó đi chứ không nói với ai khác được.
Rồi ngài ngâm bảy vần kệ:
2. Hỡi Đại vương nuôi xứ Kāsi!
Số ngài ví thử gặp sầu bi,
Nỗi sầu chớ lộ cho người khác,
Nếu kẻ này không có ích gì.
Nỗi sầu, nhờ thế lực quyền năng,
Thì con người ấy đang sầu muộn
Nói rõ người kia mọi ước mong.
4. Tiếng loài sơn cẩu, tiếng chim muông
Cũng rất dễ dàng được cảm thông,
Tiếng nói người đời, tuy rõ thế
Vô cùng khó hiểu, hỡi Quân vương!
5. Con người thường nghĩ: “Bạn thân mình.
Quyến thuộc bà con, bạn chí tình,”
Song mối tình thân thường biến mất.
Oán thù, căm hận lại dần sinh.
6. Người không được hỏi gặng nhiều lần,
Nói chẳng đúng thời nỗi khổ tâm,
Chắc chắn làm phiền lòng bạn hữu,
Mong mình an ổn, phải than van.
7. Tìm kiếm cơ may để nói năng,
Biết người hiền trí lại đồng lòng,
Bạn hiền tỏ nỗi ưu cùng bạn,
Ý nghĩa nằm sau tiếng dịu dàng.
8. Song, nếu trí nhân thấy rõ ràng,
Không gì giải được nỗi gian truân,
Điều gì đem nói cho người biết,
Cũng chẳng đạt thành quả ước mong,
Bậc trí một mình đành nín lặng,
E dè nhẫn nhục đến sau cùng.
Bậc Đại sĩ đã thuyết pháp như vậy qua bảy vần kệ trên để giáo hóa vua, rồi ngâm thêm bốn vần nữa để kể chuyện ngài đi kiếm tiền trả cho thầy dạy:
9. Đại vương! Thần đã phải lang thang
Nhiều nước, kinh thành, mỗi quốc vương,
Thị trấn, thôn làng, cầu bố thí
Bởi vì học phí, quyết lòng mang.
10. Đến trước thềm ai, mọi chủ nhà,
Triều thần, đạo sĩ hoặc thương gia,