Tác giả: Hòa Thượng Thích Minh Châu. Dịch giả: Hòa Thượng Thích Minh Châu. Năm xuất bản: 2007. Số trang: 51.
Ý kiến bạn đọc
Những người khuyên bảo hoặc ông cha
Cố làm nó đạt tròn tâm nguyện,
Việc ấy gây đau khổ xót xa.
10. Đối với Sa-môn quá hững hờ,
Nhiều nhà tu khổ hạnh ngày xưa
Sống đời thánh thiện và thông thái,
Khiến nó ăn năn tự bấy giờ.
11. Khổ hạnh thực thi thật tốt lành,
Thiện nhân thường vẫn được tôn vinh,
Trước kia nó chẳng làm điều đó,
Nay phải buồn khi kể chuyện mình.
12. Mười điều nhờ trí tuệ khôn ngoan,
Người thực hiện cho được vẹn toàn,
Đối với mọi người làm phận sự,
Sẽ không hề phải chịu ăn năn.
*
Như vậy, cứ mỗi tháng hai lần, bậc Đại sĩ thuyết giáo theo đường lối ấy cho đại chúng. Và đại chúng được an trú vào Giáo pháp của ngài và hoàn thành Mười thiện pháp này, nên được sinh lên Thiên giới.
*
Khi bậc Đạo sư đã chấm dứt Pháp thoại này, Ngài bảo:
- Thưa Đại vương, như vậy, các bậc trí nhân ngày xưa, dù chưa được dạy bảo mà chỉ do trí tuệ riêng của mình, đã thuyết Pháp và an trú đại chúng vào con đường đưa đến Thiên giới.
Cùng với những lời này, Ngài nhận diện tiền thân:
- Vào thời ấy, các đệ tử của đức Phật là dân chúng và Ta chính là vua Janasandha.
(TIỀN THÂN MAHĀKAṆHA)
Chó săn đen sẫm buộc năm dây...
Chuyện này bậc Đạo sư kể trong lúc trú ngụ tại Kỳ Viên về sự sống vì lợi lạc cho cõi đời.
Chuyện kể rằng, một ngày kia, trong lúc các Tỷ-kheo ngồi tại Chánh pháp đường, họ nói chuyện với nhau. Một vị bảo:
- Này các Hiền giả, bậc Đạo sư bao giờ cũng thực hành từ tâm đối với đại chúng nên đã rời bỏ nơi an trú của Ngài và sống chỉ vì lợi lạc của người đời. Ngài đã đạt Tối thượng trí, song Ngài tự nguyện mang y bát di du hành cả mười tám dặm đường hoặc nhiều hơn nữa. Vì năm vị Trưởng lão ấy (các Tôn giả Koṇḍañña), Ngài đã chuyển bánh xe Pháp; vào ngày mồng năm trong nửa tháng ấy Ngài thuyết Kinh Anattalakkhaṇa (Vô Ngã Tướng) và làm cho các vị kia đều đắc Thánh quả A-la-hán. Ngài lại đến Uruvelā (Ưu- lâu-tần-loa) và trước các Đạo sĩ khổ hạnh bện tóc này (các Tôn giả Kassapa), Ngài thị hiện cho ba ngàn rưỡi vị thấy các phép thần thông, cùng thuyết giáo cho các vị ấy gia nhập Tăng chúng. Và tại Gayāsīsa (một ngọn núi gần Gayā, nay là Brahmāyoni), Ngài đã thuyết Pháp về lửa, khiến cho cả ngàn nhà tu khổ hạnh trong số này đắc Thánh quả A-la-hán. Với Mahā Kassapa (Đại Ca- diếp), sau khi Ngài đi cả ba dặm đường để gặp vị ấy và thuyết ba Pháp thoại, Ngài đã truyền Đại giới cho vị ấy. Rồi một mình sau buổi thọ trai, Ngài ra đi đến bốn mươi lăm dặm đường để đưa một thiện gia nam tử là Pukkusa vào Tam quả Bất Lai. Ngài lại phải đi xa cả hai ngàn dặm để gặp Mahākappina (Đại Kiếp-tân-na) và làm cho vị này đắc Thánh quả. Rồi một mình Ngài vào buổi chiều đi ba mươi dặm đường để đưa con người độc ác tàn bạo đó là Aṅgulimāla (Tướng cướp đeo vòng ngón tay) vào Thánh quả. Ngài đi ba mươi dặm nữa, và đưa Āḷavaka (một con quỷ ăn thịt người) vào Sơ quả Dự Lưu cùng cứu hoàng tử thoát nạn (khỏi bị quỷ kia ăn thịt). Ngài an trú trên cõi Trời Ba mươi ba suốt ba tháng và giảng toàn bộ Giáo pháp cho tám trăm
Với những lời như trên, các Tỷ-kheo tán thán công đức trong đời sống của đấng Thập Lực vì lợi lạc của cõi trần gian này. Bậc Đạo sư bước vào và hỏi Tăng chúng đang nói chuyện gì trong lúc ngồi tại đây. Tăng chúng thưa với Ngài. Ngồỉ bảo:
- Này các Tỷ-kheo, ngày nay Ta đã đạt Thắng trí viên mãn và sống vì lợi ích của chúng sinh thì cũng chẳng lạ gì, vì ngay cả xưa kia, khi Ta còn tham dục, Ta cũng đã sống vì lợi lạc của chúng sinh.
Nói vậy xong, Ngài kể một chuyện quá khứ.
*
Một thuở nọ, trong thời đức Phật Chánh Đẳng Giác Kassapa (Ca-diếp) có một vị vua mệnh danh là Usīnara. Một thời gian rất lâu, sau khi đức Phật Ca-diếp tuyên thuyết Tứ Đế (Bốn sự thật) và giải thoát cho nhiều hội chúng khỏi khổ ách, cuối cùng đã nhập vào hội chúng chư Phật an trú trong Niết- bàn (Đại diệt độ) thì Đạo pháp đã suy tàn. Tăng chúng tìm kế sinh nhai bằng hai mươi mốt cách phi pháp, họ kết giao với các Tỷ-kheo-ni và sinh ra nhiều con cái. Các Tỷ-kheo xao lãng phận sự của Tỷ-kheo. Tỷ-kheo-ni cũng xao lãng phận sự của Tỷ-kheo-ni. Nam cư sĩ và nữ cư sĩ cũng vậy. Các Bà-la-môn không còn giữ phận sự của Bà-la-môn. Phần đông dân chúng theo Mười ác đạo, vì vậy, khi mạng chung, họ đều phải vào các đọa xứ thật đông đảo.
Lúc ấy, Sakka (Đế-thích) Thiên chủ nhận thấy không có vị Thiên tử nào mới xuất hiện, ngài nhìn ra cõi trần gian, và thấy loài người bị đọa vào các cõi dữ như thế nào, còn Giáo pháp của đức Phật đã suy tàn. Ngài tự hỏi: “Ta phải làm gì?” “Ta nghĩ ra rồi!” Ngài tự nhủ: “Ta sẽ đe dọa loài người làm cho đại chúng kinh hãi và khi đại chúng đã kinh hãi, ta sẽ trấn an đại chúng và thuyết Pháp, ta sẽ chấn hưng Đạo pháp đã suy tàn, ta sẽ làm Đạo
Cùng với quyết định này, ngài biến vị Thần lái xe của ngài là Mātali thành một con chó săn đen đủi khống lồ, loài chó thuần chủng, có bốn nanh lớn như quả chuối, hình thù gớm ghiếc, với cái bụng bự như đàn bà sắp sinh con. Ngài cột con chó bằng sợi xích năm vòng, cột tràng hoa đỏ lên mình nó và dẫn nó đi bằng một sợi dây. Chính ngài mặc y phục màu vàng, buộc tóc ra đằng sau, quấn tràng hoa đỏ rồi cầm một cây cung khổng lồ với dây cung màu san hô, lắc lư trong tay một cái lao có đầu mũi gắn hạt kim cương, ngài giả dạng một sơn nhân đi xuống, một địa điểm cách kinh thành một dặm.
- Trần gian đang bị tiêu diệt! Trần gian đang bị tiêu diệt!
Ngài thét lớn ba lần để đe dọa mọi người và khi vào đến kinh thành, ngài lại thét lên như vậy. Dân chúng thấy con chó săn liền kinh hoàng bỏ chạy vào thành tâu trình với vua mọi việc. Vua vội vã truyền lệnh đóng các cổng kinh thành. Song Thiên chủ Đế-thích nhảy qua bức thành cao mười tám cubit (1 cubit = 45cm) cùng con chó săn, đứng bên trong kinh thành. Dân chúng hoảng hốt chạy vào nhà đóng cửa thật chặt. Con chó đen khổng lồ rượt theo người nào nó gặp phải và dọa nạt họ, cuối cùng vào đến tận cung vua. Trong cơn khủng khiếp, dân chúng đi ẩn náu khắp sân chầu, vào tận cung điện và đóng cửa lại.
Còn vua cùng các vương phi đi lên thượng lầu. Hắc thiên cẩu đưa chân đặt vào cửa sổ và rống lên thật kinh hoàng. Tiếng rống vang dội từ địa ngục lên đến tận trời xanh cao ngất, cả vũ trụ vang rền tiếng trống đó. Có ba tiếng rống lớn từng vang dậy khắp cõi Diêm-phù-đề(Ấn Độ) là: Tiếng rống của vua Puṇṇaka trong chuyện Tiền thân Puṇṇaka, tiếng rống của Long vương Suddassana trong chuyện Tiền thân Bhūridatta và tiếng rống này trong Tiền thân Mahākaṇha, hay chuyện Đại Hắc thiên cẩu.
Vua thu hết can đảm đến gần cửa sổ, kêu lớn vào Thiên chủ:
- Này thợ săn kia, sao con chó của ngươi rống lên thế?
- Vì nó đói.
Vua bảo:
- Được, trẫm sẽ ra lệnh đem thức ăn cho nó.
Thế là vua ra lệnh đem thức ngự thiện của ngài cùng thức ăn trong cả cung điện. Con chó hình như chỉ ngoạm một miếng là hết tất cả, xong lại gào thét. Vua hỏi nữa.
- Con chó còn đói.
Sau đó, vua bảo đem thức ăn của voi, ngựa ra cho nó. Nó cũng ăn trọn lập tức; vua lại phải lấy hết thức ăn trong kinh thành ra cho nó; con chó cứ nuốt chửng hết như trên rồi gào thét nữa. Vua bảo:
- Đây không phải chó. Chắc chắn là con quỷ dữ. Ta muốn xem nó từ đâu đến.
Lòng kinh hãi, vua ngâm vần kệ đầu hỏi:
1. Chó săn đen sẫm buộc năm dây,
Nanh trắng nhe ra cả miệng này,
Oai vệ gây kinh hoàng dữ dội,
Nó làm gì được với người đây?
Nghe vậy, Đế-thích Thiên chủ ngâm vần kệ thứ hai:
2. Chó đen chẳng đến để săn mồi,
Song nó làm công dụng trị người,
Đại đế Usīnara này, phải biết,
Khi ta thả lỏng nó ra thôi.
Lúc ấy vua bảo:
- Sao, thợ săn, chó này sẽ xé xác hết mọi người hay chỉ xé những kẻ thù của ngươi thôi?
- Tâu Đại vương, chỉ những kẻ thù của tiểu thần thôi.
- Vậy ai là kẻ thù của ngươi?
- Tâu Đại vương, những kẻ nào thích gian tà và theo đường ác.
Vua bảo:
- Hãy tả bọn chúng ra cho ta nghe.
Vị Thiên chủ liền tả bọn chúng qua các vần kệ:
3. Giả làm Tăng chúng, bát trong tay,
Mình khoác chiếc y, cạo tóc này,
Lại muốn theo nghề cày ruộng đất,
Thì ta sẽ thả chó đen ngay.
4. Khi nào Ni chúng Giáo đoàn này,
Đắp một chiếc y, cạo tóc vầy,
Lại thấy đua chen đời thế tục,
Thì ta sẽ thả chó đen đây.
Nặng lãi, môi trên chẫu thật dài,
Cả miệng răng hôi, đầu tóc bẩn,
Thì ta sẽ thả chó đen này.
6. Giáo sĩ không kinh thánh, lễ đàn.
Lại dùng hết cả mọi tài năng
Tế đàn vì chí ham tiền của,
Lúc ấy ta liền thả chó săn.
7. Nay đã già nua, nhị lão thân
Đến thời tàn tạ hết ngày xuân,
Nó không cấp dưỡng dù dư sức,
Chống nó, ta liền thả chó săn!
8. Kẻ nào đối với mẹ cha già
Nay đến lúc tàn, xuân đã qua,
Kêu: "Các người kia, đồ ngốc dại!”
Chống y, ta thả chó săn ra.
9. Khi đàn ông tán vợ người ta,
Vợ của thầy hay của bạn nhà,
Em của cha mình hay vợ cậu,
Thì ta liền thả chó đen ra.
10. Khi mộc trên vai. kiếm dưới tay,
Làm quân cường đạo, vũ trang đầy,
Chiến trường giết hại,và ăn cướp.
Ta sẽ thả ra hắc cẩu này.
11. Con trai bà góa dưỡng da ngà,
Vô dụng, không tài giỏi việc nhà,
Lực lưỡng, chỉ gây trò đánh lộn,
Thì ta sẽ thả chó săn ra.
12. Khi tâm người chứa rẫy ý tà,
Những kẻ dối gian, chẳng thật thà,
Quanh quẩn vào ra trong thế giới,
Thì ta liền thả chó đen mà.
Như vậy, khiThiên chủ bảo: “Những người này là kẻ thù của ta, tâu Đại vương,” ngài làm thể như sắp thả chó xổ ra xé những kẻ nào làm các
- Này Đại vương, ta là Đế-thích Thiên chủ, vì thấy trần gian sắp bị hủy diệt nên ta đến đây. Quả thật bây giờ người chết đọa vào các cõi khổ đầy rẫy vì chúng làm toàn chuyện độc ác; còn Thiên giới thì trống vắng. Từ nay ta sẽ biết cách trừng trị bọn gian ác, song các người phải cố gắng tinh cần.
Rồi sau khi thuyết Pháp, trong bốn vần kệ đáng ghi nhớ và hướng dẫn dân chúng vào các công đức thiện sự như bố thí, ngài tăng cường uy lực của Giáo Pháp đang suy tàn để Giáo pháp được tồn tại thêm một ngàn năm nữa, rồi ngài cùng Thần Mātali trở lại cõi của ngài.
*
Khi bậc Đạo sư chấm dứt Pháp thoại này. Ngài nói thêm:
- Này các Tỷ-kheo, như vậy ngày xưa cũng như nay, Ta đã sống vì lợi lạc của cõi đời.
Rồi Ngài nhận diện tiền thân:
- Vào thời đó, Ānanda là Mātali và ta là Đế-thích Thiên chủ.
470. CHUYỆN PHÚ ÔNG KEO KIỆT
(TIỀN THÂN KOSIYA)
Chuyện phú ông keo kiệt sẽ được kể trong số 535, Tiền thân Thực phẩm Thiên giới (Sudhālbhojnna), Tập VI.