Tìm kinh sách
 
        Kinh Sách FULL

Kinh Tiểu Bộ 2015- Tập V

Tác giả: Hòa Thượng Thích Minh Châu. Dịch giả: Hòa Thượng Thích Minh Châu. Năm xuất bản: 2007. Số trang: 51.

 

Chương 52:                                   492. CHUYỆN LỢN RỪNG CỦA THỢ MỘC - Phần 10 (trang 361-367)

4.           Hiển nhiên mọi vật được an lành,
             Bạn nguyện từ đây bỏ sát sinh,
             Mắc bẫy thân ta, tuy thế bạn
             Muốn ta được thả để bay nhanh!
Thợ săn tiếp theo:
5.            Khi người từ bỏ sát quần sinh,
               Nhờ nó, muôn loài thoát hãi kinh,
               Phước đức nào đời sau sẽ đến,
              Việc này, khổng tước đáp cho mình.
Công chúa:
6.           Nhờ nó, muôn loài thoát hãi kinh,
              Khi người thề chẳng sát quần sinh,
              Đời này nó được nhiều ca ngợi,
              Thiên giới, đời sau hưởng phước lành.
Thợ săn:
7.            Nhiều người nói chẳng có Thiên thần,
               Cực lạc, đời này có thể mang,
               Sinh quả dữ lành nagy hiện tại,
               Vì nhiều bậc Thánh đã cho rằng:
              Thi ân là việc đầy ngu xuẩn,
               Vì thế tôi thường đánh bẫy săn
               Chim thú, giờ đây tôi muốn hỏi
                Lời kia xứng đáng để tin chăng?
  Lúc ấy, bậc Đạo sư quyết định giảng cho người này biết quả thực có đời sau, nên trong lúc ngài đang nằm lủng lẳng ở cuối sợi dây, đầu lộn ngược xuống đất, ngài ngâm vần kệ:
8.             Đôi vầng nhật nguyệt rõ ràng ràng,
                Đi khắp trời cao tỏa sáng quang,
                Người gọi là gì nơi hạ giới,
                Thuộc về cõi khác hoặc trần gian?
                Người thợ săn ngâm vần kệ đáp lại:
9.             Rõ ràng nhật nguyệt thấy đôi vầng
                Đi khắp trời cao, tỏa ánh quang,
                Chúng chẳng thuộc về nơi hạ giới,
                      Mà về cõi khác, miệng người trần.
Lúc ấy, bậc Đạo sư bảo gã:
10.                Vậy chúng đều sai lạc cả bầy,
                      Những người gian dối nói như vầy,
                      Chẳng vì duyên cớ gì đi nữa
                      Lại bảo chỉ riêng thế giới này
                     Mang nghiệp quả lành hay quả dữ,
                     Còn xem bố thí việc ngu thay!
Trong khi bậc Đạo sĩ nói, người thợ săn suy nghĩ rồi ngâm hai vần kệ:
11.                Điều này Ngài nói quả là chân,
                     Sao có người kia lại bảo rằng:
                     “Bố thí không mang về kết quả?
                       Rằng đây, ngay ở cõi phàm trần.
                      Người ta gặt quả lành hay dữ
                      Bố thí là công việc độn đần?”
12.                 Cách nào nên sống, phải làm gì?
                       Thánh đạo là đâu, phải bước đi?
                      Công chúa, xin ngài cho lão biết
                       Pháp môn khổ hạnh phải hành trì,
                      Cầu mong lão được chim công chúa
                      Cứu khỏi chim vào địa ngục kia!
    Khi nghe vậy, bậc Đạo sư suy nghĩ: “ Nếu ta giải đáp vấn đề này cho gã thì cả thế giới này đối với gã thành ra trống rỗng và hư vọng. Lần này, ta sẽ nói cho gã biết bản chất của các Thánh giả Bà- la- môn chân chính.” Với ý định trên, ngài ngâm hai vần kệ:
13.                   Người truyền khổ hạnh ở trần gian,
                       Chẳng ở nhà đâu đắp áo vàng,
                       Sáng sớm đi ra đường khất thực,
                       Không đi chiều tối, chính hiền nhân.
14.                  Đúng thời thăm các thiện nhân vầy,
                        Bạn sẽ vui lòng, dẫu hỏi ai
                       Giải vấn đề, vì chư vị biết
                      Cõi trên kia với cõi đời này.
  Khi nói như vậy, ngài muốn cho kẻ kia phải biết kinh sợ cảnh giới địa
ngục. Còn người ấy đã đạt đến tri kiến viên mãn của một vị Độc Giác Phật, vì người ấy đã sống đến độ tri kiến sắp thành thục, như búp hoa sen tròn đầy sung mãn đợi chờ các tia nắng chiếu vào. Trong lúc người thợ săn nghe bài thuyết Pháp của ngài, ngay tại chỗ người ấy đang đứng, người ấy hiểu lập tức mọi yếu tố cấu tạo nên các vật hữu hình (tứ đại), thấu sươt cả ba đặc tính căn bản của chúng( vô thường, khổ, vô ngã) và thâm nhập tri kiến của một Độc Giác Phật. Tri kiến trên của vị này cùng với việc giải thoát bậc Đạo sư khỏi cái bẫy kia xảy ra cùng một lúc. Vị Độc Giác Phật, sau khi đã đoạn diệt mọi dục tham của mình, đang đứng trên bờ sinh tử cuối cùng, liền thốt lên cảm thán nguyện trong vần kệ này:
15.          Như rắn lột quăng lớp vỏ tàn,
               Lá khô cây trút lúc xanh dần,
               Hôm nay ta bỏ nghề săn bắn,
               Mãi mãi xa lìa nghiệp thợ săn.
  Sau khi thốt lên ý nguyện cao cả của mình, vị ấy suy nghĩ: “Ta vừa được giải thoát khỏi các dây trói buộc của ác dục, song ở nhà ta còn rất nhiều chim đang bị giam cầm. Vậy làm thế nào ta giải thoát cho chúng đây?” Vì thế, vị ấy hỏi bậc Đạo sư:
  -  Tâu khổng tước Đại vương, ta còn giam cầm nhiều chim tại nhà, làm sao ta giải thoát cho chúng được?
 Lúc bấy giờ, Bồ- tát là bậc toàn tri, có tri kiến tinh thông mọi đường lối và phương tiện hơn cả một vị Độc Giác Phật,  nên ngài bảo:
  -   Khi ngài đã phá vỡ sức chi phối của tham dục và thâm nhập tri kiến của một vị Độc Giác Phật, nhờ lẽ đó ngài hãy tuyên thệ điều chân lý, thì trong toàn cõi Diêm- phù- đề sẽ không còn sinh vật nào bị giam cầm nữa cả.
  Sau đó, vị kia vừa đi vào bằng cánh cửa mà Bồ- tát mở ra như vậy, vừa ngâm vần kệ này tuyên thệ một hành động chân lý:
16.            Tất cả chim nào ta đã giam
                 Trong nhà, ta có đến hàng trăm,
                 Nay ta trả cuộc đời cho chúng
                 Về tổ, bầy chim được thoát nạn.
   Lúc ấy, nhờ hành động thề nguyền chân lý kia, dù đã muộn, tất cả bầy chim cũng được thoát cảnh giam cầm, ríu rít líu lo bay về tổ của mình. Cùng lúc ấy, khắp cõi Diêm- phù- đề, tất cả mọi sinh vật đã bị bắt đều được
thả tự do, không còn con vật nào sót lại trong cảnh giam cầm cả, dù chỉ là con mèo.
    Vị Độc Giác Phật ấy giơ tay lên vừa xoa trán mình, lập tức các dấu vết của dòng họ cũ biến mất và dấu hiệu của bậc tu hành xuất hiện vào chỗ ấy. Lúc bấy giờ, vị này trông giống như một Trưởng lão Tỷ- kheo đã sáu mươi tuổi đắp y đầy đủ, mang tám vật cần thiết (bình bát, ba y, đai lưng, dao cạo, cây kim và cái lọc nước), cung kính đảnh lễ chim công chúa và đi diễu quanh ngài, thân hướng về phía hữu, rồi bay vụt lên không gian đến tận một hang động trên đỉnh núi Nanda. Chúa chim công cũng bay ra khỏi cái bẫy, kiếm mồi và trở về chốn ở của mình.
                                                                 *
     Vần kệ cuối cùng do bậc Đạo sư ngâm, kể chuyện suốt trong bảy năm trời người thợ săn quanh quẩn với chiếc bẫy trong tay, và sau đó được giải thoát khỏi khổ đau nhờ chim công chúa như thế nào:
17.                Thợ săn xuyên suốt khắp rừng cây
                     Tìm kiếm chúa công, bẫy dưới tay,
                     Đã giải thoát đau cho khổng tước
                     Khi vừa bị bắt, giống ta đây.
                                                                *
    Sau khi chấm dứt Pháp thoại này, bậc Đạo sư tuyên thuyết các Sự thật, vị Tỷ- kheo thối thất kia đã đắc Thánh quả (A- la- hán).
   Rồi Ngài nhận diện tiền thân:
  -  Vào thời ấy, Ta là chim công chúa kia.
                                  492. CHUYỆN LỢN RỪNG CỦA THỢ MỘC
                                              ( TIỀN THÂN TACCHASŪKARA)
  Lang thang tìm kiếm khắp xa gần...
  Chuyện này bậc Đạo sư kể trong lúc trú tại Kỳ Viên về hai Trưởng lão.
 Người ta đồn rằng khi vua Mahā Kosala ( Đại vương xứ Kiều- tát- la) gả con gái cho vua Bimbisāra (Tần- bà- sa), ngài đã chia phần nàng một ngôi làng ở Kāsi để nàng lấy tiền mua dầu thơm tắm gội. Sau khi vua Ajātasattu (A- xà- thế) sát hại vua cha( Tần- bà- sa), thì vua Pasenadi( Ba- tư- nặc), con của vua Mahā Kosala phá hủy ngôi làng ấy. Trong các trận chiến xảy ra giữa hai nước về chuyện này, ban đầu chiến thắng thuộc về Ajātasattu (A- xà- thế). Còn vua Kosala thua trận liền hỏi các vị quân sư:
 - Ta lập mưu gì để bắt A-xà- thế được chăng?
 Các vị ấy đáp:
 -  Tâu Đại vương, Tăng chúng có đại tài về thần chú. Hãy phái sứ giả đến hỏi ý kiến của Tăng chúng tại tinh xá.
Vua đồng ý việc này. Vì thế, vua truyền quân hầu tới bảo họ đi đến đó, ẩn mình ở nơi kín, để nghe lóm câu chuyện giữa Tăng chúng.
 Bấy giờ, tại Kỳ Viên, có một số đại thần của nhiều vua chúa đã từ giã thế tục xuất gia. Hai người trong đám ấy là hai Trưởng lão, sống trong một thảo am ở bên ngoài tinh xá, một vị tên là Trưởng lão Dhanuggahatissa, vị kia là Trưởng lão Mantidatta. Hai vị đã ngủ suốt đêm và thức dậy khi vừng đông vừa hé.
 Trưởng lão Dhanuggahatissa bảo, trong khi nhóm lửa:
 -  Thưa Hiền giả Tỷ- kheo Datta.
 -  Thưa vâng, Hiền giả bảo gì?
 - Hiền giả đang ngủ chăng?
 -  Thưa không, tôi không ngủ. Ta phải làm gì bây giờ?
 - Này, vua Kosala thật là một kẻ ngu ngốc bẩm sinh, vua ấy chỉ biết một chuyện là ăn cả đống thức ăn tạp nhạp.
-   Thưa Hiền giả muốn nói gì thế?
-   Vua ấy đã để cho vua Ajātasattu đánh bại,mà Ajātasattu có hơn gì con giun trong bụng vua ấy đã chứ?
-   Vậy thì vua ấy phải làm gì đây?
-   Này Trưởng lão Datta, Hiền giả phải biết có ba cách bày binh bố trận: bày binh hình Chiếc xe, bày binh hình Bánh xe,và bày binh hình Hoa sen. Chính là cách bày binh hình Chiếc xe ấy, vua kia phải sử dụng để bắt Ajātasattu. Vua ấy phải bố trí các dũng sĩ hai bên cạnh mình trên đỉnh đồi, rồi dàn đạo binh chính yếu ra trước mặt trận. Một khi vua kia lọt vào giữa rồi và vừa nhảy ra vừa hét lớn, thì họ bắt ngay vua kia như cá nằm trong giỏ. Đó là cách bắt Ajātasattu đấy.
Cả đám sứ giả này nghe hết mọi chuyện đó và trở về tâu trình với vua mình, vua lập tức đem một đạo quân lớn ra, bắt được Ajātasattu làm tù binh và trói lại bằng các dây xiềng xích. Sau khi trừng phạt như vậy vài ngày, vua này thả vua kia ra, khuyên không nên làm chuyện như trước nữa; và để an ủi vua Ajātasattu, vua lại đem chính con gái mình là công chúa Vajrā gả cho vua Ajātasattu rồi tiễn đưa về nước rất trọng thể.
  Giữa Tăng chúng có lời bàn tán chuyện này rất nhiều:
  -  Ajātasattu đã bị vua Kosala bắt sống theo lời chỉ dẫn của Trưởng lão Dhanuggahatissa.
  Tăng chúng cũng đàm luận việc này tại Chánh pháp đường và khi bậc Đạo sư đi vào, Ngài hỏi Tăng chúng đang nói chuyện gì. Tăng chúng trình với Ngài. Sau đó, Ngài bảo:
 -  Này các Tỷ- kheo, đây không phải là lần đầu Dhanuggahatissa biểu lộ tài nghệ về chiến lược đâu.
 Và Ngài kể một chuyện quá khứ.
                                                                      *
    Một thuở nọ, có một người thợ mộc sống trong ngôi làng gần cổng thành Ba- la- nại, đi vào rừng đốn củi. Ông tìm được một con lợn rừng đực rớt xuống hồ, liền đem về nhà nuôi nấng và đặt tên là Lợn rừng của thợ mộc. Con lợn rừng trở thành tên đầy tớ của ông. Nó nhổ bật cây cối lên bằng chiếc mõm và đem về nhà cho ông; nó buộc cái dây đo đạc quanh mũi nó và kéo lê đi, rồi tìm thấy cái rìu, cái đục, cái vồ ngậm trong miệng.
      Khi lợn rừng khôn lớn, nó thành một con vật lực lưỡng dị thường, người thợ mộc thương yêu nó như con ruột của mình, và sợ có ai đó làm hại nó, nên thả nó vào rừng. Con lợn rừng suy nghĩ: “Ta không thể sống một mình bơ vơ trong rừng này. Nếu ta kiếm bà con và ở với chúng chẳng hay lắm sao?” Vì thế, nó tìm bầy lợn khắp rừng cây, cho đến khi gặp được cả đàn, nó rất vui mừng, liền ngâm ba vần kệ:
 1.           Lang thang tìm kiếm khắp xa gần,
              Đồi núi chung quanh, các khóm rừng,
              Thơ thẩn ta đi tìm quyến thuộc,
              Kìa, ta tìm thấy đám thân bằng!
2.           Đây, củ quả rừng phong phú sao
              Với kho thực phẩm thật dồi dào,
              Núi đồi khe suối xinh tươi quá,
              Sống ở đây đời đẹp biết bao!
3.           Ta sống đây toàn quyến thuộc thân,
             Hưởng thư nhàn, chẳng phải băn khoăn,
             Cũng không lo lắng và kinh hãi,
             Dù chuyện gì do phía địch quân.
  Bầy lợn rừng kia nghe vần kệ này liền đáp lời qua vần kệ thứ tư:
4.           Cừu địch là đây, ở chốn nào
              Xin tìm đường lối ẩn thân vào
             Nó thường giết hại, này Thợ mộc,
             Lợn đẹp nhất đàn, loại tối cao!
Hỏi:
5.           Kẻ thù các bạn ấy đâu đây?
              Nói thật cho ta, hạnh ngộ thay,
              Kẻ giết họ hàng, ai đó vậy?
              Dù là chưa giết trọn luôn bầy.
Đáp:
6.           Đó chính là vua của thú rừng,
              Với răng để cắn, sọc đen vằn,
             Ấy là mãnh thú oai hùng quá,
             Thường giết lợn ưu tú nhất đàn.
Hỏi:
/107
 

  Ý kiến bạn đọc


Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây