Tác giả: Hòa Thượng Thích Minh Châu. Dịch giả: Hòa Thượng Thích Minh Châu. Năm xuất bản: 2007. Số trang: 51.
Ý kiến bạn đọc
Thời ấy, tương truyền rằng, trong khoảng chừng một dặm vuông ấy không bao giờ có một ngọn cỏ mọc, dù chỉ bằng một sợi lông nhỏ; mặt đất như thể cát mịn, bốn bề là thảo mộc; cát đằng và đại thọ chẳng khác nào chúa tể sơn lâm sừng sững như đang chiêm ngưỡng, đầu quay mặt về hướng bảo tọa Bồ-đề. Khi vị Bà-la-môn Tế sư quan sát chỗ này, lại suy nghĩ: “Đây là nơi chư Phật đã đoạn tất cả mọi dục tham của trần thế nên không ai có thể vượt qua được, dù cho đó chính là Sakka (Đế-thích) Thiên chủ đi nữa.”
Và tiến về phía đức vua, vị Tế sư tâu với ngài các đặc tính của địa phận quanh cây Bồ-đề, cùng thỉnh cầu Thánh vương ngự xuống voi.
Để giải thích vấn đề này, bậc Đạo sư ngâm các vần kệ sau:
2. Vị Tế sư tâu với Thánh vương,
Là con nhà khổ hạnh hiền nhơn,
Khi ngài chuyển vận Xa luân báu,
Đảnh lễ ngài xong, hướng dẫn đường.
3. “Đây các thi nhân vẫn tán dương,
Xin ngài ngự xuống, tấu Hùng vương,
Nơi đây chư Phật-đà vô thượng
Chánh Giác viên thành tỏa ánh quang.
4. Tương truyền rằng ở chốn phàm trần,
Đây chính là linh địa thánh thần,
Thảo mộc, cát đằng, cùng đại thọ
Đứng quanh trong dáng điệu tôn sùng.
5. Xuống đây, xin đảnh lễ trang nghiêm,
Vì đến miền xa tận hải biên,
Trên đại địa cầu nuôi vạn vật,
Nơi này là đất thánh thiêng liêng.
6. Đại vương đầy đủ mọi loài voi
Thuần chủng nhờ cha mẹ tốt đôi,
Ngự giá đến đây, voi vẫn muốn,
7. Ngự trên mình bảo tượng thuần nòi,
Thánh ý tùy nghi, cứ thúc voi,
Song chẳng cách nào voi bước nữa,
Đến đây,voi phải đứng yên thôi.”
8 . Vua nghe lời nói vị tìên tri,
Vừa phán truyền cho bảo tượng đi,
Vừa thúc gậy sâu vào bảo tượng:
“Nếu vầy, ta sẽ thấy liền khi.”
9. Bị thúc, voi kêu thét tựa kèn,
Như còi lanh lảnh, hạc vang rền,
Chuyển rung, liền ngã vì hùng lực
Đè nặng sườn, không thể đứng lên.
Vì cứ bị đức vua thúc mãi, voi không thể nào chịu được cơn đau đớn, nên phải chết ngay. Song đức vua không biết là voi đã chết, cứ điềm nhiên ngự trên lưng voi. Một lát sau, Tế sư Kāliṅgabhāradvāja nói:
- Tâu Thánh thượng, Vương tượng đã chết rồi, xin Thánh thượng ngự qua voi khác.
Bậc Đạo sư ngâm vần kệ thứ mười để giải thích việc này:
10. Quốc sư lo sợ lúc nhìn voi
Đã chết, lòng kinh động thốt lời:
“Xin tìm voi khác, tâu Hoàng thượng,
Bảo tượng ngài nay bỏ mạng rồi.”
Nhờ công đức và thần lực của vị Thánh vương, một con voi khác thuộc chủng loại Uposatha xuất hiện trước đức vua và đưa lưng ra mời. Vua ngự trên lưng nó. Lúc ấy, thi thể vương tượng kia liền ngã xuống đất.
Bậc Đạo sư ngâm vần kệ để giải thích việc này:
11. Vua hãi kinh nghe tấu việc này,
Ngự lên voi khác, bỗng liền ngay,
Thi hài bảo tượng kia nhào xuống,
Lời thật tiên tri đã hiển bày.
Lập tức vua ngự xuống từ trên không gian, và chiêm ngưỡng vùng đất quanh cây Bồ-đề. Trước việc thần kỳ kia vừa thị hiện xong, đức vua tán thán vị tế sư Bhāradvāja qua vần kệ:
Đại đế Kāliṅga bảo: “Thực tình
Mọi việc khanh am tường thấu suốt,
Hiền khanh thấy tất cả duyên sinh.”
Bấy giờ, vị Bà-la-môn kia không muốn nhận lời tán thán trên, mà vẫn giữ nguyên vị trí khiêm tốn của mình, ông tán thán công đức chư Phật và ca tụng các Ngài hết lời.
Bậc Đạo sư lại ngâm kệ để giải thích vấn đề:
13. Quốc sư từ chối sự tuyên dương
Và tấu như vầy với Thánh vương:
“Thần chỉ biết điềm tướng triệu,
Còn chư Phật giác ngộ hoàn toàn.
14. Phật-đà tri kiến đạt toàn chân,
Điềm triệu, các Ngài chẳng chú tâm,
Chư Phật toàn tri nhờ tuệ quán,
Thần là học giả chẳng uyên thâm.”
Vua nghe nói về công đức của chư Phật nên lòng đầy hoan hỷ, liền ban lệnh cho mọi người trần thế đem thật nhiều vòng hoa thơm đến cúng dường vùng đất quanh linh thọ Bồ-đề suốt bảy ngày đêm liền.
Bậc Đạo sư ngâm đôi vần kệ để giải thích việc này:
15. Thánh thọ Bồ-đề, chúa cúng dường,
Với bao âm nhạc thật du dương,
Các vòng hoa đẹp thơm ngào ngạt,
Ngài lại xây quanh một bức tường.
16. Thế rồi Thánh đế ngự ra về,
Mang đến hoa đầy sáu vạn xe,
Làm lễ cúng dường, vì Đại đế
Kāliṅga sùng Thánh địa Bồ-đề.
Sau khi đã làm lễ cúng dường trọng thể Đại thọ Bồ-tát như trên, đức vua thăm song thân, rồi rước hai vị về thành Dantapura sống cùng ngài. Tại đấy, ngài chuyên bố thí và làm các phận sự khác, cho đến khi mạng chung ngài được tái sinh vào cõi Trời Ba mươi ba.
*
- Này các Tỷ-kheo, đây không phải là lần đầu tiên Ānanda làm lễ cúng dường cây Bồ-đề, mà ngày xưa cũng vậy.
Rồi Ngài nhận diện tiền thân:
- Vào thời ấy, Ānanda là vua Kāliṅga và Ta chính là vị quốc sư Kālingabhāradvāja.
(TIỀN THÂN AKITTI)
Sakka, Chúa tể giữa quần sinh...
Chuyện này bậc Đạo sư kể trong khi trú tại Kỳ Viên về một đại thí chủ rất rộng lượng sống ở Xá-vệ.
Chuyện kể rằng, người này mời bậc Đạo sư đến nhà và suốt bảy ngày đã cúng dường rất nhiều thí vật cho Tăng chúng đi theo Ngài. Vào ngày cuối cùng lại cúng dường Thánh chúng đủ các vật dụng cần thiết, sau đó bậc Đạo sư nói lời tùy hỷ với ông:
- Này nam cư sĩ, công đức bố thí của ông thật là rộng lớn, ông đã thực hành một việc khó lắm thay. Bố thí là tục lệ của bậc hiền trí ngày xưa, thí vật phải được phân phát dù người còn tại gia hay xuất gia. Các bậc trí giả ngày xưa, ngay khi đã rời thế tục vào ở trong rừng, khi chỉ ăn lá Kara rảy nước mà không có thứ gia vị nào cả cũng vẫn đem cho đám khất thực đi qua đó để đáp ứng nhu cầu của các vị ấy và vẫn an trú trong hỷ lạc của bản thân mình.
Gia chủ kia đáp:
- Bạch Thế Tôn, việc cúng dường mọi vật dụng cần thiết ấy cho Tăng chúng thật rõ ràng, dễ hiểu. Song lời dạy của Thế Tôn chưa được rõ. Xin Thế Tôn giải thích cho chúng con.
Rồi theo lời thỉnh cầu trên, Ngài kể một chuyện quá khứ.
*
Một thuở nọ, khi vua Brahmadatta trị vì tại Ba-la-nại, Bồ-tát được sinh trong một gia đình đại phú Bà-la-môn, có tài sản lên tới tám trăm triệu. Ngài được đặt tên là Akitti. Khi ngài vừa biết đi, thì một bé gái lại ra đời với tên Yasavatī.
Lúc mười sáu tuổi, bậc Đại sĩ đi vào thành Ba-la-nại học tập cho đến lúc thành đạt rồi ra về. Sau đó, cha mẹ ngài qua đời. Khi ngài cử hành tang
- Hiền muội, hãy trông nom kho báu này.
- Ý hiền huynh là thế nào?
Ngài đáp:
- Ta muốn làm người tu khổ hạnh.
Nàng đáp:
- Này hiền huynh, tiểu muội không muốn đội lên đầu những thứ mà hiền huynh đã nhổ ra khỏi miệng; tiểu muội chẳng muốn thứ gì cả, mà cũng muốn sống đời khổ hạnh thôi.
Rồi sau khi xin phép vua, ngài bảo đánh trống vang dội kháp kinh thành, bố cáo cho mọi người rõ:
- Toàn dân lắng nghe này: “Ai muốn có tiền bạc cứ đến nhà hiền nhân kia!”
Suốt bảy ngày, ngài phân phát những kho tài sản lớn, tuy thế kho báu vẫn chưa hết, ngài lại nghĩ thầm: “Tứ đại trong thân ta đang tan rã, ta còn muốn cái trò phân phát tài sản này nữa sao? Thôi, ai muốn lấy cứ lấy đi.”
Thế là ngài từ giã ngôi nhà đầy châu báu, giữa các gia nhân thân quyến khóc lóc xung quanh, ngài cùng em gái ra đi. Và cái cổng thành Ba- la-nại nơi các ngài đi qua được gọi là cổng Akitti, còn bến đò các ngài bước xuống bến sông cũng được đặt tên là bến đò Akitti nữa.
Các ngài băng qua ba dặm đường, đến một nơi mát mẻ dễ chịu thì dựng lên một am lá và cùng em gái ngài sống như người tu khổ hạnh. Sau thời gian từ bỏ thế tục, nhiều người khác cũng làm như vậy, dân ở thôn quê, thị trấn, hoặc ở kinh thành đầy đủ cả. Hội chúng thật đông đảo, các vị ấy nhận được nhiều vật cúng dường cùng sự tôn trọng sùng kính chẳng khác nào thời có một đức Phật xuất hiện ở đời. Lúc ấy, bậc Đại sĩ thầm nghĩ: “Ở đây thật nhiều vinh quang trọng vọng cùng với vô số thí vật và hội chúng đông đảo, song ta phải độc cư.”
Lúc bấy giờ, em gái ngài đi tìm anh, dần dần đến tận vương quốc Damiḷa, vẫn không gặp ngài, nàng lại ở ngay chính nơi ngài đã ở, song nàng không thể phát khởi thiền định.
Còn bậc Đại sĩ sống thiểu dục đến độ ngài không đi đâu cả, mà cứ vào mùa có trái cây chín, ngài chỉ sống bằng trái cây đó, còn vào mùa lá trổ bông thì ngài ăn lá đó luộc với ít nước lã. Nhờ ngọn lửa công đức của ngài mà chiếc ngai báu bằng cẩm thạch của Sakka (Đế-thích) Thiên chủ nóng rực lên. Thiên chủ nghĩ: “Ai đã khiến ta phải bước xuống khỏi chiếc ngai ta đang ngự?” Ngài nhận xét và thấy, bậc hiền nhân này, ngài nghĩ thầm: “Tại cớ gì vị tu khổ hạnh đằng kia hộ trì công đức? Có phải vị ấy muốn lên ngôi Thiên chủ chăng, hay vì một duyên cớ nào khác?, Ta muốn thử vị ấy xem. Vị ấy sống rất khổ cực, chỉ ăn lá Kāra luộc, với nước thôi. Nếu vị đó ước muốn làm Thiên chủ, vị ấy sẽ nhường cho ta mớ lá cây luộc với nước của mình, còn nếu không thì vị ấy sẽ không đưa.” Sau đó, Thiên chủ giả dạng một Bà-la-môn, đến gặp Bồ-tát.
Bồ-tát đang ngồi ở cửa thảo am, sau khi luộc lá và đem xuống, ngài nghĩ: “Khi nào nguội xong ta sẽ ăn.” Vào lúc ấy, Sakka Thiên chủ đứng trước mặt ngài và xin bố thí. Khi Bồ-tát nhìn thấy Thiên chủ, lòng rất hoan hỷ: ‘‘Thật là một niềm hạnh phúc cho ta,” ngài nghĩ thầm, “ta thấy một vị khất thực, hôm nay ta sẽ đạt đựợc tâm nguyện và ta sẽ bố thí.”
Lúc món ăn đã sẵn sàng, ngài liền múc vào bát ngài và vừa tiến về phía Thiên chủ, vừa nói:
- Đây là vật cúng dường của ta, ước mong rằng đây là phương tiện để ta đạt Chánh Giác tối thượng.
Rồi chẳng để lại chút gì cho mình, ngài đặt hết thức ăn vào bình bát