Tìm kinh sách
 
        Kinh Sách FULL

Kinh Tiểu Bộ 2015- Tập V

Tác giả: Hòa Thượng Thích Minh Châu. Dịch giả: Hòa Thượng Thích Minh Châu. Năm xuất bản: 2007. Số trang: 51.

 

Chương 68: Chương Mười Lăm- Phẩm Hai Mươi Bài Kệ - Phần 11 (trang 471-477)

   Các vị khổ hạnh kia bắt đầu đàm đạo. Họ nói:
  -   Nay không có hoàng nam trong cung để nối nghiệp hoàng gia. Nếu vua có được một vương tử thì thật là điều vạn phúc để kế tục vương nghiệp.
  Mahārakkhita nghe lời hội chúng nói chuyện, liền suy nghĩ: “Vua này có sinh được hoàng nam hay chăng?” Rồi vị này nhận xét thấy rằng vua sẽ có một hoàng nam, vội bảo:
 -    Này các Hiềng giả, các bạn đừng lo lắng gì, đêm nay, lúc rạng đông, một đấng thiên tử sẽ giáng trần và sẽ nhập mẫu thai của chánh hậu.
 Một vị tu khổ hạnh giả danh nghe được chuyện ấy, nghĩ thầm: “Nay ta muốn trở thành người tâm phúc của hoàng gia.”
 Khi đến thời hội chúng khổ hạnh phải lên đường, vị ấy liền nằm xuống giả vờ lâm bệnh.
 Hội chúng bảo nhau:
 -  Mau lên, ta cùng đi.
 Người kia đáp:
- Đệ không đi nổi.
Sau đó Hiền giả Mahārakkhita biết được tin vì sao người ấy phải nằm yên tại chỗ.
Ngài bảo:
-  Hễ khi hiền hữu đi được thì hãy theo chúng ta ngay.
Rồi ngài cùng các hiền nhân kia tiến về Tuyết sơn.
Bấy giờ, kẻ lừa dối ấy liền ra sức chạy thật nhanh đến đứng tại cửa cung, dâng sớ tâu rằng có một người tùy tùng của Hiền giả Mahārakkhita đến chầu. Kẻ ấy được vua triệu vào ngay lập tức và bước lên thượng lầu, ngồi xuống sàn tọa đã được mời. Vua chào mừng kẻ ấy rồi ngài ngồi xuống một bên, hỏi thăm sức khỏe của chư hiền. Ngài bảo:
-  Tôn giả trở lại quá sớm. Thế vì nguyên cớ gì Tôn giả vội vàng quay lại đây?
Kẻ ấy đáp:
-  Tâu Đại vương, trong lúc chư hiền đang ngồi thong dong cùng nhau, hội chúng bắt đầu nói chuyện nếu đức vua sinh được hoàng nam để kế nghiệp thì thật là điều đại phúc. Khi tiểu thần nghe thế, liền suy ngẫm xem Đại vương có sinh được hoàng nam không, thì nhờ thiên nhãn, thần thấy được một vị thiên tử vĩ đại sắp giáng trần và vị ấy sẽ nhập vào mẫu thai của
chánh hậu Sudhammā. Rồi thần suy nghĩ: “Nếu họ không biết, họ có thể vô tình phá hoại bào thai ấy, vậy thì ta phải thong báo cho họ biết.” Và thế là, vì để trình Đại vương về tin ấy nên hạ thần đến đây, tâu Đại vương. Nay hạ thần đã tâu trình  xong, xin cho hạ thần lên đường.
  -  Không, không, này hiền hữu, không thể như vậy được.
  Vua vô cùng hoan hỷ, đem kẻ lừa gạt kia vào ngự viên ban cho ông một nơi an trú. Từ đó về sau, ông sống trong cung vua, được dâng món ngự thiện tại đó và được mệnh danh là Dibbacakkhuka hay là Thiên nhãn Đạo nhân.
  Sau đó, Bồ-tát từ cõi trời Ba mươi ba giáng trần, nhập mẫu thai của chánh hậu và khi ngài ra đời, triều thần đặt tên ngài là Somanassakumāra hay là vương tử Hoan Lạc, rồi ngài được nuôi nấng theo cung cách của vua chúa.
  Bấy giờ, vị tu khổ hạnh giả hiệu ở trong góc vườn ngự thường trồng ra đậu, củ, quả rồi đem bán cho người trồng rau ở chợ nên kiếm được nhiều tiền bạc. Khi Bồ-tát lên bảy, ở biên thùy có xảy ra bạo loạn. Vua ra đi dẹp giặc, giao phó vị tu khổ hạnh Dibbacakkhuka ấy cho thái tử chăm sóc và dặn không được xao nhãng vị ấy.
  Một ngày kia, thái tử đến thăm vị ẩn sĩ. Ngài thấy ông mang cả hai chiếc y vàng, buộc chặt thượng y lẫn hạ y, hai tay cầm hai bình nước tưới cây, ngài nghĩ thầm: “ Lão tu hành giả hiệu này lo làm vườn chứ chẳng lo làm phận sự tu hành.” Ngài liền hỏi:
 -  Ông đang làm gì thế này, này kẻ làm vườn phàm tục kia?
  Ngài làm nhục ông như vậy và bỏ về chẳng chào hỏi gì ông cả. Ông suy nghĩ: “Nay ta đã khiến thằng bé này thành kẻ thù của ta rồi, ai biết được nó sẽ làm gì được cơ chứ? Ta phải tiêu diệt nó ngay lập tức.”
 Vào lúc vua sắp hồi cung, ông ta ném chiếc trường kỷ bằng đá sang một bên, đập bể vụn bình bát, rải cỏ rác khắp am thất, lấy dầu bôi khắp người rồi vào am nằm trên nệm rơm kia, trùm kín mít từ đầu đến chân làm ra vẻ đau đớn lắm.
Vua đã hồi loan, xa giá diễu quanh kinh thành theo hướng bên hữu, song trước khi vào nội cung, ngài đến thăm vị thần hữu Dibbacakkhuka ấy. Vừa đứng bên cửa am, ngài đã thấy cảnh bừa bãi kia, liền bước vào mà không biết việc gì xảy ra. Còn kẻ đó đang nằm dưới đất. Vua xoa bóp chân ông và ngâm vần kệ đầu:
1.         Kìa ai phá hoại hoặc khinh chê,
           Sao khổ buồn, ngài quá ủ ê,
           Thương khóc mẹ cha ai đó vậy,
            Đất này ai lại xuống nằm lê?
Nghe lời này, kẻ bịp bợm kia liền vùng dậy rên rỉ, đáp vần kệ thứ hai:
2.         Hân hoan thần bái kiến Long nhan,
            Xa cách từ lâu, tấu Đại vương,
            Thái tử vừa đi thăm lão đó,
           Chẳng ai khiêu khích, lại làm càn.
Các vần kệ sau đây theo mạch lạc rõ rang, được sắp đặt đúng với diễn biến của câu chuyện:
3.       Ô kìa, đao phủ, hãy xem nào,
          Thị giả, đưa trường kiếm lại mau,
          Giết chết Soma, hoàng thái tử,
          Đem đầu cao quý đến đây giao.
4.       Sứ giả nhà vua bước vội vàng,
          Đến cung hoàng tử, họ kêu ran:
         “Phụ vương đã bỏ hoàng nam đó,
          Điện hạ ôi, ngài phải chết oan!”
5.        Hoàng tử đứng kia cũng khóc than,
          Vòng đôi tay lại, khẩn cầu ân:
        “Xin tha mạng trẻ trong giây lát,
          Đem trẻ đi nhìn mặt phụ vương.”
6.       Nghe lời thỉnh nguyện tự nơi chàng,
         Họ dẫn hoàng nhi đến phụ hoàng,
         Hoàng tử từ xa nhìn đại đế,
         Chàng liền tâu vậy với nghiêm đường:
7.      “Quân sĩ cứ mang kiếm chém đầu,
          Song nghe con trẻ trước, muôn tâu,
          Xin cho con rõ, tâu Hoàng thượng,
          Con đã làm nên tội lỗi nào?”
Vua cha đáp:
-  Hoàng triều đang suy sụp điêu tàn, tội của con làm trọng đại lắm. Rồi vua giải thích qua vần kệ:
8.              Sáng chiều kéo nước, bậc hiền nhân
                Ngọn lửa chăm nom, chẳng chút ngừng,
                Hãy trả lời ta, sao lại dám
                Gọi ngài thánh thiện kẻ phàm trần?
Vương tử đáp:
-   Tâu Chúa thượng nếu thần nhi gọi một kẻ phàm tục là một kẻ phàm tục thì có hại gì đâu?
Rồi chàng ngâm kệ:
9.           Lão có nhiều cây với trái đầy,
             Phụ vương xem đủ sắn khoai này,
             Chăm nom chúng, lão không ngừng nghỉ,
             Lão chính phàm nhân, trẻ nói ngay.
Hoàng tử nói tiếp:
-  Và đó là lý do con gọi lão là người phàm tục. Nếu phụ vương không tin con, xin cứ hỏi thăm những người trồng rau ở bốn cổng thành thì rõ.
Vua cha truyền đi điều tra việc ấy. Dân chúng đáp:
-  Thưa vâng, chúng thần đã mua của vị ấy đủ loại rau quả.
Khi vua khám phá ra việc buôn bán rau quả này, ngài công bố cho mọi người biết. Gia nhân của hoàng tử vào am lão và lục soát được một bó đồng tiền và đồng xu nhỏ, là số tiền bán rau quả kia, họ liền trình vua.
Lúc ấy, vua biết bậc Đại sĩ vô tội, liền ngâm kệ:
10.        Đúng là lão có thật nhiều cây
            Với các loại rau, củ trái đầy,
            Chăm sóc trông nom không chút nghỉ,
            Phàm nhân, quả đúng trẻ tâu bày.
 Sau đó, bậc Đại sĩ suy nghĩ: “Trong khi có một kẻ ngu si ám độn như thế này ở hoàng cung thì thượng sách là đi vào vùng Tuyết sơn và sống đời tu tập. Vậy trước tiên ta công bố tội trạng lão với quần chúng tại đây, sau đó, ngay hôm nay, ta xuất gia thành ẩn sĩ.”
Thế là ngài cúi chào hội chúng và nói lớn:
11.         Này nghe ta nói, hỡi toàn dân,
             Dân chúng thị thành lẫn dã nhân,
             Chúa thượng nghe lời người xuẩn ngốc,
             Khiến người vô tội phải vong thân.
Nói xong, ngài xin phép thực hiện ước nguyền trên qua vần kệ tiếp theo:
12.          Phụ vương, cây tỏa rộng hùng cường,
                Nhành trẻ, con sinh tự phụ vương,
                Con cúi mình đây xin phép được
                Giã từ thế tục để lên đường.
Các vần kệ sau đây thuật lại cuộc trò chuyện giữa vua cha và vương tử:
Phụ vương:
13.           Vương nhi, hưởng phú quý huy hoàng,
                Ngự trị Câu-lâu chiếc bệ vàng,
               Đừng bỏ thế gian, gây khổ não
               Cho mình, hãy nhận lễ đăng quang.
Vương tử:
14.             Trần thế này đem lạc thú nào?
                  Khi xưa con đã ở trời cao,
                  Sắc, thanh, hương, vị và xúc cảm,
                  Lòng vẫn thường yêu chuộng biết bao.
15.             Con từ bỏ hết nghiệp duyên xưa
                 Thiên lạc cùng thiên nữ ngọc ngà,
                 Với phụ vương là vua yếu kém,
                 Con không muốn ở nữa bây giờ.
Phụ vương:
16.             Nếu cha kém trí, hỡi hoàng nam,
                 Tha thứ cha nay việc đã làm,
                  Giả sử cha còn làm việc ấy,
                  Cha tùy con định, chẳng kêu than.
Sau đó, bậc Đại sĩ ngâm tám vần kệ khuyến giáo vua cha:
17.              Hành động không suy nghĩ trước sau,
                   Hoặc làm không cân nhắc dài lâu,
                   Cũng như sử dụng lầm phương thuốc,
                   Hậu quả ắt là phải khổ đau.
18.              Hành động nào suy tính thật lâu,
                   Khôn ngoan thận trọng tiếp theo sau,
                   Giống như vị thuốc nhiều công hiệu,
                   Kết quả tất nhiên phải nhiệm mầu.
19.           Con chán ghét người ở thế gian
                Buông lung phóng dật, dục tham tràn,
                Người tu khổ hạnh hư danh đó
                Là kẻ dối gian lộ rõ rang.
                Một vị hôn quân thường xử án
                Chẳng hề nghe lý lẽ phân trần,
                Chẳng bao giờ gọi là chân chánh,
                Cơn giận bùng lên ở trí nhân.
20.           Một vị vua xem xét kỹ càng
                Rồi ban lời phán xử công bằng,
                Khi vua cân nhắc lời phân xử,
               Danh tiếng đời đời mãi vọng vang.
21.          Những hình phạt Chúa thượng truyền ban
              Phải được đắn đo thật kỹ càng,
               Những việc làm trong lúc vội vã
               Sẽ gây hối hận lúc thư nhàn,
              Nếu lòng phát nguyện nhiều điều tốt
              Sau chẳng đau buồn hối tiếc mang.
22.         Những người có việc phải thi hành,
              Muốn chẳng gây ân hận với mình
              Thường đắn đo bao điều thận trọng,
             Tạo nên thiện nghiệp thật an lành,
             Làm công đức thỏa lòng hiền thánh,
             Được tán tụng từ bậc trí minh.
23.        Cha thét: “Kìa đao phủ, hãy mau
             Đi tìm vương tử của ta nào,
            Nơi đâu bây kiếm, liền đem giết!”
            Lúc trẻ ngồi bên mẹ dựa đầu,
            Bọn chúng tìm ra con trẻ đó,
            Rồi lôi đi thật bạo tàn sao?
24.       Trẻ thơ non nớt xử như vầy,
            Con thấy chúng tàn nhẫn quá tay,
            Nay thoát cảnh đày thân độc ác,
           Con rời thế, chẳng sống nơi đây.
Khi bậc Đại sĩ đã thuyết giáo như vậy xong, vua phán bảo hoàng hậu:
25.           Vậy vương nhi đó, Sudhamma,
                Vừa thốt lời từ chối lệnh ta,
                Quý tử Soma bao khả ái,
                Vì ta không mãn nguyện bây giờ,
               Đích thân hoàng hậu nên xem thử
               Có chuyển lay lòng trí trẻ thơ.
Song hoàng hậu thúc giục vương tử rời bỏ thế tục:
26.          Hãy vui đời Thánh hạnh, hoàng nam,
               Tuân thủ chánh chân, bỏ cõi phàm,
              Ai giữa quần sinh không độc ác
              Sẽ lên Thiên giới, chẳng sai lầm.
Vua ngâm kệ tiếp theo:
27.        Chuyện lạ này nghe tự ái khanh,
             Sầu đang chất ngất ở trong mình,
              Bảo nàng khuyên nhủ con dừng lại,
             Nàng chỉ giục con phải bước nhanh.
Hoàng hậu lại ngâm kệ nữa:
28.        Có hạng người không đắm dục tham,
             Thoát sầu bi sống chẳng sai lầm,
             Nhiều người đắc Niết-bàn cao thượng,
             Ví thử hoàng nhi muốn dự phần
             Cùng tiến lên con đường Thánh hạnh,
            Thì hoài công cản bước hoàng nam.
Vua ngâm vần kệ cuối cùng để đáp lời:
29.       Quả thật là chân chánh thiện tâm,
            Tôn sùng bậc trí tuệ cao thâm,
            Tâm tư siêu việt thường sinh khởi,
           Ái hậu từng nghe các diệu âm,
           Thông hiểu kiến văn nhiều bậc Thánh,
          Nên không còn khổ não, tham lam.
   Sau đó, bậc Đại sĩ đảnh lễ song thân, xin hai vị tha thứ cho ngài nếu có lỗi lầm gì; rồi vào cung kính vái chào toàn thể hội chúng, ngài quay mặt về hướng Tuyết sơn, Khi dân chúng đã về, ngài cùng với các Thiên thần vừa
/107
 

  Ý kiến bạn đọc


Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây