Tìm kinh sách
 
        Kinh Sách FULL

Kinh Tiểu Bộ 2015- Tập V

Tác giả: Hòa Thượng Thích Minh Châu. Dịch giả: Hòa Thượng Thích Minh Châu. Năm xuất bản: 2007. Số trang: 51.

 

Chương 41:  483.CHUYỆN CHÚA NAI SARABHA - Phần 10 (trang 280-286)

  Vỉên quan liền xuống voi, dẫn cậu vào yết kiến vua và tâu:
   - Tâu Chúa thượng, người này có thể đưa tin tức trình Chúa thượng về con nai kia.
  Vua phán:
  - Có đúng như vậy chăng, người kia?
   Cậu đáp:
   - Tâu Đại vương, quả đúng như vậy, xin Đại vương cho tiểu thần vinh dự đó.
Và cậu ngâm vần kệ thứ hai:
2.        Thần tâu Hoàng thượng biết tin nai,
          Tối thượng lộc vương của cả loài,
           Xin Đại vương ban phần thưởng quí,
          Ngôi làng tuyệt hảo, gái xinh tươi!
  Vua rất hoan hỷ khi nghe những lời này của tên phản bạn. Vua phán:
  - Này mau lên! Phải tìm con nai này ở đâu thế?
 Gã đáp:
 - Tâu Chúa thượng, ở chỗ như vầy.
 Và gã chỉ rõ đường đi. Cùng một đoàn tùy tùng đồng đảo, vua ra lệnh tên phản bội dẫn ngài đến nơi ấy, rồi gã bảo:
- Xin ra lệnh cho đoàn quân sĩ dừng lại.
Khi quân sĩ đã được lệnh dừng, gã chỉ tay nói tiếp:
- Nơi có con nai vàng ánh ở chốn đằng xa xa kia kìa.
Và gã ngâm vần kệ thứ ba:
3.       Bụi cây xoài ở phía đàng xa,
          Cùng đám Sāla nở rộ hoa,
         Đất tựa yên chi màu đỏ thắm,
         Nai này có thể được tìm ra.
Khi vua nghe những lời này ngài bảo các cận thần:
 - Đừng để nai chạy thoát, mà phải lập tức bủa vây quanh bụi cây này, còn binh sĩ cầm binh khí trong tay.
Họ làm theo lệnh ấy và đồng thanh la lớn. Vua cùng một số người khác đứng riêng ra, song gã đó cũng không đứng xa mấy . Bậc Đại sĩ nghe tiếng kêu ấy, nghĩ thầm: “Đây là tiếng thét của một đoàn người đồng đảo vậy ta phải đề phòng họ mới được.”
Ngài đứng lên và khi nhìn cả một đoàn người, ngài nhận thấy nơi vua đứng. Ngài nghĩ thầm: “Nơi nào vua đứng, ta sẽ được bình an, vậy ta phải đến đó.” Rồi ngài chạy về phía vua. Khi vua thấy ngài chạy đến, liền bảo:
  -   Một con vật mạnh như voi có thể quật mọi thứ trên đường đi của nó.
  Ta muốn giương cung lên dọa con nai này. Nếu nó chạy, ta sẽ bắn cho nó yếu đi rồi ta mới bắt nó được.
   Sau đó, vua giương cung lên ngay trước mặt Bồ-tát.
   Để giải thích việc này, bậc Đạo sư ngâm đôi vần kệ:
  4.             Nai tiến lên, cung đã được giương,
                  Mũi tên nằm ở sợi dây trương  
                  Đằng xa, vì vậy nai kêu lớn
                  Ngay lúc nai nhìn thấy Đại vương.
 5.              Đại vương, Chúa tể của vương xa,
                 Xin đứng yên và chớ bắn ta,
                 Ai đã mang tin Hoàng thượng biết
                 Nơi này, nai sẽ được tìm ra?
  Vua say mê giọng ngọt như mật của ngài, liền thả cung đứng yên chiêm ngưỡng ngài. Lúc ấy bậc Đại sĩ bước lên chỗ vua, vừa nói chuyện vui vẻ với vua và đứng một bên. Cả đám tùy tùng cũng hạ binh khí xuống, bước lên vây quanh vua. Vào lúc ấy, bậc Đại sĩ hỏi vua với giọng êm ái như tiếng chuông vàng rung nhè nhẹ:
   -    Ai đem tin đến cho ngài rằng nơi đây sẽ tìm được nai vàng?
Vừa lúc ấy, con người gian ác kia bước lại gần và đứng nghe lỏm. Vua chỉ gã và nói:
 -   Đó là ngườỉ báo tin cho trẫm.
Rồi vua ngâm vần kệ thứ sáu:
6.               Kẻ ác kia, bằng hữu của ta,
                 Con người đang đứng ở đằng xa,
                  Mang tin, nó đã cho ta biết
                 Rằng ở đây nai được thấy mà.
Nghe vậy, bậc Đại sĩ trách mắng người bạn phản bội kia, và ngâm vần kệ thứ bảy nói với vua:
7.             Nhiều người ở cõi thế gian này,
                Tục ngữ thường hay nói đúng thay :
                “Thà vớt gỗ trôi sông còn tốt,
                  Hơn là cứu một kẻ như mày!”
Khi vua nghe lời kệ này, liền ngâm vần kệ khác:
8.              Muốn trách người có thể hỏi nai?
                  Là chim, là thú hoặc là gì?
                  Lòng ta đầy nỗi lo vô hạn
                  Khi tiếng nai nghe giống tiếng người!
 Đến đây, bâc Đại sĩ đáp lại:
  -    Tâu Đại vương, ta không trách một thú vật hay chim chóc nào cả mà ta trách một người.
Để giải thích việc này, ngài ngâm vần kệ thứ chín:
9.               Ta cứu gã kia đã một lần
                  Khi gần như gã phải chìm dần
                 Trên dòng chảy xiết dìm thân gã,
                  Vì đó, nay đành phải khổ thân;
                  Ngài cứ đi cùng phường độc ác,
                  Ngày sau chắc chắn sẽ ăn năn.
Khi vua nghe vậy liền nổi giận lôi đình với gã kia. Vua phán:
-    Sao? Ngươi không nhìn nhận công đức của ngài sau một việc cứu vớt đầy nhân từ như vậy ư? Ta muốn bắn chết gã kia ngay.
Vua liền ngâm vần kệ thứ mười:
10.             Ta sẽ đâm tên bốn cánh này
                  Xuyên vào tim nó, bỏ thân ngay!
                 Ác nhân này đã đầy tâm phản,
                  Chẳng đội ơn sâu cứu giúp vầy!
Lúc ấy, bậc Đại sĩ suy nghĩ: “Ta không muốn nó chết vì ta,” nên ngồi ngâm vần kệ thứ mười một:
11.           Người ngu đáng thẹn, tấu Minh quân,
                Song việc giết người, bậc thiện nhân,
                Chẳng tán thành, xỉn tha kẻ khốn,
               Và ban cho gã thưởng toàn phần
                Những gì ngài hứa, còn ta sẽ
                Phục vụ Quân vương những lúc cần.
Vua hoan hỷ khi nghe lời này nên ngâm vần kệ tiếp để tán thán ngài:
12.                   Nai này quả thật có lòng nhân,
                        Không trả hận sân với hận sân,
                       Tống gã hèn ngay! Ta thưởng nó
                        Làm tròn lời hứa đã từng ban
                        Còn nai đi đến nơi tùy ý,
                        Xin chúc ngài luôn được vạn an!
Nghe lời này, bậc Đại sĩ đáp:
-  Tâu Đại vương, người ta có thể miệng nói một đường mà làm một nẻo.
Và ngài ngâm hai vần kệ để giải thích điều đó:
13.                  Tiếng loài sơn cẩu, tiếng chim muông,
                       Thường cũng dễ dàng được cảm thông,
                       Còn tiếng người đời, tuy rõ thế,
                       Vô cùng khó hiểu, tấu Quân vương!
14.                  Con người thường nghĩ: “Bạn thân mình,
                      Quyến thuộc là đây, bạn chí tình.”
                      Tuy thế, tình thân thường biến mất,
                       Oán thù, căm hận lại dần sinh.
  Khi vua nghe lời này, ngài đáp:
  -   Này Lộc vương, xin đừng nghĩ rằng ta thuộc loại người như vậy. Vì ta quyết sẽ không chối từ đặc ân mà ta đã ban cho ngài, dù ta có mất cả quốc độ vì chuyện đó. Hãy tin tưởng vào ta.
 Rồi vua cho ngài chọn điều ước.
  Bậc Đại sĩ nhận đặc ân này và ước mong rằng tất cả các loài vật từ chính ngài trở đi đều được bình an thoát khỏi mọi tai họa. Vua thuận cho ngài điều ước ấy, rồi đem ngài về thành Ba-la-nại và sau khi trang hoàng cả kinh thành lộng lẫy, lại tô điểm luôn cả bậc Đại sĩ nữa, vua mời ngài thuyết pháp cho bà chánh hậu, sau đó là vua và triều đình nghe bằng thứ tiếng của loài người ngọt ngào như mật. Ngài khuyến giáo vua hành trì Thập vương pháp (mười đức tính của vị minh quân), và khích lệ hội chúng đông đảo ấy xong, liền trở về chốn núi rừng, nơi ngài sống chung với bầy nai.
 Vua ra lệnh đánh trống khắp kinh thành cùng lời loan báo:
  -      Hoàng thượng bảo vệ mọi loài thú vật.
 Từ đó về sau, không ai dám giơ tay giết hại thú vật hay chim muông cả.
    Nhưng nhiều đàn nai phá hoại mùa màng của người vả không ai đủ sức xua đuổi chúng đi. Một đám đông tụ tập trước sân chầu, kêu than với vua.
    Để làm sáng tỏ việc này, bậc Đạo sư ngâm vần kệ sau:
15.             Dân thành thị theo với tiện dân,
                   Đều đi thẳng đến tấu vương quân:
                  “Đàn nai ăn hết màu màng cả,
                   Chúa thượng, việc này phải cản ngăn.”
Nghe vậy, vua ngâm đôi vần kệ:
16.             Dân chúng dù mong muốn hoặc không,
                  Ví dù đất nước trẫm tiêu vong,
                  Trâm không thể hại đàn nai được,
                  Trẫm hứa cho nai sống vẹn toàn.
17.             Thần dân có thể bỏ rơi ta,
                   Hủy bỏ vương quyền của thế gia,
                   Lời ước ta đã ban Lộc chúa,
                   Ta không hề chối bỏ đâu mà.
   Dân chúng nghe lời vua phán bảo, thấy mình không thể nói gì được nữa, đành ra về. Lời vua phán lan ra khắp nơi, Bậc Đại sĩ nghe được tin ấy, liền tập hợp cả đàn nai lại, và ra lệnh cho chúng:
   -    Từ nay về sau, các con không được phá hoại mùa màng của loài người nữa.
 Ngài đã gởi thông báo cho dân chúng hay rằng mỗi người phải dựng một tấm bảng hiệu lên vùng đất của mình.
 Dân chúng làm theo, và nhờ dấu hiệu ấy, cho đến nay, loài nai không phá hoại mùa màng nữa.
                                                              *
  Khi bậc Đạo sư đã chấm dứt Pháp thoại này, Ngài bảo:
  -    Này các Tỷ-kheo, đây không phải là lần đầu tiên Đề-bà-đạt-đa vong ân bội nghĩa.
  Rồi Ngài nhận diện tiền thân:
  -  Vào thời ấy, Devadatta (Đề-bà-đạt-đa) là con trai nhà phú thương, Ānanda (A-nan) là vua và Ta chính là Nai chúa.
                                           483.CHUYỆN CHÚA NAI SARABHA
                                                  (TIỀN THÂN SARABHAMIGA)
  Cứ hy vọng, người ơi, là bậc trí...
  Chuyện này bậc Đạo sư kể trong khi trú tại Kỳ Viên để giải thích đầy đủ một câu hỏi do Ngài nêu ra một cách tổng quát cho vị Tướng quân Chánh pháp (Sāriputta).
  Vào thời ấy, bậc Đạo sư nêu vắn tắt câu hỏi với Trưởng lão ấy. Đây là câu chuyện đầy đủ chi tiết về nguồn gốc của một số chư Thiên. Khi Tôn giả Piṇḍolabhāradvāja dùng thần thông để lấy được cái bình bát bằng gỗ chiên- đàn trước sự hiện diện của vị Đại phú thương ở thành Rājagaha (Vương Xá), bậc Đạo sư cấm các Tỷ-kheo sử dụng thần thông lực.
  Lúc ấy, các Tỷ-kheo ly khai Gỉáo hội suy nghĩ: “Sa-môn Gotama đã cấm sử dụng thần thông lực. Nay chính vị ấy cũng sẽ không sử dụng thần thông lực nữa.” Đám đệ tử của các vị ly khái Giáo hội la lắng, nói với họ:
  - Tại sao các Tôn giả không dùng thần thông lực lấy cái bát kia?
  Họ đáp:
  - Này Hiền hữu, việc này không khó gì đối với chúng ta. Song chúng ta nghĩ: “Ai lại muốn thị hiện thần thông cao quý vi diệu của mình trước người thế tục chỉ vì cái bình bát bằng gỗ nhỏ mọn kia chứ? Do thế, chúng ta không lấy nó xuống. Các Sa-môn dòng họ Thích-ca đã lấy nó xuống và thị hiện thần thông chỉ vì tham lam ngu xuẩn mà thôi. Đừng tưởng biến hóa thần thông là việc khó khăn gì với chúng ta đâu. Giả sử ta đừng kể đến các đệ tử của Sa- môn Gotama, nếu chúng ta muốn, chúng ta sẽ biến hóa thần thông với chính Sa-môn Gotama nữa kia. Nếu Sa-môn Gotama thị hiện một phép thần thông, thì chúng ta sẽ thị hiện một phép khác kỳ diệu gấp hai lần.”
  Tăng chúng nghe chuyện này liền thưa với đức Thế Tôn:
  -    Bạch Thế Tôn, các Tỷ-kheo ly khai Giáo hội nói họ muốn thị hiện thần thông lực.
  Bậc Đạo sư bảo:
  -   Cứ để họ làm đi,Ta cũng sẽ làm việc ấy.
 Vua Bimbisāra (Tần-bà-sa-la) nghe vậy, đi đến hỏi đức Thế Tôn:
 - Bạch Thế Tôn, Ngài định thị hiện thần thông lực chăng?
 -  Thưa Đại vương, phải.
 -  Bạch Thế Tôn, chẳng phải có lệnh cấm về vấn đề này rồi sao?
 - Thưa Đại vương, lệnh ấy dành cho các đệ tử của ta, chớ không có lệnh nào có thể ngăn cản chư Phật cả. Cũng như hoa quả trong vườn ngự uyển là của cấm đối với kẻ khác chứ không hề áp dụng luật này đối với Đại vương.
- Bạch Thế Tôn, vậy Ngài sẽ thị hiện phép thần thông ở nơi đâu?
- Tại Xá-vệ dưới một cây xoài có “cục u”.
- Vậy trẫm sẽ làm gì lúc đó?
- Thưa Đại vương, chẳng cần làm gì cả.
Ngày kế đó, sau khi điểm tâm xong, bậc Đạo sư đi khất thực.
Dân chúng hỏi:
-  Bậc Đạo sư đi đâu thế?
Các Tỷ-kheo đáp lại:
 -   Ở cổng thành Xá-vệ, dưới một gốc cây xoài có cục u, Ngài sẽ thị hiện một phép thần thôn Song hành (Yamaka Pāṭihāriya:các tia sáng xanh và đỏ phát ra từ thân Ngài) để đánh bại những kẻ ly khai Giáo hội.
Đám người ấy nói:
-  Phép thần thông này sẽ là tuyệt tác, nên chúng ta muốn đi xem.
 Sau khi rời nhà, dân chúng đi theo bậc Đạo sư, và vài kẻ ly khai Giáo hội cũng đi theo Ngài cùng với đám đệ tử của họ.
 Họ nói:
 -  Chúng ta sẽ thị hiện một phép thần thông ở nơi mà Sa-môn Gotama sắp thị hiện phép thần thông của mình.
Dần dần, bậc Đạo sư đi đến Xá-vệ. Vua hỏi Ngài:
  -   Bạch Thế Tôn, có đúng là Ngài sắp thị hiện thần thông lực như chúng đồn chăng?
Ngài đáp:
  -     Quả đúng vậy
Vua hỏi:
  -   Ngày thứ bảy kể từ đây, vào đúng rằm tháng sáu trăng tròn.
/107
 

  Ý kiến bạn đọc


Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây